dongcong.net
 
 

Chia sẻ của LM Jude Siciliano, OP

Chúa Nhật V PHỤC SINH A-2014
Cv 6: 1-7; T.vịnh 32; 1 Phêrô 2: 4-9 Gioan 14: 1-12

HÃY TIN VÀO Thiên Chúa VÀ TIN VÀO THÀY

Người lạc quan nhìn nửa ly nước, thì thấy nước chứa đầy nửa ly. Cũng nửa ly nước ấy, người bi quan sẽ nói ly nước bị vơi đi một nửa. Vậy, phải chăng Đức Giêsu là một người lạc quan? Người bảo rằng các môn đệ sẽ làm được “những việc mà Thầy làm, và sẽ còn làm những điều lớn lao hơn nữa…” Đức Giêsu nói nghiêm túc chứ? Hay chẳng qua là sự lạc quan ngây thơ? Dựa vào đâu Người có thể bảo đảm được lời hứa ấy?
Đồng bàn với các môn đệ vào đêm trước khi chịu chết, Đức Giêsu bực bội vì sự u minh của các ông. Tuy vậy, Người vẫn nói với các môn đệ rằng các ông sẽ làm được những việc còn lớn lao hơn cả những việc các ông đã thấy Người làm. Thế nhưng, nhìn vào Giáo Hội hôm nay, chúng ta thử hỏi: “Đâu là những việc lớn lao hơn mà những người tin sẽ làm được theo như lời hứa của Đức Giêsu?” Có lẽ chỉ vì chúng ta – những tín hữu của thời hiện đại – không thừa nhận quyền năng của Thiên Chúa và cậy dựa quá nhiều vào sức riêng của bản thân. Hơn nữa, như Đức Thánh Cha Phanxicô từng nhắc nhở, chúng ta đã không biết dùng những khả năng Thiên Chúa ban tặng để phục vụ người khác, đặc biệt những người hèn yếu nhất và không có chút quyền hạn nào.

Vài đoạn trong sách Công vụ Tông đồ cho thấy đời sống của Giáo Hội sơ khai là lý tưởng (Cv 2, 42-47; 4, 32-35). Nhưng bài đọc thứ nhất hôm nay lại nhắc đến một cách sống thiếu mẫu mực của các Kitô hữu tiên khởi. Ở đầu chương 6 của sách Công vụ Tông đồ, chúng ta gặp thấy bằng chứng về những khác biệt và chia rẽ trong cộng đoàn. Có những tín hữu Do Thái bản xứ và những tín hữu Do Thái theo văn hoá Hy Lạp, các tín hữu theo văn hoá Hy Lạp than trách rằng các bà goá trong nhóm họ không nhận được sự phân phát công bằng về phần lương thực hằng ngày. Các vấn đề mà Giáo Hội sơ khai phải đối diện không chỉ đến từ bên ngoài mà con cả dấu hiệu của sự chia rẽ từ bên trong.

Các tín hữu Do Thái bản xứ muốn duy trì ngôn ngữ và cách thức thờ phượng như truyền thống. Các tín hữu Do Thái theo văn hoá Hy Lạp thì đến từ các cộng đồng Do Thái ở hải ngoại, các cộng đồng này phân tán sống ngoài Palestine, là những người chịu ảnh hưởng của lối sống văn minh Hy-La. Chúng ta, những Kitô hữu thời hiện đại, đâu phải là những người duy nhất đối diện với những nhóm ‘bảo thủ’ và ‘cấp tiến’ trong cộng đoàn đức tin.

Tại sao các bà goá theo văn hoá Hy Lạp lại bị quên lãng? Phải chăng chỉ vì những tín hữu Do Thái bản xứ có sức mạnh và quyền lực hơn, và họ đang sử dụng sức mạnh và quyền lực ấy để đối xử thiên vị, ưu tiên cho phe của mình? Chúng ta không biết thực hư thế nào. Nhưng trước khi chịu chết, Đức Giêsu đã hứa với các môn đệ rằng các ông sẽ còn làm được những điều lớn lao hơn. Vì trước hết, Đức Giêsu nói là Người sẽ chết, rồi sống lại và trao ban cho các môn đệ ân huệ Chúa Thánh Thần. Người ban cho các ông “phương tiện” mà các ông cần đến để làm “những việc lớn lao hơn” như Người đã hứa.

Có giáo phận, giáo xứ hay cộng đoàn tôn giáo nào mà không có sự phân biệt dựa theo truyền thống, hiện đại, màu da, chủng tộc, ngôn ngữ, giới tính hay dòng tộc? Những nhóm người nào đang bị tước đoạt quyền lợi, quyền lên tiếng nói? Có những sự tranh giành quyền lực xảy ra giữa các đoàn thể trong giáo phận và giáo xứ hay không? Các đoàn thể trong các xứ đạo có sự cạnh tranh quyền lực trong các việc phụng vụ, tác vụ và ngân quỹ không? Những vấn nạn này đòi hỏi sự hồi tâm chân thành, cầu nguyện và đối thoại. Ngay cả khi có những căng thẳng như thế, thậm chí thường xuyên xảy ra đi nữa, thì nhờ những hồng ân của Chúa Thánh Thần, những căng thẳng ấy sẽ được biến đổi thành nguồn sức mạnh, canh tân và tái tạo. Chúng ta biết rằng cuối cùng thì Giáo Hội sơ khai cũng đã giải quyết tốt đẹp sự xung đột này:“Tìm trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt…” Các môn đệ đầu tiên vẫn gắn bó với cộng đoàn, nhưng điều đó không miễn cho các ông sự mâu thuẫn. Tuy nhiên, các ông đã giải quyết vấn đề cách công khai và thẳng thắn, chia sẻ quyền lợi cho những tín hữu Do Thái theo văn hoá Hy Lạp, và quan tâm đến nhu cầu của những người mà họ cảm thấy bị lãng quên.

Trong Giáo Hội ngày nay, chúng ta cũng không muốn thấy bất cứ cá nhân hay nhóm người nào bị bỏ quên. Không để một ai bị quên lãng hay cảm thấy bản thân bị tách biệt khỏi những tác vụ của cộng đoàn giáo xứ. Tất cả mọi người đều có cơ hội đến với Lời Chúa và các Bí tích; nếu cần thiết, nhân lực và ngân quỹ sẽ ưu tiên cho những nhu cầu của “các tín hữu Do Thái theo văn hoá Hy Lạp” thời nay trong cộng đoàn Hội thánh.

Suốt các Chúa Nhật Phục Sinh, chúng ta nghe những đoạn Kinh Thánh nói về tình hình Giáo Hội sau biến cố Phục Sinh và sau biến cố Hiện Xuống. Hôm nay, Đức Giêsu nói với chúng ta rằng: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Nhưng thử hỏi tại sao hôm nay nhiều người trong chúng ta quy tụ để thờ lạy Chúa. Lý do chẳng phải là lòng chúng ta xao xuyến đấy ư? Tình trạng lộn xộn xảy ra có thể là do những tranh cãi trong gia đình, tại nơi làm việc, hay giữa những người thân thiết. Hơn nữa, ai lại chẳng lo âu khi hay tin hơn 200 nữ sinh ở Nigeria bị bắt cóc và có nguy cơ bị bán làm nô lệ? Chỉ cần thêm một tin xấu, thì lại một gánh nặng nữa chất lên tâm hồn chúng ta khi đến dự lễ hôm nay.

Đức Giêsu nói với các môn đệ là những người có nhiều lý do để xao xuyến. Đó là bữa Tiệc Ly và Đức Giêsu nói những lời từ biệt với các ông. Các ông không biết chắc tương lai xảy đến điều gì, nhưng dường như đó là một chuyện không hay. Các ông biết chắc một điều rằng: những gì Đức Giêsu nói ở đây là một cuộc thử thách đức tin. Phiền muộn và lo âu đang xảy đến theo những cách mà trước đây các môn đệ chưa nghiệm thấy bao giờ. Phiền muộn và lo âu – hai vị khách không mời mà đến, xâm nhập vào cuộc sống của các môn đệ, giữ chân họ lại trong một cộng đoàn non trẻ và đầy yếu ớt.

Quả là một tương lai ảm đạm dành cho những người thiện tâm đặt niềm tín thác vào Đức Giêsu; họ vốn hình dung một tương lai hoàn toàn khác. Những lời Đức Giêsu loan báo về cái chết của Người khiến cho các môn đệ lo âu. Trong khi cuộc khủng hoảng này đang ập xuống trên các môn đệ thì liệu có tương lai cho các ông hay không? Làm sao các ông có thể chịu đựng được cơn khủng hoảng đó? Điều gì giúp cho các ông vượt qua được?

Những rắc rối trở nên gay go và làm cho cộng đoàn bị tản mát trong sợ hãi. Thêm nữa, Đức Giêsu mời gọi những kẻ đồng bàn với Người, và Người cũng đang mời gọi chúng ta khi chúng ta đồng bàn với Người hôm nay, rằng “hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”.

Lời hứa của Đức Giêsu về sự hiện diện luôn mãi của Người với các môn đệ không chỉ là một lời hứa hiện diện trong những lúc bình an, hạnh phúc thôi, mà còn trong những lúc khó khăn, đầy áp lực nữa. Bị bỏ rơi, đức tin của chúng ta sẽ vỡ vụn. Hãy nghĩ về tất cả những nơi đang gặp thử thách: gia đình, công sở, trường học, “và những nơi khác trên thế giới.” Hãy nghĩ đến cuộc thử thách mà đức tin của chúng ta phải kiên trì chịu đựng trong suốt thời gian này, với đầy tai tiếng về các vụ bê bối của hàng giáo sĩ. Nhưng, nếu như cuộc đời của Đức Giêsu đã dạy chúng ta mọi điều, thì hẳn rằng một cuộc sống mới có thể nảy sinh từ trong đau khổ, thậm chí từ trong cái chết.

Tu viện của chúng tôi ở bên cạnh một trường Đại học Công Giáo. Trong những ngày này, các bạn sinh viên đang chịu nhiều áp lực chuẩn bị cho việc thi cử. Họ đang cố gắng để vượt qua thời gian thi cử rồi trở về quê. Đó chẳng phải là một ẩn dụ về tất cả chúng ta sao, những người đang cố gắng vượt qua thời gian thử thách rồi quay trở về “quê hương đích thực?” Đức Giêsu nói rằng Người trở về cùng Cha của Người và Người dọn chỗ cho chúng ta. Nghe như đó là một nơi tuyệt vời phải không? Nơi đó “có rất nhiều chỗ ở.” Đức Giêsu hứa sẽ quay trở lại và đón chúng ta về với Người. Sẽ có một cuộc “trở về nhà” cuối cùng để chúng ta được ở với Thiên Chúa và ở với nhau.

Tạm thời, Đức Giêsu đã trở lại chuẩn bị ngôi nhà cho chúng ta ở đây và bây giờ. Sự quy tụ của chúng ta để tôn thờ Người là một trong nhiều nơi trú ngụ Đức Giêsu chuẩn bị cho chúng ta ở đây. Khác với ngôi nhà quê hương đích thực của chúng ta, cộng đoàn này là nơi chúng ta được tháo cởi gánh nặng của những sai lầm quá khứ; là nơi chúng ta sống thật với chính mình, với những thiếu sót và tất cả mọi thứ là nơi chúng ta có thể giúp nhau mang những gánh nặng đang đè trên cuộc sống. Nơi đây, chúng ta được nuôi dưỡng và được ban sức mạnh cho tới khi chúng ta đạt đến ngôi nhà vĩnh cửu cuối cùng, nơi trú ngụ mà Đức Giêsu đã đi trước để dọn sẵn cho chúng ta.

Chuyển ngữ: Anh Em HV Đaminh Gò-Vấp

5th SUNDAY OF EASTER (A)
Acts 6: 1-7; Psalm 33; 1 Peter 2: 4-9; John 14: 1-12

It is said that an optimist looks at a half glass of water and sees it half full. A pessimist, looking at the same glass, sees it half empty. So, was Jesus an optimist? He says that his disciples will do "the works that I do, and will do greater ones than these...." Is he serious? Was he just a wide-eyed optimist? Judging from the raw material Jesus had to work with, how could he make such a promise?

He is seated around the table with his disciples the night before he died and is confronted by his disciples’ lack of understanding. Still, he tells them that they will do greater works than the ones they have seen him do. We look around our Church today and ask, "Where are these greater works Jesus promised believers would do? Maybe it is because we modern believers have not acknowledged God’s power and have relied too much on our own powers. Nor, as Pope Francis has reminded us, have we used the powers of God available to us to serve others – especially those who are weakest and have no power of their own.

Several passages from Acts show the early church in ideal ways (2: 42-47; 4: 32-35). But our first reading has a less-than-ideal depiction of the first Christians. Here, at the beginning of Acts 6, we find evidence of differences and divisions in the community. There were Hebrew (Aramaic) speaking Christians and Greek speaking ones, the Hellenists, who complain that their widows weren’t getting a fair share of the daily food distribution. The problems facing the early Church weren’t just coming from the outside. The nascent church was already showing signs of internal conflict.

The Hebrew speaking Jews wanted to retain the traditional language and ways of worship. The Hellenists were from the Diaspora, Jewish communities scattered outside Palestine, who had taken on the ways of the Greco-Roman world. We modern Christians aren’t the only ones to deal with "conservative" and "liberal" forces in our faith community.

Why were the Greek-speaking widows being neglected? Was it because the "Hebrews" had more power and authority and were using them to favor their own? We don’t know. But Jesus promised his disciples before he died they would do greater works than he. Since he first said that Jesus had died, risen and given them the gifts of the Spirit. He gave them the "equipment" they would need to do the "greater works" he promised.

Is there a diocese, parish or religious community where there are no divisions along traditional, modern, racial, ethnic, language, gender or ethnic lines? Which groups are the disenfranchised, without a voice? Are there power struggles among diocesan and parish staffs? Are different groups trying to seize power in our parishes in areas of liturgy, ministry and resources? These questions require honest reflections, prayer and dialogue. Yet, even if there are such tensions, and there often are, with the gifts of the Spirit they may be new sources of energy, renewal and creativity. After all, today we hear that the early Church in conflict came up with a pretty good solution, "Select from among you seven reputable men...." The original disciples were still with the community, but that didn’t spare them conflict. They dealt their issues openly and fairly, shared power with the Hellenists and addressed the needs of those who felt neglected.

Nor do we in the modern church want any individuals or groups to be overlooked. No one should be neglected nor feel cut off from the ministries of the parish community. All should have the same access to God’s Word and Sacraments and, when necessary, the personnel and resources needed to address the needs of the modern "Hellenists" in our Church community.

During these Easter Sundays we hear scriptures addressed to the post-resurrection, post-Pentecost church. Today Jesus tells us, "Do not let your hearts be troubled. You have faith in God, have faith in me." But isn’t that why many of us gather to worship today – because our hearts are troubled? The turmoil may be caused by struggles within our families, at work, or among those we care deeply about. Besides, who isn’t troubled by the abduction of over 200 school girls in Nigeria and the threats of their being sold into slavery? Just one more piece of grim news, one more heart-troubling burden we bring to worship today.

Jesus was speaking to his disciples who had plenty of reasons to be troubled. It is the Last Supper and these are his farewell words to his disciples. They are not sure what the future holds for them, but it doesn’t look good. One thing they do know, one thing they are sure of – whatever Jesus is speaking about is going to test their faith. Trouble and unrest are coming in ways they have never before experienced. Trouble and unrest – two unwelcome guests are about to barge into their lives and make themselves at home in the infant, fragile community.

What a bleak future for good people who had placed their trust in Jesus; people who had envisioned a completely different future for themselves. Jesus’ words about his death troubled their hearts. Was there a future for them with this crisis coming upon them? How could they endure it? What would get them through it?

The troubles would be severe and the community would be scattered in fright. Still, Jesus asked his table companions, what he asks us at table with him today, "Have faith in God and have faith also in me."

Jesus’ promise of his lasting presence with his followers wasn’t just a promise for rosy, blissful times, but holds especially true in times of stress. Left by ourselves our faith would crumble. Think of all the testing places: home, work, school, "out in the world." Think of the test our faith has endured during these years of suffering brought on by the clergy scandals. Yet, if Jesus’ life has taught us anything, it is that new life can come out of pain, even out of death.

Our priory is next to a Catholic university. The students are under stress these days as they prepare for exams. They are looking forward to getting through the testing period and going home. Isn’t that a metaphor for all of us – getting through this testing period and going "home?" Jesus says he is going home to his Father and that he will prepare a place for us. Sounds like a wonderful place doesn’t it? It had "many dwelling places." He promised to return and take us to himself. There will be a final "home coming" with our God and one another.

In the meanwhile, Jesus has returned to make a home for us here and now. Our gathering for worship is just one of the many dwelling places Jesus has prepared for us here. This community, our home away from home, is where we are unburdened of past wrongs; where we can be ourselves, blemishes and all; where we can get help carrying burdens that have weighed us down. Here we are fed and given strength until we arrive at our final and permanent home, the dwelling place Jesus has gone ahead to prepare for us.


CHÚA NHẬT 5 Phục sinh 22-5-2011
Cv 6: 1-7; Tv 33; 1 Pr 2: 4-9; Ga 14: 1-12
 Lm. Jude Siciliano, OP

HÃY NHƯ VIÊN ĐÁ SỐNG XÂY DỰNG NÊN GIÁO HỘI THÁNH THIỆN
Bài  đọc trích sách Công vụ Tông đồ hôm nay diễn tả  những ngày đầu của Giáo hội. Cộng đoàn ngày càng phát triển và khi số thành viên trong cộng đoàn tăng nhanh thì những căng thẳng cũng xảy ra. Hôm nay, chúng ta nghe lời kêu trách từ các tín hữu Do Thái theo văn hóa Hy Lạp (những Kitô hữu nói tiếng Hy Lạp) rằng các bà góa trong nhóm họ không được “những tín hữu Do Thái” (gốc) chăm sóc. Đôi khi, những bất đồng về ngôn ngữ và văn hóa dường như có thể gây ra những căng thẳng, thậm chí là sự phân biệt đối xử ngay trong những cộng đoàn Giáo hội.

Tình hình căng thẳng giữa hai nhóm này có khả năng làm chia rẽ Giáo hội tiên khởi, vì thế những người lãnh đạo cộng đoàn mau mắn để tâm đến vấn đề này. Ông Têphanô và các bạn của ông được chọn để “lo việc ăn uống”, nghĩa là nuôi những người đói khát. Các Tông đồ sẽ chuyên lo việc “cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa”. Bởi vì đây là Công vụ Tông đồ, mà có người đề nghị gọi là “Công vụ của Thánh Thần”, nên tiêu chuẩn chọn lựa ông Têphanô chính là ông được “đầy Thần Khí và khôn ngoan”. Những môn đệ đầu tiên “được đầy Thần Khí” sẵn sàng hoạt động cùng nhau.

Ngày nay, liệu có những khác biệt như thế trong các giáo xứ của chúng và trong Giáo hội phổ quát ta hay không? Những nhóm nhỏ hơn có cảm thấy họ thấp cổ bé miệng hay không? Những người mới đến có được tiếp đón? Có những cuộc tranh giành quyền lực giữa “thế hệ cũ” và các giáo dân mới? Chúng ta bị chia rẽ không? Ở một vài nơi, chúng ta và những căng thẳng này đã chia rẽ cộng đoàn và thuyết phục người ta đi đến một chốn khác. Mỗi chúng ta, ban mục vụ giáo xứ và giáo dân, hãy tin tưởng vào những hành động mang tính cầu nguyện, ân cần, trắc ẩn và kiên quyết của các tín hữu tiền nhân như là mẫu gương để chúng ta làm thành Giáo hội của Đức Giêsu Kitô .

Có một điều ngạc nhiên đối với Giáo hội tiên khởi là họ đã cảm nghiệm được sự  phát triển và lòng nhiệt thành mà họ đã thi hành. Bản văn Kinh Thánh hôm nay được lấy từ Những lời từ biệt của Đức Giêsu với các môn đệ vào đêm trước khi Người chịu chết. Lúc đó, các môn đệ nghe tin về việc sắp ra đi của Người. Họ biết làm gì …và làm như thế nào… nếu không có Người? Ngày hôm sau, những giấc mơ của họ bị rạn vỡ và rồi sụp đổ. Giáo hội được khai sinh từ sự đau khổ và mất mát của Đức Giêsu. Sự sống mới sẽ đến với các môn đệ đang tuyệt vọng và bị phân tán, không phải vì các ông có thể giành lại hay tự kéo mình đến với nhau, nhưng chính nhờ hơi thở của Thần Khí mà Đức Kitô Phục đã thổi vào các ông. Thế rồi các ông thực hiện “những điều vĩ đại” mà Đức Giêsu đã hứa tại bữa ăn sau cùng với các ông.

Tôi  di chuyển rất nhiều. Với những sự thay đổi thất thường của ngành du lịch hiện đại, tôi dự định chuẩn thật bị kỹ cho chuyến đi: Tôi muốn luôn sẵn sàng cho những bất ngờ có thể xảy đến bất cứ lúc nào! Nếu đang đi máy bay, tôi kiểm tra tỉ mỉ cách thức để đến sân bay, số và địa điểm của ga đi. Tôi in vé của mình ra trước và lên trang web kiểm tra vị trí chỗ ngồi. Nếu đó là một chuyến đi dài thì tôi gói theo ít thức ăn và bánh kẹo. Tôi đảm bảo là phải có cái để đọc. Tôi từng là một thành viên trong nhóm hướng đạo sinh và vẫn còn ghi nhớ khẩu hiệu của nhóm là: “Hãy sẵn sàng”.

Vì thế, hôm nay tôi có thể thông cảm với thánh Tôma. Chúng ta cũng thế. Đức Giêsu chuẩn bị cho những môn đệ đang quy tụ quanh bàn ăn với Người vì Người sắp bước vào cuộc khổ nạn và cái chết. Người sẽ rời khỏi các ông, nhưng Người hứa sẽ trở lại và dẫn các ông về với Người. Người nói với các ông: “Thầy đi đâu, thì anh em  biết đường rồi”. Thánh Tôma là một du khách rất thực tế. Nếu ông đi đến một nơi nào đó thì ông muốn biết rõ nơi ông đi và làm thế nào để đến được đó. (Tôi cũng xin được hỏi rằng: “Ngày nào Thầy sẽ trở lại và khi nào thì tất cả chúng con đi cùng Thầy?”).

Câu trả lời của Đức Giêsu không đề cập đến bản đồ, địa điểm cố định và thời gian cụ thể (chẳng hạn “Tôi sẽ trở lại vào thứ Ba, lúc 3 giờ chiều). Thay vì vậy, khi chúng ta nghe toàn bộ Tin Mừng của thánh Gioan, Đức Giêsu dùng lối diễn tả khác về mình “Thầy là”: “Chính Thầy là con đường …”. Đức Giêsu mời gọi các môn đệ đến với Người và phó thác cuộc đời họ trong tay Người. Chúng ta thi hành điều đó qua việc sống trong mối tương quan với Người, lắng nghe lời Người dạy bảo và đi theo đường lối của Người. Đó là cách chúng ta sẽ tiến tới cuộc sống mà Người hứa ban cho những ai bước đi cùng Người “trên con đường” Người đã đi. Đức Giêsu nói rõ rằng Người là con đường dẫn đến Thiên Chúa và nếu chúng ta theo Người (con đường), thì chúng ta sẽ có “sự thật” – vì Người chính là mạc khải của Thiên Chúa cho chúng ta. Chúng ta sẽ có “sự sống” – vì Đức Giêsu đã kéo chúng ta ra khỏi cái chết của tội lỗi để bước vào đời sống mới.

Những độc giả Kinh Thánh cũng đã quen với hình ảnh Đức Giêsu sử dụng để diễn tả về mình – “con đường”. Trong Cựu Ước, “con đường” có nghĩa là hợp với lề luật, những điều mang lại sự thật và sự sống cho ai biết tuân theo. Thiên Chúa hứa trong sách Isaia (40,3): Hãy dọn một con đường băng qua sa mạc để đưa những người sống xa quê hương trở về. Thánh Vịnh đầu tiên đề cập đến “con đường” để khích lệ niềm hy vọng của chúng ta khi chúng ta phó dâng đời mình vào tay Thiên Chúa, “Chúa hằng che chở nẻo đường công chính, còn đường lối ác nhân đưa tới chỗ diệt vong” (Tv 1,6).

Hai con đường được vạch ra trước mắt chúng ta: nẻo đường người công chính và đường lối ác nhân. Khi Đức Giêsu nói lời từ biệt các môn đệ thì Người khích lệ các ông đi theo Người, như nẻo đường công chính –đường dẫn tới Thiên Chúa. Người không chỉ nhận mình như một kiểu mẫu mà các ông phải theo để đạt được sự sống. Hơn thế nữa, Người hứa khi trở lại, Người sẽ ở với các ông. Đức tin là con đường dẫn chúng ta đến với Đức Giêsu. Khi tin vào Người, chúng ta có được đời sống mới, một đời sống giúp ta bắt chước sống theo Người. “…Ai tin vào Thầy thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha”.

Tôi  cho rằng Đức Giêsu chắc chắn đã chọn những môn đệ có nhiều năng lực và hiệu quả hơn để làm “những việc lớn hơn nữa” mà Người hứa chúng ta sẽ làm được. Hiện giờ, chúng ta, những Kitô hữu thời đại xem như còn nhiều giới hạn, sợ hãi, tội lỗi, cau có và thiển cận. Bài đọc 1 hôm nay cho thấy rằng ngay cả trong “Giáo hội sơ khai được cho là lý tưởng” thì cũng có những căng thẳng và tất cả mọi thành viên trong Giáo hội đều là những con người đầy khiếm khuyết. Nhưng khi cùng làm việc với nhau như một cộng đoàn, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, họ có thể giải quyết những vấn đề có thể nảy sinh -  điều xem như chẳng khi nào là dễ dàng hoặc không có đấu tranh và ngờ vực.

Trong bài đọc thứ 2 hôm nay, thánh Phêrô gọi Đức Kitô là “viên đá sống động”, rồi trải rộng hình ảnh này đến cả chúng ta nữa. Làm thế nào các tác giả Kinh Thánh tránh khỏi những lối nói vô cùng khác thường này? Tảng đá làm sao có được sự sống? Phải chăng đó là niêm luật văn chương? Còn nhớ câu chuyện thiếu nhi nói về ba con heo, trong đó có một con tự bảo vệ mình chống lại “con sói lớn độc ác” bằng cách xây nhà của mình bằng đá không? Những tảng đá bất động tạo nên nền móng vững chắc để bảo vệ những bức tường – nhưng có ai lại nghĩ chúng có sự sống?

Thánh Phêrô khích lệ chúng ta sử dụng trí tưởng tượng của mình: sẽ như thế nào nếu ngôi nhà, cộng đoàn Đức Giêsu thiết lập lại không gồm những viên đá sống động? Chẳng phải điều đó có nghĩa rằng chúng ta không chỉ là một nơi cư ngụ thánh thiện dành cho Thiên Chúa, mà còn là một nơi ở rộng rãi, bao gồm mọi chủng tộc, quốc gia, ngôn ngữ, bậc sống, giới tính…nữa sao? Thánh thiện nghĩa là lớn lên cùng với Đức Giêsu, “con đường”, thổi sức sống vào trong chúng ta, giúp chúng ta trở nên “những viên đá sống động” và thúc đẩy chúng ta đi tới. Chẳng phải chúng ta biết rằng Giáo hội của Đức Kitô như một tòa nhà gồm “những viên đá sống động” đó sao? Đã bao nhiêu lần chúng ta tìm thấy sự giúp đỡ và chỉ dẫn nơi cộng đoàn tín hữu của mình? Chúng ta biết ơn những lần những ban mục vụ và các tâm hồn thánh thiện trong cộng đoàn đã trở nên sức mạnh và sự khôn ngoan cho chúng ta. Dẫu cho những ngày này chúng ta phải đối mặt với những phiền muộn trong Giáo hội, nhưng chúng ta vẫn còn gặp vô số những tín hữu luôn hiện diện ở nơi thờ phượng và tình nguyện tìm những dịp phục vụ những người thiếu thốn ở cả bên trong lẫn bên ngoài cộng đoàn. Họ và chúng ta là “những viên đá sống động” xây nên ngôi nhà thánh thiện của Thiên Chúa. 
Lm. Jude Siciliano, OP
Chuyển ngữ Anh Em HV Đaminh Gò Vấp

5th SUNDAY OF EASTER (A) - May 22, 2011
Acts 6: 1-7; Psalm 33; 1 Peter 2: 4-9; John 14: 1-12
By: Jude Siciliano, OP
Our reading from Acts today describes a scene from the earliest days of the church. The community was growing rapidly and as it grew its members were addressing emerging tensions. Today we hear about a complaint from the Hellenists (Greek-speaking Christians) that their widows weren’t being cared for by the "Hebrews" (Aramaic-speaking Christians). Then and now, it seems, language and cultural differences can cause tensions, even discrimination in church communities.
The tension between the two groups had the potential to split the early church and so the community leaders address it expeditiously. Stephen and his companions are chosen "to serve at table," that is, to feed the hungry. The apostles will focus "on prayer and the ministry of the word." Since this is the Acts of the Apostles, which some say should be called "The Acts of the Holy Spirit," the criteria for choosing Stephen is that he is "filled with the Spirit and wisdom." The first "Spirit-filled" disciples are ready to move on—together.
Are there similar differences in our parishes today? In the more universal church? Do smaller groups feel they have no voice? Have recent arrivals been welcomed? Are there power struggles among the "old timers" and the new parishioners? Are we divided? We are, in some places, and these and other tensions have split communities and convinced people to go elsewhere. Each of us, parish staffs and parishioners, look to the prayerful, welcoming, compassionate and decisive actions of our faith ancestors as our models for how to be the church of Jesus Christ.
It must have been a surprise to the early church that they experienced the growth and enthusiasm they did. The gospel passage today is taken from Jesus’ Last Discourse to his disciples the night before he died. On that occasion the disciples heard news of his impending departure. What could they… How could they… do without him? The next day their dreams were shattered and disillusionment followed. The church was born from Jesus’ pain and loss. New life would come to the broken and scattered disciples, not because of their being able to recover or pull themselves together, but by the breath of the Spirit the risen Jesus would breathe on them. Then they would do the "greater things" Jesus promised at his last meal with them.
I travel a lot. With the vagaries of modern travel I tend to over prepare for a trip: I want to be ready for the unexpected–which always seems to happen! If I am flying, I double check how to get to the airport and the number and location of the departure terminal. I print out my ticket beforehand and check my seat location on the web. If it’s going to be a long trip I pack some food goodies. I make sure I have reading material. I used to be a Boy Scout and their model sticks with me still, "Be Prepared."
So, I can sympathize with Thomas today. We are alike. Jesus is preparing those gathered around the table with him for his upcoming passion and death. He is leaving them, but He promises to come back and take them with him. He tells them, "Where I am going you know the way." Thomas is a practical traveler. If he is going somewhere he wants to know where he’s going and how to get there. (I would have also asked, "What day are you coming back and what time are we all leaving with you?")
Jesus’ answer is not about maps, fixed destinations, and chronological time ("I’ll be back on Tuesday, at 3:30 PM.") Instead, as we have heard throughout John’s gospel, Jesus makes another "I am" statement about himself, "I am the way ...." He invites his disciples to come to him and put their lives into his hands. We do that by living in relationship with him, listening to his teaching and following his way. That’s how we will come to the life he promises those who have joined him "on the way." Jesus makes it clear that he is the path to God and if we follow Him, "the way," we will have "truth"–for he is God’s revelation to us. We will have "life"–for Jesus draws us from the death of sin to new life.
Scriptural readers are familiar with the image Jesus uses to describe himself–"the way." In the Old Testament the "way" meant conformity to the law, which would yield truth and life for the observant. God promised in Isaiah (40:3) to prepare a way through the desert to bring the exiles home. The very first Psalm refers to "the way," to encourage our trust as we surrender ourselves into God’s hands, "The Lord watches over the way of the just, but the way of the wicked leads to ruin" (Psalm 1:6).
Two ways are placed before us: the way of the just and the way of the wicked. As Jesus is saying his farewells to his disciples he’s encouraging them to follow him, as the way of the just – the way to God. He is not just identifying himself as the model which they must follow to achieve life. Rather, he promises when he returns he will make his dwelling with them. Faith is our way to Jesus and when we believe in him we have a new life which enables us to model our lives on his. "… whoever believes in me will do the works I do, and will do greater ones than these, because I’m going to my Father."
I suppose Jesus certainly could have chosen more effective and influential followers to do the "greater works" he promised we would do. At times, we modern Christians seem so limited, afraid, sinful, fractious and shortsighted. Our first reading today shows that even in the supposed "ideal early church" there were tensions and all-too human weaknesses evident among its members. But working together as a community, guided by the Holy Spirit, they were able to deal with these issues as they arose – never, it seems, effortlessly or without struggle and questions.
In our second reading today Peter calls Christ "a living stone," and then expands this figure to include us. How do the scripture writers get away with their unusual, even extreme figures of speech? How can stones be living? There is poetic license here isn’t there? Remember the children’s story about the three pigs and the one who protected himself from the "big bad wolf" by building his house of stone? Stones are silent, they make a strong foundation and protect the walls–but whoever thinks of them as living?
Peter is encouraging us to use our imagination: what if the house, the community, Jesus has established, consists of living stones? Doesn’t that mean we are not only a holy dwelling for God, but to be an expansive one also?...with inclusion for all races, nationalities, languages, states of life, sexual orientation, etc.? Holiness means growing with Jesus, "the way," breathing life into us, enabling us to be "living stones" and spurring us on. Haven’t we experienced Christ’s church as a building of "living stones"? How many times have we sought succor and guidance from our faith community? We are grateful for the times pastoral staffs and holy souls in the community were strength and wisdom for us. Despite the troubles we face these days in our church, we continue to meet innumerable faithful people whose presence at worship and volunteer opportunities minister to those both within and outside the community in need. They and we with them, are "living stones" being built into a holy house of God.
Fr. Jude Siciliano, OP


LM. Jude Siciliano, O.P.

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)