Suy Niệm chúa nhật 12 thường niên, năm A

Lm. Jude Siciliano, OP

CAN ĐẢM GIỮA NHỮNG THỬ THÁCH

 

Thưa quý vị, 

Làm ngôn sứ của Thiên Chúa, cá nhân hay tập thể, không phải là chuyện dễ, lại càng không phải là an nhàn thư thái. Ngược lại nó đòi hỏi nhiều gian truân, khốn đốn. Có khi phải hy sinh cả tính mạng. Vì vậy, bài đọc I trích sách tiên tri Giêrêmia và đọc 3 nói về số phận các môn đệ Chúa Giê-su, đầy rẫy những từ ngữ mang tính đe doạ, gây sợ hãi như kinh hoàng, tố cáo, mắc bẫy, trả thù, khiếp sợ, rỉ tai, âm mưu... Kìa lão “kinh hoàng tứ phía”, chúng ta hãy tố cáo nó đi. Tất cả bạn bè thân thích đều rình xem con vấp ngã. Họ nói: Biết đâu nó chẳng mắc lừa, rồi chúng ta sẽ thắng và trả thù được nó”. Giọng điệu bài Tin Mừng nói về số phận các tông đồ tuy kém gay gắt hơn nhưng vẫn đậm màu sợ hãi: “Anh em đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn...” Cũng những từ giết chết, khước từ, bí mật, kinh hãi, sợ sệt... Tại sao vậy? Tại số phận của các ngôn sứ Thiên Chúa là như thế.  

Phụng vụ chọn các bài đọc để chúng hoà hợp với nhau, bài nọ bổ túc cho bài kia, gởi đến chúng ta một sứ điệp về số phận các môn đệ Chúa. Chúng ta nhìn kỹ hơn các nguyên nhân gây nên tình trạng ấy? Những ai sống đúng ơn gọi đều cảm nghiệm những “chống đối” của thế gian, xác thịt và satan... Đúng như Chúa Giê-su đã nói trong Phúc âm Gio-an: “Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em...” (15,18). Tuần lễ vừa qua chúng ta nghe về ơn gọi của dân tộc Ít-ra-en, được Thiên Chúa chọn làm dân riêng, làm dân thánh giữa các quốc gia (Xh 12,2-6). Tương tự, Giê-rê-mi-a được gọi làm ngôn sứ và các môn đệ được Chúa Giê-su chọn làm tông đồ, ban quyền năng rao giảng Nước Trời, đều phải chịu chung một số phận bị ghen ghét, ngược đãi, mặc dầu công việc của họ là cao quý, tức làm phát ngôn viên của Đức Chúa Trời, công bố tình thương xót của Thiên Chúa và kêu gọi thiên hạ sống đáp trả bằng hình thức yêu thương và hành động công bằng đối với tha nhân. Chúa Giê-su còn đi xa hơn, loan báo và thiết lập “Nước Đức Chúa Trời” giữa nhân loại. Một hiện thực Thiên Chúa ngự giữa nhân loại. Một cộng đồng thi hành công bình, bác ái đến mức trọn hảo. 

Bài Tin Mừng hôm nay, như vậy, là hệ quả của Tin Mừng tuần trước. Chúa chọn lựa các tông đồ, sai phái các ông đi vào đồng lúa chín vàng, những đám đông vất vưởng như đàn chiên không có người chăn. Hôm nay Chúa báo trước cho họ số phận của mình, họ sẽ gặp chống đối gay gắt từ thế lực hoả ngục. Satan và tay sai nhất tề nổi dậy quyết sống mái với các thợ gặt Nước Trời. Ngày nay chúng ta vẫn cảm nghiệm như vậy. Giống như Giê-rê-mi-a và các tông đồ, Hội Thánh vẫn chịu bách hại đến mức độ tử đạo. Chỉ những thợ gặt trá hình ngon ngọt với thế gian là được an bình. Tiên tri Giê-rê-mi-a đã tuân thủ lời Chúa kêu gọi, cảnh cáo các vua chúa quan quyền, các thế lực đền thờ, và toàn thể nhà Giu-đa sẽ bị trao vào tay đế quốc Ba-by-lon nếu không ăn năn trở về với Thiên Chúa (20,1-6). Họ đã bịt tai, tẩy chay, bắt bớ, đánh đòn và giam ông vào ngục tối, bắt đeo gông cùm. Giê-rê-mi-a không ngờ mình phải chịu số phận nặng nề đến thế khi vâng lệnh làm ngôn sứ. Ông nói, ông đã bị Thiên Chúa “lừa” vào sứ vụ: “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ. Ngài mạnh hơn con và Ngài đã thắng, suốt ngày con đã nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con” (20,7). Ông phàn nàn một cách cay đắng số phận làm ngôn sứ cho Chúa trong một thế giới ương ngạnh. Bây giờ ông muốn im lặng cũng chẳng được, bởi lời Ngài như bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt (20,4). 

Tuy vậy, ông vẫn tin vào Thiên Chúa và trung thành với sứ vụ, bất chấp những khốn đốn, kiệt quệ vì đồng bào, vì quyền lực đền thờ, ngay cả vì thân thích bạn bè: “Tất cả những bạn bè thân thích đều rình xem con vấp ngã. Họ nói: Biết đâu nó chẳng mắc lừa, rồi chúng ta sẽ thắng và trả thù được nó.” Cố gắng thi hành ý Chúa như lương tâm mình phân định, sẽ luôn luôn đặt chúng ta trước sự chống đối của kẻ khác, ngay cả họ hàng thân thích, vì não trạng nô lệ tư tưởng hiện hành, những giá trị lừa dối, xu thời. Giê-rê-mi-a ở trong hoàn cảnh này và ngày nay những linh hồn lành thánh cũng vậy. Họ sẽ phải hứng chịu thù địch, chỉ trích ở ngay những nơi xem ra là thân thiện, nâng đỡ, ủng hộ, khích lệ, giữa gia đình, bạn bè, giáo xứ, tu hội. Trong cơn đau đớn thể xác và tâm hồn Giê-rê-mi-a cảm thấy bị bỏ rơi, bị Thiên Chúa trừng phạt. Nhưng thực sự Ngài luôn nâng đỡ ông. Người ta đo thành công ở thế gian bằng tiếng tăm và của cải hữu hình như giàu có, vàng bạc, nhà cửa. Còn người tín hữu bằng tiêu chuẩn nào? Nếu thiếu đức tin chúng ta cũng giống như vậy thôi. Khi gặp tai ương hoạn nạn, thiệt hại về tinh thần, vật chất chúng ta cũng nghĩ bị Chúa trừng phạt và không được Ngài yêu thương ban phước. Trường hợp của Giê-rê-mi-a chứng minh ngược lại. Càng trung thành với Thiên Chúa, ông càng bị đồng bào tẩy chay, hành xích. Nhưng đó chỉ là bề mặt. Thiên Chúa vẫn kiện cường, bảo vệ và chúc phúc cho ông. 

Vậy thì chúng ta phải xử trí ra sao? Chúng ta thấy nhiều lần ông than van với Thiên Chúa, ngay cả trách móc Ngài. Chúng ta có được phép làm như vậy không? Khi còn ở trung học, chúng tôi phải nghiên cứu từ jeremiad. Xem trong từ điển thì thấy định nghĩa là: Lời than vãn kéo dài và công phu. Dĩ nhiên từ này xuất phát từ tên của ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Ông ta luôn phàn nàn trách cứ Thiên Chúa. Nhưng đức tin của ông không thể bàn cãi. Ông hoàn toàn tin cậy Thiên Chúa, đến độ có thể nói là ngây thơ. Khi hoàn cảnh chống lại ông một cách khắc nghiệt, bị đánh đòn, bị đeo gông, bị cùm chân ông vẫn không tháo lui, nản chí. Ông hiên ngang rao giảng sứ điệp Thiên Chúa trao, bất chấp các đau khổ, khốn đốn. Tuy nhiên, ông đã nhiều lần than van cho số phận mình. Có lẽ chúng ta cũng được phép làm như vậy, khi vì ơn gọi mà phải gánh chịu cay đắng, miễn là giữ vững đức tin. 

Cộng đoàn Thánh Matthêu chắc chắn đã phải trải qua kinh nghiệm của tiên tri Giê-rê-mi-a nhiều lần. Họ sống và rao giảng đức tin vào Chúa Giê-su Ki-tô trong môi trường không thuận lợi và đã cảm nghiệm sự chống đối của đồng bào chung quanh. Cũng giống như ngôn sứ Giê-rê-mi-a họ than thân trách phận vì tình hình không được như ý muốn. Ngược lại bị bách hại và xua đuổi, nếu không, thánh sử chẳng khi nào ghi lại lời an ủi của Chúa Giê-su cho những hoàn cảnh tương tự. Chúa nhắc nhớ các môn đệ: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước.” (Ga 15,18) Nó bách hại anh em vì nó đã đóng đanh Thầy. Ngụ ngôn hai con chim sẻ bao hàm một điềm dữ. Chúng rơi xuống đất có ý nghĩa chính các môn đệ sẽ phải đối mặt với cái chết. Tuy nhiên, việc nhỏ nhặt như vậy mà Thiên Chúa không bỏ qua, huống hồ số phận của các kẻ theo Chúa! Tôi chẳng hiểu sau này mình có bị giết chết hay bỏ tù vì đức tin hay không? Và lúc ấy sẽ sợ hãi như thế nào? Nhưng điều chắc chắn là phải trả giá vì tín ngưỡng của mình, dù đắt dù rẻ nhưng vẫn là một cái giá, có khi là đau khổ, phải hy sinh, bị chê cười, nhạo báng, nhục mạ… như xưa nay các tín hữu trung kiên vẫn thường phải chịu.

 Thói thường của người rao hàng dùng giọng nói cao và lạc quan để giới thiệu món hàng của mình: trái thơm ngon ngọt, sản phẩm cao cấp, chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, xe hơi hiện đại, đầy đủ tiện nghi, máy lạnh đa năng, ngôi nhà thông minh… chẳng hiểu Chúa Giê-su có học hỏi kỹ thuật tiếp thị của thời đại Ngài hay không? Còn cứ như Phúc âm hôm nay thì Ngài quá chân thật, nói với các tông đồ vừa chọn lựa, cần nâng đỡ thì lại dùng ngôn từ chẳng giống ai: sợ hãi, đau khổ, chết chóc, kinh hoàng trong các môi trường thù nghịch. Đúng lý, Ngài phải hứa hẹn với họ: vinh quang, địa vị, quyền cao chức trọng, bánh vẽ… Nhưng suốt trong bài đọc ba không thấy lời nào như vậy cả, phải can đảm lắm mới có thể làm môn đệ Ngài! Ngày nay chúng ta theo Ngài vì đã được mặc khải, được hiểu rõ tương lai theo Chúa là gì. Vào thời ấy mọi sự vẫn còn mù mờ, vẫn còn phải đánh bạc với số phận.

 Tuy nhiên, dù chương trình của họ trước quyền bính thế gian có khiêm nhường, nhỏ bé, vô nghĩa, họ cũng không phải tự ty mặc cảm hoặc sợ hãi trước những vĩ đại của thế gian. Vì trong lúc này, tin mừng phải giấu diếm, rỉ tai. Mầu nhiệm nước trời chỉ được loan báo trong số nhỏ dân chúng. Chúa Giê-su rao giảng trong bóng tối, sứ điệp của Ngài phải nói thầm lén. Nhưng sẽ có ngày tất cả được công bố, mặc khải, được biết đến: “Điều Thầy nói với anh em, lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà mà rao giảng.” Bởi vì chân lý không thể giấu diếm được. Nó thuộc sở hữu chung của nhân loại, là ngọn đèn pha dẫn lối cho loài người, không ai thắp đèn rồi lấy thùng mà đậy lại. Không có lý do gì mà người ta phải xấu hổ về sự thật. Cho nên, các tín hữu có nhiệm vụ loan báo chân lý của Chúa Giê-su cho toàn thể nhân loại, bất chấp hoàn cảnh ngược lại. Sống đức tin vào Chúa Giê-su có thể bị chèn ép bởi những lời hô hoán điếc tai của thế gian, những quyết định áp đảo của quyền lực thế tục ảnh hưởng tới tương lai thế giới. Nhưng cuối cùng đường lối tiếp cận sự sống của Ki-tô giáo vẫn là chân lý toàn thắng. Lịch sử loài người nhiều lần đã khẳng định như vậy. Những ý thức hệ vô đạo, những triết lý ngoại giáo, luôn luôn phải nhường bước cho giáo lý của Chúa Giê-su.

 Cho nên, Chúa truyền các môn đệ rao giảng chân lý ấy trên mái nhà, nơi công trường. Nhưng làm thế nào? Một số người trong lịch sử thực sự đã làm như vậy. Họ là những nhà hùng biện vĩ đại đứng trên đỉnh cao mà rao giảng cho mọi người xem được, nghe được. Tuy nhiên, đa phần chúng ta sợ hãi đỉnh cao và yêu thích vị trí khiêm tốn hơn, dù vẫn đòi hỏi can đảm. Mới đây tôi đọc được một câu châm ngôn của Brazin: “Từ điểm bạn đứng, bạn suy nghĩ”. Chúng ta được Chúa mời gọi đứng chung trên mảnh đất với Ngài, thì chúng ta cũng phải suy nghĩ như Ngài. Trái tim chúng ta đồng nhịp đập với trái tim Ngài. Nếu như chúng ta cùng đứng với Chúa Giê-su, chúng ta phải làm thế nào để đời sống và hành vi của mình được thế gian biết tới như có nguồn mạch từ Chúa Giê-su. Đó là phương pháp chúng ta rao giảng nơi quảng trường, trên mái nhà. Đáng tiếc hành động của chúng ta nhiều khi trái nghịch với những điều rao giảng, thì làm sao mang danh là môn đệ Chúa Giê-su? Ngài đã cho chúng ta dấu hiệu để làm môn đệ thực sự của Ngài khi rao giảng. Đó là đứng chung đất với Ngài về lương thiện, tha thứ, tốt bụng, quan tâm, tín thác, ân cần, nhưng đức tính mà sẽ gây chống đối từ phía thế gian. Đúng như sứ điệp của Ngài đã dẫn Ngài đến cái chết thê thảm trên thập giá. Ngài ý thức rất rõ sự kiện ấy sẽ xảy tới cho các kẻ trung thành theo Ngài, cho nên Ngài bảo họ: “Anh em đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn”. Bởi vì họ có quyền trên thân xác mà thôi. Thiên Chúa mới có quyền lực tối thượng và hoàn toàn, có thể “huỷ diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục”. Nhưng môn đệ không phải sợ quyền năng của Thiên Chúa, bởi vì Ngài chăm sóc chúng ta cho đến sợi tóc trên đầu. Con chim sẻ bay nhảy trên bầu trời chẳng đáng giá là bao, thế mà không con nào rơi xuống đất ngoài ý muốn của Thiên Chúa, huống chi tính mạng của con cái Ngài?

 Tuy nhiên điều bảo đảm này không loại trừ những khốn khó thử thách ra khỏi cuộc sống các tôi tớ Chúa. Ngược lại, như tiên tri Giê-rê-mi-a nói lên trong bài đọc I, chính ông phải hứng chịu tình cảnh kinh hoàng (tứ phía kinh hoàng), vì bị bỏ rơi, trừng phạt, khiếp sợ, trước mặt quân thù, thì các nhà rao giảng tân thời làm sao tránh khỏi? Bởi vậy, tìm kiếm địa vị, sang giàu, quyền bính, tiếng tăm, sung sướng trong sứ vụ rao giảng là điều không tưởng, trừ phi chúng ta giả hình như nhóm Biệt phái. Tai hại thay ngày nay nhóm này rất đông, tới chỗ nào cũng gặp, ngay cả trong các tu viện, giáo xứ, hội đoàn. Con đường của những kẻ theo Chúa là con đường khổ nạn. Chúa Giê-su đã dùng hình ảnh đôi chim sẻ gãy cánh rơi xuống đất, chết banh thây để mô tả những nhà rao giảng lời Chúa. Đồng thời Ngài cũng bảo đảm rằng Đức Chúa Trời vẫn quan tâm tới họ, dù phải ngụp lặn trong gian truân. Chúa Giê-su cũng tuyên bố công nhận người ấy trước mặt Thiên Chúa trong ngày phán xét chung. Tuần trước Ngài gọi và chọn chúng ta. Gởi chúng ta đi rao giảng Nước Trời, bởi Ngài thương đám dân nghèo khổ vất vưởng. Chúng ta nên phản ánh ơn kêu gọi, bằng cuộc sống Ngài mô tả trong Phúc âm hôm nay. Chẳng có hành động bác ái nào hơn là ban bản thân mình trong nếp sống thánh thiện mà Chúa đòi hỏi. Các hành động chỉ là bề ngoài, mạng sống mới là căn bản. Hành động mà không có nếp sống thánh thiện chẳng qua vẫn là giả hình. Trong một thế giới đầy bất công, độc ác, lừa đảo, âm mưu, sống cho xứng đáng danh hiệu môn đệ Chúa quả là khó khăn, cần nhiều can đảm và ơn Chúa. It is easier said than done (nói thì dễ làm thì khó) câu ngạn ngữ tiếng Anh là điều chúng ta phải luôn suy gẫm trong sứ vụ làm con Chúa. Xin Ngài ban thêm đức tin và nghị lực trong thánh lễ hôm nay. A-men.

Chúa Nhật XII Thường Niên - A -
Giêrêmia 20: 10-13; Tv. 68; Rôma 5: 12-15; Mátthêu 10: 26-33

Các ngôn sứ không biết lúc nào phải câm miệng. Nếu họ biết thì chắc họ đã không gặp khó khăn trong đời sống họ. Ngôn sứ Giêrêmia là một thí dụ đáng kể về một ngôn sứ không câm miệng được. Ông ta được Thiên Chúa gọi làm ngôn sứ trong một thời rất loạn lạc ở Israel. Các lãnh đạo chính trị đã định liên kết với các nước khác để giữ an toàn cho nước Israel. Ngôn sứ Giêrêmia buộc tội họ là họ đã không tin tưởng vào Thiên Chúa, và quay lại tin vào các nước thế gian. Ông ta tiên đoán Giêrusalem sẽ bị phá hoại và dân chúng sẽ phải bị bắt đi tù đày. Vì thế ông ta không hòa hợp với các người thời đó, và nhất là các lãnh đạo tôn giáo. Thầy tư tế Paskhur cho người ta bắt Giêrêmia và đánh đòn ông ta vì cho ông ta là người phản bội.

Sau khi ông Giêrêmia được thả ra, ông ta vẫn tiếp tục tiên đoán về sự phá hoại Giêrusalem và dân chúng sẽ bị bắt đi tù đày. Mọi sự rất khó khăn cho Giêrêmia vì các bạn ông ta chỉ còn chờ đợi ngày ông ta bị sẩy ngã. Ngay trước đoạn sách đọc hôm nay lời nói của ông Giêrêmia đầy chán nản, khổ đau với Thiên Chúa "Người đã dụ dỗ tôi, lạy Đức Chúa, và tôi đã để mình bị dụ, Người đã uy hiếp tôi và đã thắng”. Giêrêmia cho là Thiên Chúa đã dụ dỗ ông ta làm ngôn sứ. Ông ta không biết làm ngôn sứ là gì, và ông ta thưa "vâng" khi được Chúa gọi. Đó là một việc thường xãy ra, không phải chỉ riêng cho những người được gọi làm ngôn sứ, nhưng cho tất cả những ai đã thưa "vâng" khi được Chúa gọi. Hình như trong tất cả mọi giáo xứ tôi đã đi giảng đều có người có chức vụ nói "tôi không hề biết tôi sẽ làm gì trong chức vụ tôi nhận" . Trong lúc không phải chỉ toàn lời than phiền, những điều đó chứng tỏ là họ dấn thân vào một việc mà họ không biết trước.

Nhưng, với ông Giêrêmia đó là một lời than phiền. Việc làm ngôn sứ của ông ta đòi hỏi nhiều khó khăn. Ai có thể trách ông ta đã than phiền với Thiên Chúa? (Ông than phiền quá nhiều, nên tên ông ta được chỉ định có nghĩa là "lời than phiền"). Dù vậy bài đọc hôm nay không chấm dứt lời than phiền. Bạn có để ý ông Giêrêmia nói từ "nhưng" hay không? Và đó là lúc lời văn thay đổi. Sau khi ông ta nói lên lời về hoàn cảnh vô vọng, từ trong thâm tâm đức tin của ông ta có lời "nhưng Đức Chúa ở với tôi".

Hôm nay, một cách riêng, chúng ta có thể cầu xin cho được đức tin đó, nếu như ông Giêrêmia, chúng ta đến tận cùng đường và sức lực loài người không còn nữa, hay hoặc đến tận sức lực. Sự kinh hoàng có thể đến, như ông Giêrêmia đã làm như là kết quả của việc làm hay lời nói về điều ngay thật và chính đáng. Hay, chúng ta có thể bị đau đớn về vật chất, gia đình bị tan rả, khi bị kỳ thị, bị mất việc làm, bị say nghiện v. v. chúng ta có thể cầu xin được đức tin đó. Cũng như ông Giêrêmia, chúng ta biết là bởi chúng ta, chúng ta không đủ sức lực khi chúng ta cần. Hãy nhớ từ "nhưng". Trong ý nghĩa là "Đức Chúa đang ở với tôi ".

Với ông Giêrêmia, Thiên Chúa có thật và có mặt ở đó, không xa cách kinh nghiệm ông ta đang chịu. Thiên Chúa cũng là Đấng riêng biệt với ông ta. Thiên Chúa là một người bạn mà ông ta có thể nói lời giận hờn và chán nản, nhưng cũng là một người bạn đáng tín nhiệm, đáng tựa vào, và chúng ta cũng vậy.

Ông Giêrêmia nói vài lời chứng tỏ một kinh nghiệm rất thiêng liêng. Ông ta bắt đầu lên tiếng nói về những chống đối sứ vụ của ông ta, ngay cả lời đàm tiếu từ phía kinh hoàng của những người thân tín của ông ta. Rồi ông ta lại nói lên lời đức tin của ông ta vào Thiên Chúa cao cả như một dũng tướng vạn năng. Điều này đưa đến bài ca ngợi hát mừng Thiên Chúa mà ông ta đã đặt hết niềm tin vào Người là "Đấng đã kéo mạng kẻ khó khỏi tay lũ ác nhân".

Sự tín thác lại của Giêrêmia là Thiên Chúa sẽ luôn ở với ông và ban sức lực cho ông trong những lúc ông ta bị thử thách được diễn tả trong bài phúc âm. Chúa Giêsu, một vị phụ huynh yêu thương, cho các môn đệ thêm tin tưởng là Thiên Chúa sẽ ở với các ông trong những lúc khó khăn làm môn đệ Ngài.

Tôi quý lời giải thích của bà Patricia Datchuck Sanchez về lời: "không một con chim sẽ nào rơi xuống đất ngoài ý Chúa Cha của anh em". Tôi thường nghĩ là Thiên Chúa để ý đến sự chết, ngay cả sự chết của một người bé nhỏ nhất theo Chúa Giêsu. Thật ra thì lời dịch đúng phải là "không một con chim sẽ nào nằm trên mặt đất..." Thiên Chúa không chỉ biết khi con chim sẽ chết, nhưng mỗi khi con chim nằm trên mặt đất. Biết bao nhiêu lần con chim đậu xuống đất rồi bay đi ? Thiên Chúa đều để ý mỗi lần chim đậu xuống. Chúa Giêsu không chỉ nói về chim sẽ phải không? Nhưng Ngài nói về mỗi việc làm của các môn đệ, nhất là khi chúng ta làm việc cho Ngài trên thế giới.

Bài phúc âm hôm nay là phần của bải giảng về Sứ Mệnh Truyền Giáo trong phúc âm thánh Mátthêu. Chúa Giêsu gởi các môn đệ đi giảng cho thế giới, và Ngài cam đoan với các ông là Thiên Chúa sẽ lo lắng cho các ông trong tất cả những việc họ làm vì danh Ngài. Thiên Chúa cũng biết ngay cả tóc trên đầu chúng ta phải không? Lần nữa, chúng ta không nói đến tóc trên đầu phải không? Đó là một lần cam đoan nữa là Thiên Chúa để ý đến tất cả đời sống chúng ta. Chúa Giêsu khuyên bảo chúng ta hãy giữ vững đức tin qua những lúc khó nhăn do những chống đối vói các giá trị Kitô hữu trên thế gian. Giêrêmia và Chúa Giêsu cam đoan với chúng ta là Thiên Chúa luôn luôn yêu thương và lo lắng cho chúng ta.

Sợ hải trước khó khăn, nhất là những khi bi bắt hại là điều tự nhiên. Dù vậy, ba lần Chúa Giêsu nhắc chúng ta đừng sợ hải "Anh em đừng sợ". Thánh Mátthêu nói với cộng đoàn trong trường hợp họ đang sống: họ có lý do sợ hải. Họ đang bị bắt hại vi đức tin. Chúa Giêsu cam đoan với các môn đệ là đến giờ phán xét cuối cùng, sự thật sẽ được tỏ rõ ra. Trong khi chờ đợi, họ phải chịu gian khổ, vì họ là môn đệ của Ngài và "hãy lên mái nhà rao giảng sự thật”.

Việc làm môn đệ không phải là việc dễ dàng. Cũng như ông Giêrêmia, chúng ta sẽ phải gặp khó khăn về đức tin trong khi chúng ta gặp sự dữ trên thế gian. Chúng ta sống cả hai qua đức tin vì chúng ta không trông thấy sự dữ thua sự thiện, và hy vọng như Chúa Giêsu nói là "Thầy sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy". Chúa Giêsu cam đoan với chúng ta là, đến ngày cuối cùng Thiên Chúa ở với chúng ta và biết chúng ta một cách mật thiết hơn người khác. Người nào, mặc dù gần gủi chúng ta vẫn không biết bao nhiêu tóc trên đầu chúng ta được? Nhưng Thiên Chúa biết chúng ta, ở với chúng ta và vì thế chúng ta hy vọng chúng ta sẽ làm chứng nhân cho Chúa Giêsu và sẽ đương đầu với những khó khăn mà chúng ta sẽ gặp trong đời sống vì chúng ta là môn đệ của Ngài.

Chuyển ngữ: FX Trọng Yên, OP

12th Sunday in Ordinary Time (A)
Jeremiah 20: 10-13; Psalm 69; Romans 5: 12-15; Matthew 10: 26-33


Prophets just don’t know when to keep quiet! If they did they would wouldn’t have such a hard time in life. Jeremiah is a good example of a prophet with an unrestrained tongue. He was called by God to be a prophet in unsettled times in Israel’s history. The nation’s leaders had made political alliances as a way to secure security. Jeremiah accused them of turning from trusting God to the reliance on worldly powers. He prophesied the destruction of Jerusalem and exile for the people. This put him at odds with his contemporaries and especially the religious leaders. The priest Pashur had him arrested and scourged for his seeming betrayal.

After his release Jeremiah continued his prophecy of doom, destruction and exile. Things looked so bad for him that even his friends were waiting for his fall. Just prior to today’s passage Jeremiah voices his frustration, hurt and anger with God. "You duped me, O Lord, and I let myself be duped; you were too strong for me and you triumphed" (20:7). Jeremiah accused God of tricking him into his ministry. He didn’t know what he was taking on when he said "yes" to his mission. That’s a common experience, not only for those called to be prophets, but for all who have said "yes" to God’s call. It seems that in every parish where I preach there are people doing ministry who say, "I never knew what I was getting into." While that’s not always a complaint, it does express an involvement in service they didn’t anticipate at the beginning.

But it certainly was a complaint for Jeremiah. The demands put on him because of his prophetic ministry were severe. Who could blame him for his complaint to God? (So numerous were these complaints that his name is used to describe any complaint or lament – "jeremiads"). Today’s passage doesn’t end with "jeremiads" though. Did you notice the "but" Jeremiah speaks? That is where the passage turns. After he voices the seeming hopelessness of his situation, from somewhere down deep his faith interrupts. "But," the Lord is with me…."

We can pray for that faith today especially, if like Jeremiah, we are at the end of our rope and our human resources are not enough, or just worn out. The afflictions might come, as Jeremiah’s did, as a consequence of doing or saying what is right and just. Or, we might be suffering physical ailments, family breakdown, prejudice, unemployment, addiction, etc. Like Jeremiah we know that, on our own, we don’t have the strength or resources we need. Remember his "But." With him we trust "the Lord is with me."

For Jeremiah, God is real and present, not detached from what he is experiencing. God is also very personal, a friend to whom he can even voice anger and disappointment; but also a trusted friend, upon whom he can rely – and so can we.

In a few verses Jeremiah makes quite a spiritual journey! He begins by voicing the opposition he is facing in his mission, even the abandonment and whisperings of his friends. Then, he makes an act of faith in a mighty God who will be his champion. This leads to a hymn of praise for the God to whom he has entrusted his cause and who, "has rescued the life of the poor from the power of the wicked."

Jeremiah’s reassurance, that God would stand with him and strengthen him in his trials, is echoed in our gospel. Jesus, like a loving parent, reassures his disciples that God will stand with them in, what will be, a difficult discipleship.

I like the explanation Patricia Datchuck Sanchez gives to the familiar quote: not one sparrow "falls to the ground without your Father’s knowledge" ("Celebration: Preaching Resources, June 19, 2005). I always thought that meant God notices the deaths of even the least of Jesus’ followers. Actually, a clearer translation would be, "Not one sparrow lights upon the ground…." God doesn’t just know when a sparrow dies, but each time it lights upon the ground. How many times does a sparrow land and take off from the ground? Each time God takes notice. Jesus isn’t just talking about sparrows, is he? – but about each and every activity of his disciples. Especially when we are acting as his emissaries in the world.

Today’s text is part of the Missionary Discourse in Matthew. Jesus is sending his disciples out to preach to the world and he is assuring them of God’s care for them in everything they do in his name. God also knows how many hairs we have on our head. Again, we’re not talking about the hairs on our head are we? It is another assurance of God’s attentiveness to all of our lives. Jesus is encouraging us to keep strong in faith through hard times caused by the opposition our Christian values face in the world. Jeremiah and Jesus assure us that God’s loving care will always be with us.

Fear in the face of suffering, especially from persecution, is natural. Still, three times Jesus issues instructions about not being afraid. "Do not be afraid." Matthew was addressing his community’s present situation: there was reason to be afraid, they were being persecuted for their faith. Ultimately, in the final judgment, Jesus assures his followers, the truth will come out. Meanwhile, they will endure suffering because they are his followers and must still proclaim the truth openly – "proclaim on the housetops."

Disciples will not have it easy. Like Jeremiah we will have crises of faith as we face the evils of our world. We live both by faith because we do not see evil yielding to goodness and the hope that, as Jesus says, "I will acknowledge you before my Father." He assures us that, until the final reckoning, God is with us, knows us more intimately than any human. What human, no matter how close, knows the number of hairs on our head? God knows us, God is with us and so we have hope as we stand up for Jesus and face the difficulties life throws at us for being his disciples.

 

June 25, 2017