| |
THỨ NĂM SAU LỄ HIỆN XUỐNG
CHÚA KITÔ – LINH MỤC THƯỢNG PHẨM ĐỜI ĐỜI
Lễ Nhớ
Toàn
thể Giáo Hội được thông phần sứ mạng tư tế của Chúa Kitô. Qua
các bí tích khai tâm, người giáo dân được thông phần vào chức
tư tế của Chúa Kitô và có khả năng thánh hóa thế giới bằng những
công việc trần thế. Các linh mục - khác biệt về bản chất, chứ
không chỉ về mức độ - cũng thông phần vào chức tư tế của Chúa
Kitô và được đặt làm người trung gian giữa Thiên Chúa và nhân
loại, nhất là qua Hiến Lễ thánh lễ, khi các ngài cử hành in persona
Christi – trong ngôi vị của Chúa Kitô. Hôm nay là ngày chúng ta
phải đặc biệt cầu nguyện cho các linh mục.
38.1
Chúa Giêsu - Linh Mục Thượng Phẩm đời đời.
Chúa đã thề và không thay đổi: ‘Con là thượng tế đời đời theo
phẩm hàm Melchizedek.’1
Thư gửi các tín hữu Do Thái định nghĩa chính xác về thiên chức
linh mục khi cho chúng ta biết thượng tế nào cũng là người được
chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài
người, trong tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như
tế vật đền tội.2 Và vì thế, các linh mục là trung gian giữa Thiên
Chúa và nhân loại, liên kết mật thiết với hiến lễ họ tiến dâng;
đây là hành vi tôn thờ chính yếu con người dâng lên Đấng Tạo Hóa.
Các hiến tế Cựu Ước được dâng lên để tôn nhận quyền tối thượng
của Thiên Chúa và tạ ơn về những đặc ân Người ban. Hành vi tiêu
hủy hoàn toàn hoặc một phần của lễ trên bàn thờ là biểu hiện và
hình ảnh của hiến lễ đích thực sẽ được Chúa Kitô tiến dâng trên
đồi Canvê, khi thời gian viên mãn. Chúa Giêsu, linh mục thượng
phẩm đời đời, đã hiến mình cho Thiên Chúa để làm của lễ giá trị
vô cùng đẹp lòng Người. Chúa Kitô là linh mục, đồng thời vừa là
của lễ và bàn thờ.3 Trên đồi Canvê, Chúa Giêsu linh mục thượng
phẩm đã dâng một hiến lễ ca tụng và tạ ơn Thiên Chúa rất đẹp lòng
Người; đó là hiến lễ hoàn hảo vô song.4 Lễ hy sinh ấy là hành
vi đền bồi và chuộc tội cho chúng ta: một giọt Máu Chúa Kitô cũng
đủ đền bồi mọi tội lỗi của toàn nhân thế. Lời khẩn cầu của Chúa
Kitô trên thập giá cho các anh em của Người đã được Chúa Cha nhậm
lời, và hiện nay trên trời, Người hằng sống để chuyển cầu cho
họ.5 Chúa Kitô thực sự là linh mục; nhưng là linh mục cho chúng
ta, chứ không phải cho bản thân Người. Nhân danh toàn thể nhân
loại, Chúa Kitô dâng lời cầu nguyện và việc phụng thờ lên Thiên
Chúa Cha hằng hữu. Tương tự, Chúa Kitô cũng là của lễ; nhưng là
của lễ vì chúng ta, bởi Người đã nộp mình vì tội lỗi nhân loại.
Giờ đây lời kêu gọi của thánh Tông Đồ, ‘Anh em hãy có tâm tình
của Chúa Giêsu Kitô nơi mình’ đòi buộc mọi tín hữu, phải hết khả
năng, tái hiện nơi bản thân những tâm tình nơi Chúa Kitô khi Người
hiến thân hy sinh – những tâm tình khiêm nhượng, thờ phượng, ca
tụng, và tạ ơn Thiên Chúa uy linh. Có thể nói lời kêu gọi ấy cũng
đòi họ phải trở nên của lễ; vun đắp một tinh thần bỏ mình theo
các giới điều Phúc Âm, sẵn lòng làm việc sám hối, gớm ghét và
đền bồi tội lỗi.6 Đây là quyết định chúng ta hãy thực hiện ngay
hôm nay.
38.2
Mọi tín hữu phải có tâm hồn linh mục. Phẩm giá của thiên chức
linh mục.
Toàn thể Giáo Hội thông phần vào sứ mạng cứu thế của Chúa Kitô
tư tế, sứ mạng được ủy thác cho mọi thành phần dân Chúa, những
người nhờ các bí tích khai tâm đã được thông phần vào chức linh
mục của Chúa Kitô, để hiến dâng lên Thiên Chúa một hiến lễ thiêng
liêng và làm chứng cho Chúa Kitô trước mặt nhân loại.7 Người giáo
dân được thông phần vào chức tư tế của Chúa Kitô, theo một cách
thức khác với các linh mục – không những về mức độ, mà còn về
bản chất. Với một tín hữu có tâm hồn tư tế, họ thánh hóa thế giới
bằng việc thực hiện hoàn hảo các hoạt động trần thế, tìm kiếm
vinh danh Thiên Chúa trong mọi sự; trong trường hợp người nội
trợ, đó sẽ là việc chu toàn những bổn phận gia đình; hoặc với
người sĩ quan quân đội, thì bằng việc minh chứng tinh thần yêu
nước chủ yếu bằng việc vun đắp những nhân đức của quân nhân; hoặc
với thương gia, thì bằng việc cải thiện giao tiếp và đề cao công
bằng xã hội. Như vậy qua việc hiến dâng cuộc sống và công việc
của mình trong thánh lễ mỗi ngày, mọi tín hữu thực hiện việc đền
tạ vì tội lỗi thế giới.
Các linh mục và giám mục được Thiên Chúa mời gọi một cách tỏ tường,
nhưng không phải để tách biệt khỏi dân Chúa hoặc bất cứ một người
nào, mà để tận hiến làm công việc Chúa đã chọn họ làm. Các ngài
không thể là thừa tác viên của Chúa Kitô nếu không là chứng nhân
và là người ban phát một đời sống khác đời sống thế tục; tuy nhiên,
các ngài không thể phục vụ nhân loại nếu lại sống xa cuộc sống
và những hoàn cảnh của nhân loại.8 Linh mục được tuyển chọn từ
phàm nhân và được nâng lên một phẩm giá làm các thiên thần phải
kinh ngạc, và sau đó, được sai phái trở về với nhân loại để phục
vụ trong tương quan với Thiên Chúa trong một sứ mạng cứu độ đặc
biệt. Linh mục đại diện Chúa Kitô trên trần gian: lãnh nhận quyền
năng Chúa Kitô để tha thứ tội lỗi, dạy cho nhân loại con đường
về trời, và trên hết là cho Chúa Kitô mượn đôi tay và miệng lưỡi
trong giờ phút linh thiêng nhất trong thánh lễ, khi truyền phép
trong ngôi vị của Chúa Kitô – in persona Christi. Không phẩm chức
nào có thể sánh được với chức linh mục. Chỉ có thiên chức Mẹ Thiên
Chúa của Đức Maria là vượt trên tác vụ này.9
Chức linh mục là một tặng ân tuyệt vời Chúa Kitô đã ban cho Giáo
Hội. Linh mục là khí cụ trực tiếp hằng ngày của hồng ân cứu độ
mà Chúa Kitô đã sắm cho chúng ta. Nếu các bạn hiểu điều này, nếu
các bạn suy ngắm điều này trong sự thinh lặng tích cực của sự
cầu nguyện, làm sao các bạn có thể nghĩ về chức linh mục theo
khía cạnh từ bỏ được? Đó là một mối lợi, một mối lợi không thể
lường được. Đức Maria, người thánh thiện nhất trong mọi thụ tạo
– chỉ kém một mình Thiên Chúa - đã đem Chúa Giêsu Kitô đến trần
gian một lần duy nhất; các linh mục đem Người đến trần gian, cho
linh hồn và thân xác chúng ta mọi ngày: Chúa Kitô đến để trở nên
lương thực ban sức sống cho chúng ta, hơn nữa, còn là bảo chứng
cho đời sống tương lai của chúng ta.10
Hôm nay là dịp thuận tiện để chúng ta cám tạ Chúa Giêsu vì hồng
ân trọng đại này. Lạy Chúa, con xin cám tạ vì Chúa vẫn mời gọi
nhiều người lên thiên chức linh mục! Về phần chúng ta, chúng ta
hãy quyết tâm yêu mến và tôn kính các linh mục của Chúa Kitô hơn
nữa, nhìn các ngài như Chúa Kitô đang đi qua và đem đến cho chúng
ta những tặng ân quí báu nhất mà chúng ta có thể ước mọng: các
ngài đem đến cho chúng ta sự sống đời đời.
38.3
Linh mục, khí cụ hợp nhất.
Thánh Gioan Kim Khẩu đã ý thức về phẩm giá và trách vụ của chức
linh mục. Lúc đầu, ngài không dám lãnh nhận, và giải thích thái
độ ấy như sau: Nếu thuyền trưởng của một con thuyền lớn, với thủy
thủ đoàn thật đông và chở đầy những hàng hóa quí giá, truyền cho
tôi phải cầm bánh lái để vượt biển Aegea hoặc biển Tyrrhenia,
phản ứng trước tiên của tôi sẽ là từ chối. Nếu người ta hỏi tôi
tại sao, tôi sẽ trả lời ngay: bởi vì tôi không muốn con thuyền
bị đắm.11 Nhưng, thánh nhân quá biết, Chúa Kitô lúc nào cũng ở
bên linh mục, ở bên chiếc thuyền. Hơn nữa, thánh ý Chúa muốn linh
mục lúc nào cũng cảm thấy được tôn kính và được nâng đỡ nhờ lời
cầu nguyện của các tín hữu. Công đồng Vatican II đã nói, Họ phải
lấy lòng hiếu thảo mà đối xử với các ngài như những chủ chăn và
như là cha mình vậy; cũng thế, họ phải chia sẻ những nỗi lo âu
của các ngài, giúp đỡ các ngài bằng lời cầu nguyện và bằng việc
làm càng nhiều càng hay, để các ngài có thể thắng vượt những khó
khăn một cách dễ dàng hơn, và chu toàn trách vụ của mình một cách
hữu hiệu hơn.12 Điều các tín hữu trông đợi nơi các linh mục là
một đời sống gương mẫu và luôn biết đặt hiệu quả công việc trên
lời cầu nguyện, cử hành thánh lễ thật sốt sắng, quan tâm đến những
việc của Thiên Chúa với một sự chuyên cần và tôn kính xứng đáng,
thăm viếng các bệnh nhân và coi trọng việc dạy giáo lý, lúc nào
cũng giãi chiếu một niềm vui phát xuất từ việc phó thác và hữu
ích cho cả những người đang xa cách Thiên Chúa.
Hôm nay, chúng ta hãy nài xin Chúa ban cho chúng ta luôn có nhiều
linh mục biết quảng tâm với tha nhân và sống vô vị kỷ, bởi vì
linh mục không thuộc về bản thân, không thuộc về bà con bạn hữu
hoặc một quốc gia nào: đức ái ngài hô hấp phải là phổ quát. Tư
tưởng, ước muốn, tình cảm của ngài không còn thuộc về ngài, nhưng
thuộc về Chúa Kitô, Đấng chính là sự sống của ngài.13
Linh mục là một khí cụ hợp nhất. Chúa muốn mọi người nên một –
ut omnes unum sint.14 Chúa đã dạy rằng hễ nước nào chia rẽ sẽ
tự diệt vong, thành nào nhà nào chia rẽ sẽ không thể tồn tại.
Các linh mục phải thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thánh Thần
đem lại.15 Lời kêu gọi của thánh Phaolô đặc biệt hướng tới những
vị được nâng lên hàng Tư Tế thánh, hầu sứ mạng của Chúa Kitô được
tiếp diễn.16 Trách vụ chính yếu của linh mục là phấn đấu vì an
bình và hòa hợp giữa anh chị em.17 Bằng lời nói và gương sáng,
ngài phải bảo toàn niềm xác tín không gì trên thế giới có thể
hủy diệt thực tại kỳ diệu: một trái tim một tâm hồn – cor unum
et anima una,18 đã từng sống động nơi các tín hữu tiên khởi, và
cũng phải như vậy nơi chính chúng ta. Ngài sẽ chu toàn sứ mạng
hợp nhất một cách dễ dàng hơn nếu biết cởi mở với mọi người và
trân trọng anh em chị của ngài. Hãy cầu nguyện cho các linh mục
ngày nay cũng như tương lai, để họ thực sự biết yêu mến anh chị
em, càng ngày càng hơn và không kỳ thị, đồng thời cũng biết làm
cho mình được anh chị em yêu mến hơn.19
Đức Gioan Phaolô II đã kêu gọi toàn thể các linh mục khắp thế
giới: Khi cử hành thánh lễ tại nhiều bàn thờ trên khắp thế giới,
chúng ta hãy tạ ơn Vị Linh Mục Thượng Tế vì tặng ân Người đã ban
cho chúng ta trong bí tích của thiên chức linh mục. Và trong sự
tri ân này, ước chi những lời thánh Sử đặt trên môi miệng Đức
Maria khi Mẹ đến viếng thăm bà chị họ Elizabeth lại được vang
lên: ‘Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi bao điều vĩ đại, thật danh
Người là thánh’ (Lc 1:49). Chúng ta cũng hãy tạ ơn Mẹ Maria về
hồng ân thiên chức linh mục khôn sánh, nhờ đó, chúng ta có thể
phục vụ mọi người trong Giáo Hội. Ước chi niềm tri ân hãy làm
bừng lên nhiệt tâm của chúng ta.
Chúng ta hãy không ngừng tạ ơn về điều này. Chúng ta hãy tạ ơn
về trót cả cuộc sống. Chúng ta hãy tạ ơn hết sức mình. Chúng ta
hãy cùng với Đức Maria, Mẹ các linh mục, mà tạ ơn, ‘Con biết lấy
gì mà báo đền Chúa, vì bao ân lộc Người tuôn xuống cho con? Con
sẽ nâng chén hồng ân cứu độ, và kêu cầu Danh Chúa’ (Tv 116:12-13).20
|
|