|
|
Tà
tâm nơi tội nhân đối nghịch với lòng lành Thiên Chúa
(Thánh
Vịnh 35 [36], Kinh Ban Mai, Ngày Thứ Tư, Tuần Thứ Nhất)
1. Có
hai thái độ cốt yếu mà mọi người
có thể tỏ ra mỗi khi bắt đầu
làm việc một ngày và giao tiếp với nhau,
đó là chúng ta có thể chọn sự thiện
hay theo sự ác. Thánh Vịnh 35 (36) chúng ta vừa
nghe phác ra hai cái nhìn đối nghịch nhau. Trong
lúc có người âm mưu gian ác trên ''giường
ngủ'' khi gần chỗi dậy; thì ngược
lại cũng có người chính trực tìm kiếm
ánh sáng của Thiên Chúa, ''nguồn mạch của
tất cả mọi sự sống'' (câu 10). Vực
thẳm của lòng lành Thiên Chúa, một nguồn
suối sinh động làm giãn cơn khát của
chúng ta và là ánh sáng soi chiếu cõi lòng của chúng
ta, ngược lại với vực thẳm
tà tâm nơi kẻ tội lỗi.
Có
hai loại người được kể
đến trong lời cầu của bài Thánh Vịnh
vừa đọc, bài Thánh Vịnh cho Phụng
Vụ Giờ Kinh Ban Mai của Ngày Thứ Tư
trong Tuần Thứ Nhất.
2. Hình
ảnh thứ nhất được tác giả
Thánh Vịnh cho thấy là hình ảnh của tội
nhân (x các câu 2-5). Theo nguyên ngữ Do Thái thì ''việc
vấp phạm nhủ cùng tội nhân trong đáy
lòng họ'', vì nơi lòng của họ có ''tiếng
nói của tội lỗi'' (câu 2). Ðây là lời
diễn tả mạnh mẽ. Nó khiến chúng
ta nghĩ là lời của Satan, đối nghịch
với lời thần linh, vang vọng trong tâm
hồn cũng như nơi ngôn từ của
tội nhân.
Sự
dữ như thể được bẩm sinh
nơi họ, cho đến nỗi nó thoát ra qua
lời nói và việc làm (x các câu 3-4). Ngày ngày họ
sống bằng việc chọn theo ''những
đường lối gian ác'', ngay từ tảng
sáng khi họ còn ''ở trên giường ngủ
của mình'' (câu 5), cho đến tối là lúc
họ cảm thấy buồn ngủ. Việc
họ liên lỉ chọn lựa này phát xuất
từ việc chọn lựa liên quan đến
cả cuộc đời của họ và là việc
chọn lựa sinh ra chết chóc.
3. Tuy
nhiên, tác giả Thánh Vịnh hoàn toàn muốn hướng
đến một hình ảnh khác là hình ảnh
tác giả muốn làm nổi bật lên, đó
là hình ảnh của một con người tìm
kiếm dung nhan Thiên Chúa (x các câu 6-13). Họ dâng
lời ca tiếng hát chân thành xứng hợp chúc
tụng tình yêu thần linh (x các câu 6-11), một
tình yêu họ theo cho đến cùng, bằng một
lời nguyện cầu khiêm cung được
thốt lên từ vùng mê hoặc tối tăm
của sự dữ và là một lời cầu
được vĩnh viễn chiếu soi bởi
ánh sáng của ân sủng. Lời nguyện cầu
này phát lên một kinh cầu thực sự thích
hợp nói lên hình ảnh của một Thiên Chúa
tình yêu với những từ ngữ như ân
sủng, lòng trung thành, đức công minh, việc
phán quyết, ơn cứu độ, bóng bao che,
sự viên mãn, nỗi hân hoan và sự sống.
Nó đặc biệt nhấn mạnh đến
bốn đặc tính thần linh; những đặc
tính này, được diễn tả theo ngôn từ
Do Thái, có một giá trị sâu xa hơn là được
cảm nhận theo các thứ ngôn từ chúng ta
dùng theo ngôn ngữ tân thời.
4. Trước
hết là từ hésel, tức ''ân sủng'', một
từ ngữ đồng thời cũng là lòng
trung thành, tình yêu thương, đức tín trung
và nỗi dịu dàng. Từ này là một trong những
hình thức căn bản để diễn tả
cho thấy giao ước giữa Chúa và dân của
Ngài. Cần phải biết là từ này xuất
hiện tất cả 127 lần trong Thánh Vịnh,
hơn nửa số lần trong cả Cựu
Ước. Rồi tới từ emumáh, phát xuất
từ nguyên tự amen, ngôn từ của đức
tin, có nghĩa là vững vàng, an toàn, trung thành vô
điều kiện. Ðến từ Sedeqáh, tức
''đức công minh'', một đức công minh
mang ý nghĩa cứu độ: đức công
minh này là thái độ thánh hảo và quan phòng của
Thiên Chúa, Ðấng giải thoát kẻ tín nghĩa
khỏi sự dữ và bất công bằng việc
can thiệp vào lịch sử của mình. Sau hết
chúng ta thấy từ mishpát, tức ''việc phán
quyết'' là việc Thiên Chúa tỏ ra cho thấy
Ngài cai quản tạo vật của Ngài, khi Ngài
chăm sóc kẻ bần cùng và thành phần bị
đàn áp, cũng như khi Ngài triệt hạ
thành phần hung tàn và thành phần hống hách.
Bốn
từ ngữ về thần học này là những
từ ngữ mà con người cầu nguyện
lập lại nơi việc tuyên xưng đức
tin của họ, khi họ đặt chân bước
vào những nẻo đường đời,
bằng một niềm tin tưởng luôn có bên
mình một Vị Thiên Chúa yêu thương, thủy
chung, chính trực và cứu độ.
5. Ðối với những danh hiệu khác
nhau chúng ta sử dụng để tôn tụng
Thiên Chúa, tác giả Thánh Vịnh thêm vào hai hình ảnh
nổi nang nữa. Một đàng là hình ảnh
dồi dào thực phẩm, hình ảnh khiến
cho chúng ta trước hết nghĩ đến
bữa tiệc thánh, một bữa tiệc được
cử hành ở đền thờ Sion với
thịt của các vật hy tế. Cũng có các
hình ảnh về suối nguồn và thủy triều
với những giòng nước làm giãn cơn
khát chẳng những nơi cổ họng khô
ran mà còn cả linh hồn nữa (xem các câu 9-10;
Thánh Vịnh 41: 2-3; 62: 2-6). Chúa làm tươi mới
và thỏa mãn con người cầu nguyện,
làm cho họ thông phần vào tầm vóc viên mãn của
sự sống trường sinh bất tử.
Biểu hiệu ánh sáng cho chúng ta thấy một
hình ảnh khác, đó là ''trong ánh sáng của Chúa
chúng con thấy được chính ánh sáng'' (câu
10). Nó là một hào quang chiếu tỏa như
thể ''một thác nước'' và như là một
dấu hiệu Thiên Chúa tỏ vinh quang của
Ngài ra cho kẻ tín nghĩa. Ðó là những gì đã
xẩy ra cho Moisen trên Núi Sinai (x Ex. 34:29-30), cũng
như nó đang xẩy ra cho Kitô hữu ở
mức độ là ''(chúng ta) đang được
biến đổi theo cùng một hình ảnh nơi
dung nhan hiện lộ phản ánh vinh hiển của
Chúa'' (2Cor 3:18).
Theo
ngôn ngữ của các bài Thánh Vịnh, ''thấy
ánh sáng dung nhan Thiên Chúa'' một cách cụ thể
nghĩa là được gặp gỡ Chúa trong
đền thờ, bất cứ khi nào cử
hành phụng nguyện và công bố lời Chúa.
Kitô hữu cũng chia sẻ cùng một cảm
nghiệm này khi họ cử hành việc chúc tụng
Chúa vào lúc bắt đầu ngày sống, trước
khi họ lên đường chạm trán với
những thách đố của cuộc sống
thường ngày là cuộc sống không phải
bao giờ cũng bình lặng.
(L'Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, ngày
29/8/2001)
|
|