| |
Biên
soạn: Lm. Đoàn Quang Báu, CMC |
|
Những
Ðiều Giáo Lý: Những Ðiều Lãnh Từ Thiên
Chúa Tình Yêu
Cầu nguyện: Tin Mừng theo thánh Matthêu 28,
16-20: Chúa sai các tông đồ đi giảng
đạo.
1. Trình bày đề
tài:
Truyện mở đầu: Tôi mới lên hai.
Linh mục De Smet de Termonde, vị thừa sai miền
đồi núi, kể chuyện một cụ già
80 tuổi đã cúi đầu nhận dòng nước
tha thứ qua Bí tích Rửa tội. Cụ hết
sức cảm động, và từ đó cụ
thay đổi cuộc sống, cụ sống
rất tốt lành, khác hẳn cuộc sống
trước kia.
Hai năm sau, lúc sắp tắt thở, người
ta hỏi xem cụ bao nhiêu tuổi? Cụ già khả
ái đáp:
-
Tôi mới lên hai. đời tôi chỉ bắt
đầu tính từ ngày tôi lãnh Bí tích Rửa tội,
còn 80 năm về trước là quãng đời
chết khô. (M. Arami, Sống, NS. TTÐM tái bản
1993, trang 29).
* Bác sĩ
Tissot là một bác sĩ nổi tiếng ở
Thụy Sĩ. Mặc dù là một người
Tin lành, nhưng ông cũng kính trọng và công nhận
sức chữa bệnh của Bí tích Cáo giải
thực hành trong Giáo hội Công giáo.
Ngày kia, ông được mời đến trị
bệnh cho một phu nhân ngoại quốc, trẻ
tuổi mắc bệnh trầm trọng. Vì nàng
là một tín hữu Công giáo, nên cũng đã
mời linh mục ban Bí tích Cáo giải và Bí tích
Xức dầu bệnh nhân. Ngay tức khắc,
nàng cảm thấy thay đổi, dễ chịu.
Lúc này, nàng trở nên êm dịu và trầm tĩnh,
khác với lúc trước luôn tỏ vẻ hốt
hoảng và sợ chết. . Sáng hôm sau, bác sĩ
Tissot thấy cơn sốt giảm dần và bệnh
nhân bình phục.
Bác sĩ Tissot thường nhắc lại biến
cố này và bao giờ ông cũng thêm vào một
lòi thán phục chân thành:" . . . nhờ sức
mạnh toà Cáo giải của người Công
giáo".
1.2 Những điều Lãnh nhận từ Thiên
Chúa Tình Yêu được tóm lại trong kinh bảy
Bí tích.
"Bảy Bí tích đều do Chúa Kitô thiết
lập. Các Bí tích có mục đích thánh hoá và giáo
huấn con người, xây dựng thân thể
Chúa Kitô, và để thờ phượng Thiên
Chúa. (PV 59). "Bảy Bí tích gắn liền với
mọi giai đoạn quan trọng của đời
tín hữu: sinh ra và lớn lên, chữa trị
và trao phó một sứ vụ trong cuộc sống
Kitô giáo. Qua đó ta thấy có điểm tương
đồng giữa những giai đoạn của
đời tự nhiên và cuộc sống siêu nhiên"
(GlCg92 số 1210).
-
Thứ nhất là Phép Rửa tội:
(Sacrament of Baptism):
Như hài nhi chào đời làm con người,
hài nhi được rửa tội làm con Chúa,
con Giáo hội.
Chúa Giêsu lập Bí tích Rửa tội (Mt 28,19) để
tha tội Tổ tông và tội riêng (người
lớn), ban ơn Thánh hoá. Nhờ ơn Thánh hóa,
ta được làm con Chúa, đáng hưởng
Thiên đàng nhờ công nghiệp Chúa Kitô (GlCg92
số 1250).
Bổn phận cha mẹ Công giáo: "Cha mẹ
liệu cho con được rửa tội trong
những tuần lễ đầu tiên", và
"Nếu hài nhi gặp cơn nguy tử, phải
rửa tội cho nó ngay, đừng trì hoãn"
(GL điều 867).
Rửa tội khi sẩy thai: Trường hợp
sẩy thai (miscarriage), người mẹ nên bình
tĩnh lấy nước rửa tội cho con.
Ngay cả khi nghi ngờ bào thai còn sống hay đã
chết, cũng nên lấy nước lã vừa
đổ vừa đọc: "Nếu con còn
sống thì mẹ rửa con Nhân Danh Cha và
Con và Thánh Thần".
Ai có quyền rửa tội?
a/ Lúc bình thường thì linh mục và phó tế
rửa tội,
b/ Lúc nguy tử (danger of death) thì ai rửa cũng
được, kể cả người ngoài
Công giáo, miễn là làm theo cách Giáo hội Công giáo
dậy, nghĩa là lấy nước lã đổ
trên đầu kẻ lãnh đồng thời đọc
lời này: "Tôi rửa. . .nhân Danh Cha và
Con và Thánh Thần". (GlCg92 số 1256).
(Ðối với người lớn nguy tử,
trước khi rửa tội, nếu có thể,
cần hỏi họ những điều sau:
- Có tin Thiên Chúa dựng nên trời đất không?,
- Có tin Thiên Chúa thưởng phạt công bằng
không?, - Có tin một Chúa Ba ngôi, ngôi Hai ra đời
chuộc tội không?, - Có tin Thiên đàng thưởng
kẻ lành, Hoả ngục phạt kẻ dữ
đời đời không?, - Nếu bệnh nhân
khỏe mạnh lại có bằng lòng đi học
giáo lý không? Khi họ được khỏe lại,
thưa với linh mục giúp giáo lý cho họ).
Có bạn trẻ nói: để con cái lớn lên,
tự nó xin rửa tội, nếu nó muốn!
Trả lời: Cha mẹ có bổn phận lo cho
con những điều tốt về phần
xác cũng như phần hồn. Rửa tội,
được làm con Chúa là điều tốt.
Vậy cha mẹ nên rửa tội cho con cái ngày
chúng mới sinh.
1.2. Thứ hai là Phép
Thêm sức.
(Sacrament of Confirmation)
Như con người lớn lên, phải bảo
vệ quốc gia, con Chúa đủ tuổi khôn
cũng được thêm sức để làm
chứng nhân (witness) cho Chúa Kitô.
Chúa Kitô lập Bí tích Thêm sức (Ga 14, 16) để
tín hữu lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần, trở
nên chứng nhân trung thành của Chúa Kitô trong cuộc
sống và tích cực xây đắp Giáo hội
Ngài (GlCg92 số 1302).
1.3. Thứ ba là Phép
Mình Thánh Chúa. (Sacrament
of The Eucharist)
Như con người cần của ăn nuôi
xác, con Chúa cần lãnh Mình Thánh Chúa (Thánh Thể)
để nuôi linh hồn.
Chúa Giêsu lập Bí tích Mình Thánh Chúa (Lc 22, 19-20) để
nuôi dưỡng linh hồn tín hữu đời
này và bảo đảm hưởng phúc Thiên đàng
đời sau.
Ð- Rước Lễ cách tử tế sẽ được
bốn ơn này (GlCg92 số 1391-1395): 1/ Ðược
kết hợp với Chúa, 2/ Ðược xoá bỏ
các tội nhẹ, 3/ Ðược thêm sức chống
cám dỗ, 4/ Ðược bảo đảm sống
đời đời. Mỗi ngày được
Rước lễ một lần, nếu dự
thêm thánh lễ nữa trong cùng ngày, sẽ được
Rước lễ lần nữa miễn là giữ
các điều kiện.
Ð- Ba điều kiện để được
rước lễ: 1/ Sạch tội trọng,
2/ Có ý ngay lành, 3/ Giữ chay một giờ trước
khi rước lễ (trong giờ đó chỉ
được uống nước lã, uống
thuốc khi cần, ngoài ra không ăn uống thứ
gì khác.
1.4. Thứ bốn là Phép Giải tội. (Sacrament
of Reconciliation)
Như con người cần tha thứ sau khi
lầm lỗi với tha nhân, con Chúa cần Bí
Tích Hòa giải để được tha thứ,
làm hòa cùng Chúa và Giáo hội.
Chúa Giêsu lập Bí tích Hoà giải (Ga 20, 22-23) là
để tha tội, ban ơn thánh hoá cho hối
nhân thành thực ăn năn trở về cùng
Chúa và Giáo hội Ngài (GlCg92 số 1440).
Ð- Tín hữu đã phạm tội trọng cần
phải lãnh Bí tích Hoà giải để xin lại
ơn Thánh hoá, nhưng ai chỉ mắc tội
nhẹ mà lãnh Bí tích này vì lòng sốt sắng cũng
được thêm nhiều ơn thánh.
Ð- Tội trọng là khi biết
mà còn cố tình phạm điều cấm hay
buộc trọng. Ví dụ: Tự ý bỏ lễ
Chúa nhật (GlCg92 số 1857).
1.5. Thứ năm là
Phép Xức dầu thánh. (Sacrament
of Anoiting of the Sick)
Như con người đau yếu cần bổ
sức, con Chúa cần bổ sức qua Bí Tích Xức
dầu Bệnh nhân.
Chúa Giêsu lập Bí tích Xức dầu Bệnh nhân
qua thánh Giacôbê (Gc 5,14-15) để ban sức mạnh
nâng đỡ bệnh nhân phần hồn, phần
xác.
Mọi tín hữu đã đến tuổi khôn
(thông thường từ 7 tuổi trở lên)
bị đau nặng, hoặc người già
nua kiệt sức, cần lãnh Bí tích Xức dầu
không nên trì hoãn. Khi trở bệnh nặng hơn,
dù đã được xức dầu, cũng
được xin xức dầu lần khác (GlCg92
số 1514 -1515). Người trông coi bệnh nhân
cần để ý giúp họ lãnh các Bí tích cuối
đời.
1.6. Thứ sáu là Phép
Truyền chức thánh. (Sacrament
of Holy Orders)
Như các viên chức phục vụ xã hội,
con Chúa lãnh Bí Tích Truyền chức để phục
vụ Giáo hội Chúa.
Chúa Giêsu lập Bí tích Truyền chức (Lc 22, 19)
để thông quyền linh mục của Chúa
cho một số người được chọn
làm giám mục, linh mục, phó tế để
các vị phân phát ơn phúc cho dân Chúa qua nhiệm
vụ (GlCg92 số 1536).
Ð- Các tín hữu cần cầu nguyện, tôn kính,
vâng phục các linh mục trong những điều
hợp đạo cộng tác với các ngài để
xây dựng Nước Chúa nâng đỡ các ngài
về tinh thần và vật chất.
1.7. Thứ bảy là
Phép Hôn phối. (Sacrament
of Marriage)
Như người nam nữ kết hôn để
sinh sản con người, con Chúa lãnh Bí Tích Hôn
phối để sinh sản con Chúa.
1* Ý định Thiên Chúa về Hôn phối thế
nào?
-
Thiên Chúa sáng tạo con người, có nam có nữ
để trợ giúp nhau, và chúc phúc cho họ sinh
sản. (GlCg92 số 1602-05). Nhưng hôn phối
đã bị đe dọa bởi tội lỗi.
Ðể chữa lành, người ta cần nhờ
ơn Chúa (GlCg92 số 1606).
2* Chúa Kitô dạy gì về hôn phối?
-
Chúa Kitô đã đưa hôn phối trở về
ý nghĩa nguyên thủy: một vợ một chồng,
trung thành mãi mãi. Vì chính Thiên Chúa đã kết hợp
người nam và người nữ, nên không ai
có thể tự ý tháo gỡ. Ðể trung thành với
đòi hỏi này, đôi hôn nhân rất cần
ơn trợ giúp của Chúa hầu vác thập
giá theo Người (GlCg92 số 614-15).
3* Không kết hôn có được không?
-
Từ những ngày đầu của Giáo hội,
đã có những người tình nguyện sống
trinh khiết vì nước Trời, để
tự do lo việc Chúa và Giáo hội. Chính Chúa Kitô
là mẫu gương cho những người
này (GlCg92 các số 1618-1620).
4* Mục đích Bí tích Hôn phối là gì?
Mục đích Bí tích Hôn phối (Mt 19,6 Ep 5, 25)
là để đôi vợ chồng lãnh nhận
ơn thánh hướng về lợi ích của
đôi bạn, và lợi ích cho con cái qua việc
sinh sản và dưỡng dục chúng.
Tự bản chất, hôn phối và tình yêu vợ
chồng hướng về sinh sản và giáo dục
con cái. Ðây là đỉnh cao của hôn nhân (GlCg92
số 1652). Cha mẹ truyền lại cho con đời
sống luân lý, tinh thần và siêu nhiên. Cha mẹ
là những nhà giáo dục đầu tiên của
con cái (GlCg92 số 1653).
Ð-Dù không được Chúa ban con cái, vợ chồng
vẫn có cuộc đời hôn nhân đầy
đủ ý nghĩa. Cuộc hôn nhân của họ
tỏa sáng sự phong phú của bác ái vì đón
nhận và hi sinh (GlCg92 số 1654).
5* Ðiều kiện để lập giao Ước
Hôn nhân thành sự là gì?
-
Là một người nam, một người
nữ, đã được Rửa tội, được
tự do kết hôn, phải nói lên sự ưng
thuận này (GlCg92 số 1625).
Tự do nghĩa là không bị cưỡng ép,
không bị cản trở luật tự nhiên hoặc
luật Giáo hội. Ưng thuận tự do là
điều không thể thiếu trong việc thành
hôn. Không có sự ưng thuận, sẽ không có
hôn phối (GlCg92 số 1626).
Sự ưng thuận là hành vi ý chí, không bị
bạo lực hoặc sợ hãi nghiêm trọng
(GlCg92 số 1628).
(Sự ưng thuận phải là hành vi nhân linh
(gồm trí khôn và ý muốn), nói lên vợ chồng
hiến thân cho nhau:
"Anh (em) nhận em (anh). . . làm vợ (chồng)
và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với
em (anh) khi thịnh vượng cũng như lúc
gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh
khỏe, để yêu thương và tôn trọng
em (anh) mọi ngày suốt đời anh (em".
6* Có cần chuẩn bị thành hôn không?
-
Ðể lời thưa ưng thuận của hai
vợ chồng thật sự là một hành vi
tự do và có trách nhiệm, và để giao ước
hôn nhân có những nền tảng con người
và người Công giáo được vững
chắc bền bỉ, rất cần chuẩn
bị hôn nhân (GlCg92 số 1632).
7* Ðặc tính của Bí tích Hôn phối là gì?
Hai đặc tính của Hôn nhân là Duy nhất (unity)
và Bất khả hủy (indissolubility) (GlCg92 số
1644). Nói cách khác là yêu Mãi- Một người, không
li dị.
8* Cử hành Bí tích Hôn phối thế nào?
-
Nghi thức Hôn phối thường được
cử hành trong Thánh lễ. Sự hiến thân cho
nhau trọn đời của hai người
được kết hợp với việc
Chúa Kitô hiến thân cho Giáo hội, họ rước
Mình Máu Chúa để làm nên một thân thể trong
Chúa Kitô (GlCg92 số 1621)
Ð-Trước khi lãnh Bí tích Hôn nhân thành hiệu,
xứng đáng và sinh hoa trái, đôi vợ chồng
cần lãnh nhận Bí tích Cáo giải (GlCg92 số
1622) và Bí tích Thêm sức, nếu chưa lãnh, và
nếu không có khó khăn nặng (GL điều
1065).
9* Ai là thừa tác viên trong nghi thức Hôn phối?
-
Chính đôi vợ chồng là thừa tác viên cho
nhau, họ bày tỏ sự ưng thuận của
mình trước Giáo hội (GlCg92 số 1623).
10* Thừa tác viên của Giáo hội đứng
đó làm gì?
-
Linh mục và Phó tế chỉ là người chứng
kiến nhân Danh Giáo hội, ban phép lành, sự hiện
diện này nói lên hôn nhân Công giáo là một thực
tại của Giáo hội (GlCg92 số 1630).
11* Tại sao Giáo hội buộc tín hữu cử
hành hôn phối theo thể thức của Giáo hội?
-
Vì 4 lý do sau: - 1.Bí tích hôn nhân là hành vi phụng
vụ, - 2. Hôn nhân là một bậc sống trong
Giáo hội, có quyền lợi và bổn phận
giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái, 3.
Cần phải có sự chắc chắn về
sự kết hôn nên cần người làm chứng,
- 4. Tính chất công khai của sự ưng thuận
sẽ giúp cho dễ trung thành hơn với lời
hứa ưng thuận của hai người
hơn (GlCg92 số 1631).
12* Giáo hội có cho kết hôn với người
ngoài Công giáo không?
-
Giáo hội cho phép kết hôn với người
rửa tội ở tôn giáo khác, hoặc những
người không rửa tội, nhưng Giáo hội
đòi hỏi sự chú ý đặc biệt thận
trọng của người phối ngẫu và
các vị chủ chăn. Giáo hội khuyên không
nên "coi nhẹ những khó khăn của những
cuộc hôn nhân hỗn hợp này, thảm kịch
chia rẽ tôn giáo ngay tại gia đình mình, quan
niệm về hôn phối, sẽ trở thành căng
thẳng trong hôn nhân, trong việc giáo dục con
cái. Có thể từ đó sinh ơ hờ với
đạo của mình (GlCg92 số 1633-1635).
13* Ðâu là hiệu quả của Bí tích Hôn Phối?
-
Hôn phối đã thành, sinh ra hiệu quả là
Sự Ràng buộc Ðộc quyền và Vĩnh viễn,
như là đặc tính của Bí tích Hôn phối.
Hôn phối này được Chúa ban sức mạnh,
được thánh hiến bằng Bí tích đặc
biệt để lo các bổn phận và sự
quí trọng của bậc sống (GlCg92 số
1638).
"Sau khi thành hôn "Cả hai vợ chồng
đều có nhiệm vụ và quyền lợi
bằng nhau trong tất cả những gì liên hệ
đến đời sống chung của vợ
chồng" (GL điều 1135).
14* Những lợi ích và những đòi hỏi
của tình yêu Phu thê là gì?
- Tình yêu
này đòi tính bất khả đoạn tiêu và
sự trung thành trong việc trao ban dứt khoát
cho nhau và mở ra về hướng sinh sản
con cái (GlCg92 số 1643-1654).
Ð- Dù xem ra khó, vì phải trói buộc suốt đời
với một người, điều quan trọng
là loan báo Tin mừng Thiên Chúa yêu thương bằng
một tình yêu chung thủy. Với ân sủng của
Chúa, họ là chứng nhân, họ đáng được
biết ơn và được cộng đoàn
Giáo hội nâng đỡ (GlCg92 1648).
15* Giáo
hội có chấp nhận cho ly thân không?
-
Có những tình trạng không thể duy trì sự
sống chung được, vì nhiều lý do, khi
ấy Giáo hội chấp nhận cho ly thân, nhưng
họ không được kết hôn với người
khác. Họ rất nên hoà giải với nhau (GlCg92
số 1649). Có thể coi thêm GL các điều
1151-1155.
16* Giáo hội có thể tuyên bố hôn nhân vô hiệu
không?
- Nếu cuộc hôn phối không thành, Giáo
hội sẽ tuyên bố vô hiệu, sau khi toà án
có thẩm quyền của Giáo hội đã xem
xét tình trạng đó. Khi đã tuyên bố bằng
giấy tờ rồi, hai người được
tự do thành hôn với người khác, những
nghĩa vụ tự nhiên của sự phối
hợp trước đó được bãi bỏ
(discharged)(GlCg92 số 1629).
17* Khi tái hôn trái luật Giáo hội, có được
Rước lễ không?
-
Nhiều người Công giáo dựa vào ly dị
dân luật để tái hôn. Giáo hội không thể
nhận hôn phối mới này là thành hiệu, nếu
cuộc hôn nhân trước đã thành. Do đó,
họ không thể được Rước
lễ bao lâu còn tình trạng này. Họ cũng
không được thi hành một số trách nhiệm
trong Giáo hội. Họ chỉ được
lãnh Bí tích Cáo giải, nếu họ thành thực
hối hận và quyết chí sống trong khiết
tịnh.
Ð- Tuy nhiên, Giáo hội và cộng đồng vẫn
mời họ tham dự sinh hoạt của Giáo
hội, mời họ Nghe Lời Chúa, dự Thánh
lễ, kiên trì cầu nguyện, đóng góp công
việc từ thiện, giáo dục con cái trong
đức tin, hằng ngày sám hối xin ơn
tha thứ (GlCg92 số 1650-51)đ.
18* Sao
gọi gia đình là Giáo hội tại gia?
-
Vì Chúa Kitô đã sinh ra và lớn lên trong gia đình
thánh, vì thế các gia đình cũng cần trở
nên các Giáo hội nhỏ, trong đó các phần
tử thánh hoá nhau, truyền giáo cho nhau bằng
lời nói và gương sáng đức tin: cầu
nguyện, từ bỏ mình (tập chịu đựng),
và bác ái (GlCg92 số 1655-57).
Các Phụ tích (Sacramentals) trong đạo Công giáo
có ý nghĩa gì? (GlCg92 số 1671)
Ngoài bảy Bí tích kể trên, Giáo hội còn có những
nghi thức dâng hiến, làm phép ảnh tượng,
người và đồ vật, trừ quỉ.
. . Những nghi thức này gọi là Phụ tích.
Theo giáo huấn của Công đồng Vatican II
: " Nhờ các Phụ tích (còn gọi là Á Bí tích),
con người được chuẩn bị
lãnh nhận hiệu quả chính của các Bí tích
và thánh hoá những hoàn cảnh khác biệt trong
cuộc sống" (PV 60).
2. Thảo luận:
*
Thánh lễ Misa đem lại những lợi ích
gì cho người Công giáo? Tại sao nhiều người
không muốn dự lễ và Rước lễ?
3. Câu hỏi ôn:
1. Rửa
tội khi sẩy thai thế nào? (1.1)
2. Mục
đích của Bí tích Thêm sức là gì (1.2)
3. Những
ơn ích của việc Rước lễ (1.3.)
4. Ai cần
lãnh Bí tích Cáo giải? (1.4.).
5. Ai cần
lãnh Bí tích Xức dầu Bệnh nhân? (1.5).
6. Mục
đích của Bí tích Truyền chức? (1.6.)
7. Mục
đích của Bí tích Hôn phối? (1.7)
Ðề nghị
- Thực
tập cách rửa tội
- Tìm hiểu
truyện thánh Bổn mạng của mỗi người.
Bài đọc thêm
Ðiều Thiên Chúa Ðã Liên Kết
Chúa Kitô dạy: "Ðiều gì Thiên Chúa kết
hợp loài người không được phân
ly" (Mt 19, 6).
Nhưng trong thực tế, "nơi nhiều
quốc gia, biết bao người Công giáo đã
li dị theo dân sự và kí kết hôn ước
mới theo dân sự" (GlCg92 số 1650).
Hướng
dẫn của Giáo hội về điều này:
- Khi một bên ngoại tình mà bên vô tội không
tha thứ rõ ràng hoặc hiểu ngậm (nếu
trong 6 tháng, kể từ khi bên vô tội biết
việc người phối ngẫu ngoại
tình, mà họ không nói gì, hoặc họ tự ý
chấp nhận giao hợp với người
ấy, thì coi như họ tha). Nếu bên vô tội
tự ý không sống chung nữa, thì trong 6 tháng
phải trình lên Bản quyền Giáo phận. -
Nếu một bên gây nguy hiểm nặng phần
hồn hoặc phần xác cho bên kia hoặc
cho con cái, - Nếu làm cho đời sống chung
nên quá cơ cực, thì có thể xin Ðấng Bản
quyền để li thân (separation) (GL các điều
1152- 1153). Khi đã li thân, phải liệu việc
chu cấp và giáo dục con cái theo lẽ phải
(GL điều 1154).
Sách Giáo lý Công giáo 92 nói thêm:
"Giáo hội cho phép vợ chồng li thân và
đình chỉ việc sống chung, nhưng họ
vẫn luôn là vợ chồng trước Thiên
Chúa. Họ không được tự do ký kết
một cuộc hôn nhân mới. "Ai li dị
mà cưới vợ khác, chồng khác là phạm
tội ngoại tình" Mc 10,11-12). Trung thành với
lời dạy của Ðức Kitô, Giáo hội không
thể nhìn nhận hôn ước mới thành sự,
nếu hôn ước đầu đã thành. Những
người li dị rồi tái hôn theo dân sự,
họ sẽ lâm vào tình trạng tự ý phạm
luật Chúa. Do đó, họ không được
lãnh Bí tích Thánh Thể bao lâu còn tình trạng đó.
. .Giáo hội cũng chỉ ban ơn Bí tích Hoà
giải cho những tín hữu đã hối lỗi
đã xúc phạm đến giao ước và lòng
trung thành với Ðức Kitô, để trở
về sống hoàn toàn tự chế.
"Trong tình trạng khó khăn này, giải pháp
tốt nhất vẫn là cố gắng hoà giải.
"Giáo hội mời họ lắng nghe Lời
Chúa, dự thánh lễ, kiên tâm cầu nguyện,
đóng góp việc bác ái từ thiện, đóng
góp cho cộng đoàn theo lẽ công bình, nuôi dạy
con cái theo đức tin Công giáo, thực tập
tinh thần sám hối để kêu cầu ơn
Chúa mỗi ngày (GlCg92 các số 1649-1651).
Tại Hoa kỳ và một số quốc gia, ít
có li thân theo giáo luật, người ta thường
tự li thân hoặc li dị toà đời. Những
người li thân và li dị này, nếu sống
đạo và không tái kết hôn ngoài Giáo hội,
họ vẫn có thể lãnh Bí tích (John M. Huels, The
Canon Law for The Laity, Franciscan Herald Press, 1983, p. 87).
|