| |
NGÀY 28 THÁNG GIÊNG
THÁNH THOMAS AQUINAS TIẾN SĨ HỘI THÁNH
Lễ Nhớ
Thánh
Thomas Aquinas (1224-1274) học tập tại tu viện Monte Cassino và
đại học Naples. Vào năm 1244, ngài gia nhập dòng thánh Đaminh.
Thánh Thomas được coi là một trong những triết gia và thần học
gia vĩ đại nhất của mọi thời đại, và được tặng tước hiệu ‘Tiến
Sĩ Thiên Thần.’ Thánh nhân am tường khoa thần học kinh viện và
có một đời sống thánh thiện sâu xa. Đức Lêô XIII đã nhận ngài
làm bổn mạng các trường học Công Giáo. Khi thánh nhân qua đời,
bộ Tổng Luận Thần Học (Summa Theologiae) là tác phẩm bất hủ của
ngài vẫn chưa hoàn tất.
14.1
Con đường đến với Chúa: lòng đạo đức và giáo lý.
Khôn ngoan sẽ nâng nó lên trên các bạn đồng trang, khôn ngoan
sẽ mở miệng nó giữa công hội.1
Khi còn là một sinh viên trẻ tại tu viện Monte Cassino, Thomas
thường hay nêu một câu hỏi cho giáo sư: Thiên Chúa là ai? Xin
giải thích cho con biết Thiên Chúa là Đấng nào? Sau cùng, thánh
nhân đã luận ra: việc hiểu biết Thiên Chúa đòi hỏi rất nhiều,
không thể chỉ tìm hiểu qua các giáo sư và sách vở. Việc hiểu biết
Thiên Chúa yêu sách một nỗ lực tinh thần, vượt hơn mọi điều khác.
Linh hồn cầu nguyện phải kiếm tìm Thiên Chúa bằng một con tim
trong sạch và khiêm nhượng. Chúng ta thấy cuộc đời thánh Thomas
là một điển hình tuyệt vời về sự hòa hợp giữa đức tin và lý trí.
Thánh nhân luôn xin ơn hướng dẫn của Chúa Thánh Thần trước khi
bắt đầu giảng dạy và viết lách. Khi trình bày về bí tích Thánh
Thể, thánh nhân đã cầu nguyện nhiều giờ trước nhà tạm.
Với một trí năng kiệt xuất, thánh Thomas đã biên soạn một tác
phẩm thần học kỳ công nhất mọi thời đại. Cuộc đời ngắn ngủi của
ngài là một cuộc hăng say tìm tòi để nhận thức về Thiên Chúa,
con người, và vạn vật. Nhờ vốn kiến thức uyên thâm về triết học
cổ điển và các giáo phụ, thánh Thomas đã thực hiện được bản tổng
hợp hài hòa tuyệt vời giữa đức tin và lý trí. Trong các thế kỷ
về sau, Giáo Hội nhiều lần đã tôn vinh thánh Thomas như mẫu gương
về lòng trung thành với Huấn Quyền và những khát vọng cao cả nhất
của lý trí và tâm hồn con người.
Thánh Thomas là một tấm gương về lòng khiêm nhượng và ý hướng
ngay chính trong công việc chuyên môn. Một ngày nọ, đang lúc cầu
nguyện, thánh nhân bỗng nghe những lời phát ra từ tượng Chúa Chịu
Nạn: Hỡi Thomas, con đã viết rất hay về Cha. Con muốn Cha ban
thưởng gì cho công việc của con? Thánh nhân đáp lại: Lạy Chúa,
con không muốn gì khác ngoài một mình Chúa.2 Ở đây, chúng ta lại
nhìn thấy sự khôn ngoan và thánh thiện của ngài.
Mặc dù có một tài năng và khôn ngoan kiệt xuất, nhưng thánh Thomas
vẫn ý thức về các nỗ lực nhỏ mọn của mình nếu sánh với sự cao
sang vô cùng của Thiên Chúa. Một ngày nọ, sau khi dâng lễ, thánh
nhân đã quyết định bỏ dở tác phẩm để đời của ngài, bộ Tổng Luận
Thần Học. Khi được hỏi vì sao lại quyết định như thế, thánh nhân
đã giải thích: Sau những gì Chúa tỏ cho tôi vào ngày lễ thánh
Nicholas, dường như tất cả những gì tôi đã viết đều vô giá trị.
Vì thế, tôi không thể viết thêm gì nữa.3 Thiên Chúa luôn vượt
trên bất cứ những gì trí khôn và tâm hồn con người có thể nghĩ
ra.
Thánh Tiến Sĩ Thiên Thần đã dạy chúng ta hãy luôn luôn tìm Chúa:
bằng trí năng, với sự trợ giúp của một sự huấn luyện thiêng liêng
sâu xa, với một đời sống nhiều tình yêu và cầu nguyện.4
14.2
Uy tín tác phẩm của thánh Thomas. Nhu cầu huấn luyện.
Huấn quyền Giáo Hội nhiều lần đã khuyến dụ các tín hữu hãy coi
thánh Thomas như vị hướng dẫn trong việc nghiên cứu triết học
và thần học. Giáo Hội coi các giáo huấn của thánh nhân như của
chính mình, vì đó là tổng hợp tốt nhất về các vấn đề chân lý mặc
khải, các bản văn giáo phụ, và những đòi hỏi của lý trí.5 Công
đồng Vatican II khuyến khích các tín hữu hãy tìm hiểu sâu xa về
các mầu nhiệm đức tin, và nhận thánh Thomas làm thầy dạy.6 Các
tác phẩm của thánh Thomas như những ngọn đèn chiếu sáng cho các
vấn đề quan trọng nhất trong triết học, giúp chúng ta hiểu biết
hơn về đức tin giữa thế giới ngày nay.7
Ngày lễ kính thánh Thomas thúc bách chúng ta cầu nguyện để hiểu
biết về nhu cầu phải học hiểu giáo lý và tôn giáo một cách vững
chắc. Việc học hiểu này là trợ lực không thể thiếu cho đời sống
đức tin. Nhờ việc học hỏi và suy ngắm những điểm chính yếu của
giáo huấn Công Giáo, chúng ta sẽ có thể đương đầu với cuồng sóng
vô tri về tôn giáo đang làm nhức nhối cho xã hội chúng ta. Với
một vốn hiểu biết về giáo lý, chúng ta sẽ không sống chao đảo
theo cảm tình và tính khí. Chúng ta có thể đạt được sự học hiểu
này, bằng việc hãy khởi sự nghiên cứu một quyển giáo lý.
Thời đại hiện nay tràn ngập những lầm lạc và hỗn loạn, có thể
nói việc học giáo lý đang trở nên hết sức thiết yếu. Chúng ta
phải kêu lên rằng: Tôi tin tất cả những gì Thiên Chúa đã mặc khải
cho tôi. Chúng ta cần phải thăng tiến trong sự hiểu biết về các
chân lý đức tin. Thánh nữ Têrêxa Avila thường nói, Ai hiểu biết
Thiên Chúa, sẽ làm tốt công việc của mình hơn.8 Một nhà thần học
đương đại trình bày lý luận này như sau: Không biết bao nhiêu
lần tôi đã được một ông cụ Ái nhĩ lan kia cho biết, kinh Mân Côi
của ông ấy thánh thiện hơn tất cả vốn liếng học hành của tôi.
Tôi cũng vững tin như vậy. Và tôi hy vọng ông ấy nói đúng. Nhưng
nếu chỉ dựa vào lý do độc nhất là ông ấy biết ít thần học hơn
tôi, thì rõ ràng điều ấy không thuyết phục được ông ấy cũng như
tôi. Chứng cứ ấy không thuyết phục ông ấy, bởi vì tất cả những
cụ già Ái nhĩ lan yêu mến kinh Mân Côi, yêu mến nhà thờ (mà tôi
được biết, và tổ tiên của tôi có rất nhiều người như thế) rất
khao khát học hỏi về đức tin. Chứng cứ ấy cũng không thuyết phục
được tôi, bởi vì một người dốt rõ ràng vẫn có thể là một người
nhân đức, thì sự dốt nát rõ ràng không phải là một nhân đức cũng
như vậy; những vị tử đạo chưa chắc đã trình bày giáo lý Giáo Hội
một cách mạch lạc và chính xác, và phúc tử đạo là bảo chứng tối
thượng về tình yêu của các ngài; tuy nhiên, nếu được hiểu biết
hơn về Thiên Chúa, có lẽ các ngài đã yêu mến Thiên Chúa hơn nữa.9
14.3
Giáo lý là lương thực cho lòng đạo đức.
Suy niệm về cuộc đời và sự nghiệp thánh Thomas, chúng ta có thể
nhận thấy một đời sống đạo đức thực sự cần thiết phải có giáo
lý. Chính vì thế, việc học giáo lý phải hướng chúng ta đến một
đời sống đạo đức sâu xa và thơ trẻ. Chẳng hạn, khi soạn bộ Summa
contra Gentiles, bao giờ thánh Thomas cũng viết câu Ave Maria
bên các mép trang của cuốn sách để nhớ đến sự hiện diện của Thiên
Chúa. Mỗi khi thử bút, thánh nhân thường viết nhiều lời cầu khác
nhau.10 Tất cả những bản viết và bài giảng của thánh nhân đều
có mục đích đưa các linh hồn đến cùng Thiên Chúa. Thánh nhân giả
sử nếu tất cả khoa học nhân loại được ghi vào một quyển sách và
chúng ta sẽ ao ước có được quyển sách ấy thế nào, thì chúng ta
cũng phải kiếm tìm một mình Chúa Kitô, Đấng gồm chứa mọi kho tàng
khôn ngoan và tri thức cũng như thế.11 Giáo lý chúng ta học hiểu
sẽ đưa chúng ta đến chỗ yêu mến Chúa Kitô hơn, và hân hoan phụng
sự Người hơn.
Tâm tình đạo đức của con trẻ và giáo lý của nhà thần học – đó
là mục tiêu thánh Josemaría Escrivá đã đặt ra. Một đức tin vững
vàng dựa trên một vốn kiến thức giáo lý vững vàng, và sẽ giãi
chiếu trong đời sống đạo đức thơ trẻ. Thánh Thomas cho rằng lòng
mến dẫn đến sự hiểu biết chân lý.12 Hơn nữa, mọi hiểu biết đều
phải qui hướng về cứu cánh là đức ái.13 Khi hiểu biết Thiên Chúa
hơn, chúng ta sẽ thấy mình thực thi nhiều hành vi yêu mến hơn.
Trong khi trí khôn chúng ta chú ý đến những chi tiết trong cuộc
sống hằng ngày, thì con tim chúng ta hãy hướng về Thiên Chúa Cha,
Thiên Chúa Con, và Thiên Chúa Thánh Thần.
Nhờ kiến thức giáo lý, chúng ta sẽ hiểu hơn về Nhân Tính thánh
thiện của Chúa Kitô, về thiên chức Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria,
về sự thánh thiện của Thánh Giuse, về sự hiện diện đầy hữu ích
của các thiên thần bản mệnh, về ý chỉ cầu nguyện cho các linh
hồn luyện ngục… Hôm nay, chúng ta hãy xét lại quyết tâm học tập
giáo lý của mình để có thể yêu mến Thiên Chúa hơn và trợ giúp
tha nhân đắc lực hơn trong công tác tông đồ.
|
|