|
Phần
Hai
TỔNG QUÁT VỀ NHIỆM TÍCH
Bản Thể Nhiệm Tích
1. Ý niệm chung về các Nhiệm Tích
*
Công Đồng Vaticanô II dạy: "Các Nhiệm Tích
nhằm mục đích thánh hóa con người, xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô,
và sau cùng là tôn thờ Thiên Chúa. Nhưng với tư cách là dấu tích,
các Nhiệm Tích cũng giữ vai trò giáo huấn nữa. Không những các
Nhiệm Tích giả thiết phải có Đức Tin, mà còn nuôi dưỡng, củng
cố và diễn tả Đức Tin nhờ ngôn ngữ và sự vật. Vì thế, gọi là Nhiệm
Tích Đức Tin". "Vốn các Nhiệm Tích ban Ân Sủng, nhưng
việc cử hành các Nhiệm Tích còn chuẩn bị tâm hồn các Tín Hữu nhận
Ân Sủng đó một cách hữu hiệu, để thờ phượng Thiên Chúa đúng cách
và thực hành Đức Bác Ái" (Phụng Vụ Thánh # 59).
*
Bản văn đưa ra mấy điểm quan trọng sau:
-
Về đặc tính: Nhiệm Tích ban Thánh Sủng.
Nhiệm Tích giữ vai trò giáo huấn Đức Tin.
- Về mục đích: Thờ phượng Thiên Chúa.
Thánh hóa con người.
Xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô.
2. Danh từ Nhiệm Tích
Danh
từ Nhiệm Tích: Nhiệm là bí ẩn, giấu kín. Tích là dấu vết để lại
(Sacramentum= Mysterium).
3.
Định nghĩa Nhiệm Tích
*
Nhiệm Tích là dấu hiệu khả giác đặc ban Thánh Sủng vô hình, do
Chúa Kitô thiết lập để thánh hóa chúng ta (Công Đồng Tridentinô,
sess VII).
*
Nhiệm Tích là dấu bên ngoài Chúa Kitô thiết lập, để chỉ ý nghĩa
và chuyển thông Thánh Sủng bên trong cho chúng ta được nên thánh
thiện (Giáo lý Công Giáo 1967).
- Nhiệm Tích là một dấu hiệu.
- Dấu hiệu Nhiệm Tích là dấu hiệu khả giác.
- Dấu hiệu khả giác của Nhiệm Tích do Chúa Kitô thiết lập.
- Dấu hiệu Nhiệm Tích phát sinh Thánh Sủng.
4.
Dấu hiệu khả giác của các Nhiệm Tích gồm hai yếu tố
*
Dấu hiệu khả giác của Nhiệm Tích được cấu tạo bởi 2 yếu tố: Sự
vật và Lời đọc, các thần học gia gọi là: Chất thể (Matière) và
Mô thể (Forme).
5.
Ý nghĩa các dấu hiệu của Nhiệm Tích
Dấu hiệu Nhiệm Tích vừa biểu thị vừa phát sinh Thánh Sủng, thế
nên mang 3 ý nghĩa chính sau đây:
*
Dấu hiệu tưởng niệm: Nhắc chúng ta nhớ tới Cuộc
Tử Nạn và Sự Phục Sinh của Chúa Kitô, Đấng thiết lập Ơn Cứu Độ,
nhờ hành vi Cuộc Tử Nạn và Sự Phục Sinh của Chúa Kitô, mới có
thể dùng các Nhiệm Tích làm máng thông ban Ơn Cứu Độ xuống cho
nhân loại.
* Dấu hiệu biểu thị: Vừa chỉ rõ vừa ban Thánh
Sủng, nên chúng ta lãnh nhận Nhiệm Tích nào sẽ được Thánh Sủng
của Nhiệm Tích đó.
* Dấu hiệu tiên đoán: Tiên đoán ngày Chúa tái
lâm, ngày lãnh thưởng hạnh phúc Thiên Đàng.
Do
đó, Công Đồng Vaticanô II dạy: "Việc rất quan trọng là làm
sao cho các Tín Hữu dễ dàng hiểu được những dấu hiệu của các Nhiệm
Tích" (Phụng Vụ Thánh # 59).
6.
Tác giả của các Nhiệm Tích trong Giáo Hội
*
Chúa Kitô là Tác Giả thiết lập các Nhiệm Tích. Chính Người là
Nhiệm Tích Nguyên Thủy, Thiên Chúa Cha ban cho nhân loại.
* Chúa Kitô thiết lập mọi Nhiệm Tích.
Công Đồng Tridentinô định tín: "Nếu ai nói
rằng các Nhiệm Tích Đạo Mới không phải do Chúa Kitô thiết lập
tất cả, hay là nói có nhiều hơn hay ít hơn 7 Nhiệm Tích này: Thánh
Tẩy, Thêm Sức, Mình Thánh Chúa, Hòa Giải, Xức Dầu bệnh nhân, Truyền
Chức Thánh, Hôn Phối thì bị vạ tuyệt thông" (Trid Sess VII).
A.
Bằng thái độ: Chúa Kitô khi còn sống ở trần gian, qua
lời nói, thái độ và cử chỉ đã muốn và đã thực sự thiết lập trực
tiếp và minh nhiên Bản Tính của 7 Nhiệm Tích, nghĩa là Thánh Sủng
đặc biệt thực tại thiêng liêng định tính cho mỗi Nhiệm Tích, hoặc
là chính Chúa Kitô thiết lập khi Ngài còn ở trần gian như: Nhiệm
Tích Thánh Thể, Thánh Tẩy, Hòa Giải, Truyền Chức Thánh, hoặc là
khi đã về trời Ngài cử Chúa Thánh Thần xuống, thực hiện ý muốn
thiết lập Nhiệm Tích của Ngài nơi các Thánh Tông Đồ, như Nhiệm
Tích Thêm Sức, Xức Dầu Bệnh Nhân và Hôn Phối.
| 1.
|
Thánh
Tẩy: (Jn 3:1-6; Mt 28:19). |
| 2.
|
Thêm Sức: (Acts
12:1-2; Jn 20:20; Acts 8:14). |
| 3.
|
Thánh Thể: (Mt
26:26-28; Mc 14:22-25; Lc 22:19-20; I Cor 11:23-25). |
| 4. |
Hòa Giải: (Jn
20:21-23; Mt 16:18-19). |
| 5. |
Xức Dầu Bệnh Nhân:
(Jac 5:14). |
| 6. |
Truyền Chức Thánh:
(I Cor 11:24-25; Mt 28:19; Jn 20:21-23; Mt 18:18; Acts 6:6;
2 Tim 1:1:6). |
| 7. |
Hôn Phối: (Jn
30:1-38:8; Deut 25:5; Mt 19:3; Mt 19:6; I Cor 7:10- 39; Eph
5:32). |
B.
Bằng lời nói: Chúa Kitô đã thiết lập dấu hiệu khả giác
cho một vài Nhiệm Tích cách tổng quát: "Phải tái sinh bởi
Nước và Thánh Thần". "Này là Mình Thầy, này là Máu Thầy".
Tất cả những điều Chúa Kitô đã xác định cho mỗi Nhiệm Tích đều
thuộc về Bản Thể Nhiệm Tích, Giáo Hội không có quyền thay đổi.
7.
Vai trò của Giáo Hội đối với các Nhiệm Tích
1.
Công Đồng Vaticanô II gọi: "Giáo Hội là Nhiệm Tích
phổ quát".
* Chúa Kitô đã thiết lập và trao cho Giáo Hội tiếp tục Cuộc Nhập
Thể và Cứu Thế của Ngài.
* Nên Giáo Hội là Nhiệm Tích của Chúa Kitô, như Chúa Kitô là Nhiệm
Tích của Thiên Chúa.
Nhiệm Tích đây hiểu theo nghĩa rộng tức là dấu hiệu thánh, chứ
không hiểu theo nghĩa hẹp của 7 Nhiệm Tích.
Thực
vậy, "Giáo Hội đưa Chúa Kitô đến cho mọi người nhờ trao ban,
rao giảng Tin Mừng, ban hành các Nhiệm Tích, nhờ đời sống thánh
thiện phản chiếu trung thực hình ảnh Chúa Kitô, nên mọi người
nhận biết Chúa Kitô từ nơi Giáo Hội mà đến tôn thờ, cầu xin, lãnh
nhận ơn thiêng. Thế nên, Giáo Hội là Nhiệm Tích phổ quát của Ơn
Cứu Độ" (xem Lumen Gentium # 1 và Gaudium et Spes # 5).
2. Quyền giáo huấn của Giáo Hội: Tất cả những
điều liên quan đến Nhiệm Tích do Chúa Kitô thiết lập đều thuộc
Bản Thể Nhiệm Tích, tất cả những quy luật ban Nhiệm Tích thành
sự do Giáo Hội thiết lập cũng rất quan trọng, chúng đều thuộc
Yếu Tính của Nhiệm Tích.
a)
Những điều kiện ban Nhiệm Tích thành sự (valide) hay bất thành
sự (invalide).
b) Những điều kiện ban Nhiệm Tích thích pháp (licite) hay bất
thích pháp (illicite).
8.
Bảy Nhiệm Tích trong Giáo Hội Công Giáo
*
Chỉ có 7 Nhiệm Tích là: Thánh Tẩy, Thêm Sức,
Mình Thánh Chúa, Hòa Giải, Xức Dầu Bệnh Nhân, Truyền Chức Thánh,
Hôn Phối. Công Đồng Tridentinô định tín: "Nếu ai nói Nhiệm
Tích Đạo Mới có nhiều hơn hay ít hơn con số 7 là: Nhiệm Tích Thánh
Tẩy, Thêm Sức, Mình Thánh Chúa, Hòa Giải, Xức Dầu Bệnh Nhân, Truyền
Chức Thánh, Hôn Phối thì bị vạ tuyệt thông" (Trid Sess VII,
Giáo Luật # 7).
*
Tại sao chỉ có 7 Nhiệm Tích? Chúa Kitô đã thực
sự thiết lập 7 Nhiệm Tích làm phương thế ban Ơn Cứu Độ của Ngài
cho nhân loại. Tại sao Ngài chỉ thiết lập có 7, không thiết lập
nhiều hơn hay ít hơn?
Theo
Thánh Toma, mỗi Nhiệm Tích đáp ứng từng giai đoạn trong đời sống
siêu nhiên của chúng ta, tương tự như những nhu cầu tự nhiên đáp
ứng đời sống tự nhiên của chúng ta.
9.
Hiệu quả phát sinh do các Nhiệm Tích
Tất
cả các Nhiệm Tích đều phát sinh Thánh Sủng. Ngoài ra Nhiệm Tích
Thánh Tẩy, Thêm Sức, Truyền Chức Thánh còn in Ấn Tích trong linh
hồn người lãnh nhận (Đồng Sủng và Đặc Sủng).
10.
Đồng Sủng hay Ân Sủng phổ quát
Đồng
Sủng là một loại Thánh Sủng mà tất cả các Nhiệm Tích đều thông
ban: Sự kiện Chúa Ba Ngôi ngự trong linh hồn, ơn thánh hóa, các
nhân đức thiên phú, các ơn phúc và hồng ân Chúa Thánh Linh.
11.
Ơn Thánh Hóa hay Thường Sủng
Ơn
Thánh Hóa hay Thường Sủng là ơn Chúa ban để chúng ta được thánh
hóa, nghĩa là chẳng những được tha tội, lại còn được tham dự vào
bản tính và đời sống thần linh của Chúa Ba Ngôi, trở nên con hiếu
thảo của Thiên Chúa và đáng được thừa hưởng gia tài Thiên Quốc
trong đời sống mai hậu.
12.
Đặc Sủng hay Tích Sủng
Đặc
Sủng hay Tích Sủng là ơn trợ lực riêng biệt do mỗi Nhiệm Tích
đem lại cho thụ nhân, tùy theo đặc tính của mỗi Nhiệm Tích, ngõ
hầu thụ nhân hoàn thành nghĩa vụ người Kitô Hữu do Nhiệm Tích
đã lãnh nhận đòi hỏi.
13.
Các Nhiệm Tích có Ấn Tích đời đời
Ấn
Tích là dấu thiêng liêng ghi khắc trong tâm hồn thụ nhân, không
bao giờ bị xóa nhòa hay hủy diệt được. Ấn Tích như một "Chứng
Minh Thư" minh định thụ nhân đã được thánh
hiến với một sứ mạng riêng biệt.
A.
Ấn Tín Nghĩa Tử: Do Nhiệm Tích Thánh Tẩy, người Tín Hữu
được thánh hiến trở thành con cái Thiên Chúa.
B.
Ấn Tích Chiến Sĩ: Do Nhiệm Tích Thêm Sức, người Tín Hữu
được thánh hiến trở thành "Chiến Sĩ"
của Chúa Kitô.
C.
Ấn Tích Cán Bộ: Do Nhiệm Tích Truyền Chức Thánh, người Tín Hữu
được thánh hiến trở thành "Thừa Tác Viên"
của Chúa Kitô.
14.
Hiệu quả của Nhiệm Tích do sự (Ex Opere Operato)
Hiệu
quả "Do Sự" nghĩa là do chính hành
động của Nhiệm Tích, chứ không "Do Nhân"
là do tình trạng tâm hồn (thánh thiện hay tội lỗi) của thừa tác
viên hay của thụ nhân.
Chúa Ba Ngôi nguồn mọi ơn phúc, thông ban Thánh Sủng qua các Nhiệm
Tích như nguyên nhân dụng cụ, nhờ Chúa Kitô là nguyên nhân chính
trào đổ xuống các thụ nhân.
15.
Hai Nhiệm Tích sau khẩn thiết để cá nhân được Ơn Cứu Độ
Nhiệm
Tích Thánh Tẩy và Nhiệm Tích Hòa Giải là hai Nhiệm Tích tuyệt
đối khẩn thiết giúp nhân loại được hưởng Ơn Cứu Độ.
16.
Hai Nhiệm Tích sau cần thiết cho Cộng Đoàn Dân Chúa
Nhiệm
Tích Truyền Chức Thánh và Nhiệm Tích Hôn Phối là hai Nhiệm Tích
cần thiết cho Cộng Đoàn Dân Chúa.
17.
Năm Nhiệm Tích sau được gọi là Nhiệm Tích kẻ sống
Nhiệm
Tích kẻ sống là Nhiệm Tích Thêm Sức, Truyền Chức Thánh, Hôn Phối,
Xức Dầu Bệnh Nhân, Mình Thánh Chúa: Chỉ những ai đang sống trong
sủng trạng, có ơn nghĩa Chúa, có tâm hồn trong sạch, không mắc
tội trọng mới được lãnh nhận.
18.
Hai Nhiệm Tích sau được gọi là Nhiệm Tích kẻ chết
Nhiệm
Tích kẻ chết là Nhiệm Tích Thánh Tẩy và Nhiệm Tích Hòa Giải: Những
ai còn đang mang án tội nguyên tổ hoặc những ai đang mắc tội trọng
mất ơn nghĩa Chúa, cần lãnh nhận hai Nhiệm Tích này mới được hưởng
Ơn Cứu Độ.
19.
Các Nhiệm Tích có Ấn Tích đời đời
Ba
Nhiệm Tích sau đây có Ấn Tích đời đời, không bao giờ phai mờ;
do dó, chỉ được lãnh nhận có một lần là Nhiệm Tích Thánh Tẩy,
Thêm Sức và Truyền Chức Thánh.
20.
Các điều kiện đủ để ban và lãnh các Nhiệm Tích thành sự (valide)
Để
lãnh Nhiệm Tích thành sự phải hội đủ những điều kiện sau đây:
*
Dấu hiệu khả giác được thực hiện đầy đủ theo luật của Giáo Hội.
* Thừa tác viên có năng quyền cử hành các Nhiệm Tích.
* Thụ nhân có khả năng và nếu đã khôn lớn, phải có ý muốn lãnh
nhận Nhiệm Tích đó.
21.
Các điều kiện đủ để ban và lãnh Nhiệm Tích cách thích pháp (Licite)
Để
các Nhiệm Tích được ban cách thích pháp, phải hội đủ các điều
kiện sau:
+
Thừa tác viên:
-
Sống trong sủng trạng (không mắc tội trọng).
- Cầm trí khi
ban.
- Không mắc vạ.
+ Thụ nhân:
-
Có Đức Tin thần học.
- Có lòng sám
hối, ít là bất toàn đối với Nhiệm Tích Thánh Tẩy và Nhiệm Tích
Tích Hòa Giải.
- Sống trong
sủng trạng đối với các Nhiệm Tích kẻ sống.
22.
Thừa tác viên có quyền cử hành các Nhiệm Tích
*
Thiên Chúa là Đấng tác sinh mọi ơn phúc trong các nghi thức ban
Nhiệm Tích. Nên chỉ có những thừa tác viên có quyền mới được ban
Nhiệm Tích thành sự.
* Nhiệm Tích Thánh Tẩy: Mọi người, cả những người ngoài Công Giáo
đều có thể cử hành thành sự, miễn là có chủ ý làm điều Giáo Hội
dạy làm.
* Nhiệm Tích Hôn Phối: Tất cả mọi Kitô Hữu không mắc ngăn trở
tiêu hôn đều có thể cử hành Nhiệm Tích Hôn Phối thành sự; thừa
tác viên chỉ là người đại diện Giáo Hội chứng giám cuộc Hôn Nhân.
* Các Nhiệm Tích khác: Chỉ có thừa tác viên có Thánh Chức mới
được cử hành (được gọi là thừa tác viên nguyên thường).
23.
Điều kiện cần để lãnh các Nhiệm Tích thành sự và thích pháp
1.
Lãnh Nhiệm Tích thành sự (valide): Người lãnh các Nhiệm
Tích thành sự phải hội đủ các điều kiện sau:
A.
Người có khả năng lãnh nhận: Biết phân biệt tốt xấu,
lành dữ:
- Người còn sống nơi trần gian.
- Đã lãnh Nhiệm Tích Thánh Tẩy.
- Đã đến tuổi khôn, biết sử dụng trí khôn để phân biệt tốt xấu.
B.
Có ý muốn lãnh nhận: Nếu là người lớn; còn đối với trẻ
nhỏ thì cha mẹ và người đỡ đầu thay thế, vì Chúa là Cha Nhân Từ
sẵn sàng yêu thương con cái trước khi chúng có thể đáp lại tình
yêu thương của Ngài (hiện ý, tiềm ý hay thường ý).
2.
Lãnh Nhiệm Tích thích pháp (licite): Lãnh Nhiệm Tích
thích pháp là người được diễm phúc gặp gỡ Chúa Kitô và hưởng tình
yêu thương của Ngài, nên nếu là người lớn, đòi phải có các điều
kiện sau:
- Có Đức Tin: Tin vào Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người, tin vào
Giáo Hội của Chúa.
- Lòng Sám Hối: Người lớn cần có lòng sám hối, muốn được sống
trong ơn nghĩa Chúa.
|