|
VII. NHIỆM TÍCH HÔN PHỐI
1.
Nền tảng Nhiệm Tích Hôn Phối trong Thánh Kinh
Tại
Vườn Địa Đàng, Thiên Chúa đã tác tạo nên Adam Evà, liên kết thành
một tổ ấm yêu đương, là mẫu mực của định chế hôn nhân, ăn sâu
trong bản tính con người (gọi là định chế hôn nhân tự nhiên).
+
Định chế hôn nhân tự nhiên: Là hai người nam
nữ (khác phái) kết hôn với nhau một cách bền vững: "Đây là
xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Nàng sẽ gọi là người nữ,
vì bởi người nam mà ra" (Gen 2:23). Và đôi vợ chồng sống
thật thân tình. Thánh Kinh kết luận: "Cho nên người đàn ông
sẽ lìa cha mẹ để kết hợp với vợ mình như một thân thể". Đơn
hôn (chỉ một Adam và một Evà), để cộng tác với Thiên Chúa trong
việc phát triển loài người và cai trị vũ trụ. Như lời Thiên Chúa
phán: "Các ngươi hãy sinh sản con cái cho tràn đầy mặt đất
và hãy bắt trái đất phục tùng, hãy chủ trị cá biển, chim trời
và muôn vật sống động trên mặt đất" (Gen 1:28). Để con người
tương trợ lẫn nhau, bổ túc cho nhau, nên Chúa đã quyết định: "Đàn
ông ở một mình không tốt, Ta hãy dựng nên cho y một nội trợ giống
như y" (Gen 2:18).
+
Đặc tính của định chế hôn nhân: Đơn hôn và bất
ly dị (bền vững cho đến chết). Trong Cựu Ước, chế độ đa thê được
thịnh hành từ thời các tổ phụ cho đến sau thời lưu đầy ở Babylon.
Có lẽ là một cách thế để mau tăng thêm dân số và lưu truyền giòng
giống, nên Cựu Ước cho phép. Còn Maisen cho phép ly dị, thì chính
Chúa Kitô đã cho biết lý do: "Vì lòng dạ lì lợm của dân"
(Deut 25:5-10). Nhân đó, Chúa Kitô đã long trọng xác định lại
định chế hôn nhân tự nhiên từ nguyên thủy: "Đơn
hôn và bất khả ly dị" (Mt 19:4-9; Lc 16:18).
+
Nhiệm Tích Hôn Nhân Kitô Giáo: Hơn thế nữa, Chúa
đã nâng hôn nhân tự nhiên lên hàng Nhiệm Tích Thánh. Chúa Kitô
đã đến tham dự Tiệc Cưới tại Cana, Ngài chúc phúc cho đôi tân
hôn, bằng cách làm phép lạ cho nước lã hóa thành rượu ngon, tỏ
ra sự quan tâm săn sóc của Ngài.
1.
Từ bậc tự nhiên được thiết lập: "Vì lẽ đó, người nam sẽ lìa
bỏ cha mẹ mà luyến ái vợ mình, và cả hai thành một huyết nhục"
(Gen 2:24; Eph 5:21).
2.
Tới bậc siêu nhiên với đặc tính cao cả: "Chồng hãy yêu mến
vợ mình, như Đức Kitô yêu mến Giáo Hội... Mầu nhiệm này thật lớn
lao" (Eph 5:25-32).
2.
Lịch sử nghi thức Hôn Nhân Kitô Giáo
*
Thánh Giám Mục Ignatiô thành Antiochia năm 107 dạy: "Đôi
bạn nam nữ kết hôn với nhau được sự đồng ý của Đức Giám Mục là
hợp lý, để hôn phối diễn ra hợp thánh ý Chúa, chứ không do khát
vọng nhục dục" (Polycarpe 5,2).
*
Giáo Phụ Tertullianô (thế kỷ 2) chứng nhận Hôn Nhân Công Giáo
được cử hành trước mặt Đại Diện Giáo Hội: "Làm sao tôi có
thể diễn tả nổi hạnh phúc của đôi tân hôn do Giáo Hội tác thành,
do Hiến Tế củng cố, do Phép Lành đóng ấn, được các Thiên Thần
công bố và Chúa Cha trên trời chuẩn y" (Ad Uxorem 2,9).
*
Trong Lễ Nghi Roma được Đức Phaolô V công bố năm 1614, lễ nghi
hôn phối rất đơn giản: Câu đối thoại ngắn biểu lộ sự đồng ý kết
hôn, phép lành của Linh Mục chứng hôn, làm phép nhẫn, rồi để cho
người chồng trao nhẫn cho người vợ. Trong nhiều Giáo Phận, Linh
Mục chứng hôn làm phép hai chiếc nhẫn và đôi vợ chồng trao nhẫn
cho nhau.
3.
Ý nghĩa cao cả của Nhiệm Tích Hôn Nhân Công Giáo
*
Công Đồng Vaticanô II dạy: "Đấng Tạo Hóa
đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống chung,
thân mật và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng. Đời sống chung này
được xây dựng do Giao Ước Hôn Nhân, nghĩa là sự ưng thuận cá nhân
không thể rút lại được. Chúa Kitô ban dồi dào ơn phúc cho tình
yêu muôn hình ấy, một tình yêu phát xuất từ nguồn mạch tình yêu
Thiên Chúa và được tác thành theo gương của Chúa Kitô và Giáo
Hội. Thực vậy, như xưa kia Thiên Chúa đến gặp gỡ Dân Người bằng
một giao ước yêu thương và trung thành, ngày nay Đấng Cứu Thế,
Bạn Trăn Năm của Giáo Hội cũng đến với đôi vợ chồng qua Nhiệm
Tích Hôn Phối. Người còn ở lại với họ, để hai vợ chồng cũng mãi
mãi trung thành yêu thương nhau bằng sự tận hiến cho nhau, như
Người đã yêu thương Giáo Hội và nộp mình chịu chết vì Giáo Hội"
(Gaudium et Spes # 48).
A.
Hôn Nhân Dân Sự: Thiên Chúa thiết lập thể chế hôn nhân
tự nhiên bằng luật lệ riêng biệt, để bảo toàn hạnh phúc và mục
đích của hôn nhân: Đơn hôn, bất khả ly dị, sinh con cái và giáo
dục chúng nên người, yêu thương và tương trợ lẫn nhau. Đó là thể
chế hôn nhân tự nhiên và Giáo Hội đang quyết tâm bảo vệ.
B.
Hôn Nhân Kitô Hữu: Đối với các Kitô Hữu, hôn nhân được
Chúa Kitô nâng lên thành Nhiệm Tích Hôn Phối, để làm phương tiện
Chúa đến gặp gỡ đôi tân hôn, chúc phúc cho họ và ở lại với họ
mãi mãi. Vậy giữa các Tín Hữu, không thể có hôn ước dân sự nào
thành sự, chỉ khi nào có hôn ước trong Nhiệm Tích mới thành sự
mà thôi (Can 1012).
4.
Dấu hiệu của Nhiệm Tích Hôn Phối
+
Chất thể: Là quyền lợi của hai người trên thể
xác của nhau.
+ Mô thể: Là sự biểu lộ ưng thuận kết hôn với
nhau, bằng lời nói (hoặc bằng dấu hiệu khác).
5.
Hiệu quả của Nhiệm Tích Hôn Phối
Nhiệm
Tích Hôn Phối phát sinh các hiệu quả sau đây:
1.
Nhiệm Tích Hôn Phối tăng thêm Ơn Thánh Hóa (đồng sủng) và ban
Tích Sủng giúp đôi bạn chu toàn bổn phận gia đình.
2.
Phát sinh giây hôn phối vững bền: Kết hợp hai vợ chồng thành một,
mối giây ràng buộc này chỉ mất khi một trong hai người phối ngẫu
qua đời.
3.
Đôi vợ chồng chung sống với nhau thành một tổ ấm yêu đương theo
luật công bằng và bác ái. Người chồng là chủ, người vợ cộng tác
với chồng trong mọi sinh hoạt gia đình, sinh sản và dưỡng dục
con cái.
4.
Sinh con cái chính thức (con cái được sinh ra hoặc thụ thai do
sự kết hôn thành sự, thụ thai trước và sinh ra sau khi cha mẹ
lãnh Nhiệm Tích Hôn Phối, cũng được gọi là con chính thức).
5.
Chính thức hóa con ngoại hôn (con do cha mẹ có đạo sinh ra trước
khi lãnh Nhiệm Tích Hôn Phối), chúng được hưởng quyền lợi như
con chính thức hay ít ra là do luật định, thí dụ chúng không được
nhận Chức Giám Mục, Đan Viện Phụ....
6.
Thừa tác viên và thụ nhân Nhiệm Tích Hôn Phối
Người
ban và kẻ lãnh Nhiệm Tích Hôn Phối là chính hai người nam nữ kết
hôn với nhau, khi không ngăn trở tiêu hôn, hoặc có mà đã được
chuẩn.
7.
Đại Diện của Giáo Hội chứng kiến Nghi Lễ Thành Hôn
Hai người nam nữ làm lễ thành hôn trước mặt vị Đại Diện Giáo Hội
cách hợp pháp, và ít là hai nhân chứng hợp luật, mới thành sự
(xem Can 1094).
+
Đại Diện Giáo Hội cách hợp pháp: Là những vị
có Chức Phó Tế trở lên, được Giáo Hội trao quyền quản nhiệm một
Giáo Phận, một Giáo Xứ, một hay nhiều Họ Đạo như Đức Giám Mục
Bản Quyền, Cha Sở, Cha Phó trọn quyền coi sóc một Họ Đạo, Cha
Phó công quản và những vị được ủy quyền chứng hôn hợp pháp.
+
Hai chứng nhân hợp pháp: Là người biết sử dụng
lý trí và có khả năng làm chứng, đứng ra chứng kiến hôn phối,
đồng thời với sự hiện diện chứng hôn của Đại Diện Giáo Hội.
Lễ
Thành Hôn được cử hành trước mặt Cha Sở bên nữ, trừ khi có lý
do chính đáng (khó khăn đi lại, hoặc bên nữ không có Đạo Công
Giáo...).
8. Tương quan giữa Nhiệm Tích Thánh Tẩy và Hôn Phối
Nhiệm
Tích Thánh Tẩy làm cho chúng ta được trở nên con cái Chúa và Giáo
Hội, là cửa chúng ta bước vào để có quyền lãnh các Nhiệm Tích
khác.
+
Riêng về Nhiệm Tích Hôn Phối: Nhiệm Tích Thánh
Tẩy là điều kiện tất yếu để hai người nam nữ lãnh nhận Nhiệm Tích
Hôn Phối. Do đó, một người Công Giáo kết hôn với một người ngoại
giáo (dầu được phép chuẩn và cử hành theo lễ nghi Giáo Hội) không
thuộc về Nhiệm Tích Hôn Phối, đó chỉ là kết hôn theo thể chế hôn
phối tự nhiên theo luật đạo mà thôi.
+
Ấn Tích Thánh Tẩy, có thể được xem như thành
phần nội tại của Nhiệm Tích Hôn Phối, để nó biến thành một khế
ước kết hiệp của hai người phối ngẫu, thành hình ảnh kết hợp giữa
Chúa Kitô và Giáo Hội (nên vợ chồng lương dân cưới xin đúng luật
đời, trở lại không cần phải làm lễ thành hôn nữa).
+
Còn Nhiệm Tích Hôn Phối, giúp cho Ấn Tích Thánh
Tẩy phát triển thêm một bậc, trong sinh hoạt tình yêu thánh thiện
của gia đình trên bình diện cá nhân và xã hội, về việc phát triển
nhân loại cũng như truyền bá Giáo Hội Chúa.
|