dongcong.net
 
 

Suy niệm với Lm Tường

 

Người gác cửa - Phục Sinh 4 năm A-2014
Lm Vũđình Tường

Không có cửa sẽ không có lối vào hay nói cách khác vào bất cứ chỗ nào cũng được. Những nơi này không cần người gác cửa. Để vào những toà nhà công cộng hay văn phòng tư thường có người gác cửa. Vào một vài nơi có khi phải đi qua hai ba lần cửa. Lại có những nơi vì vấn đề an ninh đòi phải xuất trình đủ giấy tờ chứng minh mới có phép đi qua cửa. Người coi cửa thường làm việc trong giờ giấc ấn định và hết giờ đi về để đến phiên người gác cửa khác thay vì thế người gác cửa thường không biết hết người đi ra vào. Đức Kitô tuyên bố Ngài vừa là người gác cửa và vừa là cửa để bảo vệ đàn chiên. Người gác cửa thay đổi theo giờ làm việc trong khi cửa không thay đổi, luôn luôn lúc nào cũng hiện diện. Bởi tính cách thường trực và tâm tình tận tuỵ, hy sinh, yêu mến đoàn chiên mà Đức Kitô tuyên bố Ngài là vị mục tử nhân lành. Hình ảnh mục tử nhân lành có nguồn gốc lâu đời từ Cựu Ước. Thánh vịnh 77, 20 nhắc đến hình ảnh mục từ nhân lành hướng dẫn, bảo vệ, chăm sóc đàn chiên như chính thân mình. Mục tử nhân lành chăm sóc đàn chiên với cùng tình thương và tâm tình họ nhận từ Thiên Chúa. Người xưa quan niệm chủ chiên là những vị được Thiên Chúa sai đến chăm sóc đàn chiên và vì thế họ yêu mến đàn chiên như Chính Thiên Chúa yêu mến đàn chiên. Tâm tình này thể hiện trong sách tiên tri Jêremiah 3, 15 và 23, 4

Ta sẽ cho các ngươi những mục tử đẹp lòng Ta, chúng sẽ khôn ngoan, sáng suốt chăn dắt các ngươi... Ta sẽ cho xuất hiện các mục tử để lãnh đạo chúng, họ sẽ chăn dắt chúng. Chúng sẽ không còn phải hãi hùng, kinh khiếp và bị bỏ rơi nữa. Sấm ngôn của Đức Chúa.

Là mục tử nhân lành Đức Kitô mặc khải cho chúng ta biết quyền lãnh đạo Ngài nhận từ Thiên Chúa để chăn dắt đàn Chiên. Ngài hy sinh sự sống chính thân mình để bảo vệ đàn chiên. Tin theo Đức Kitô là dứt khoát từ bỏ mục tử khác. Tin theo Đức Kitô là đặt mình dưới sự bảo trợ, Ngài hướng dẫn và che chở. Tin theo Đức Kitô là tâm được vui, trí được sáng vì được Thánh Thần Chúa dẫn đường, chỉ lối vào chốn trường sinh nên không bao giờ thất lạc. Con đường đi có trắc trở, có gian khổ vì là con đường công chính sẽ không tránh khỏi chỉ trích của kẻ gian tà, của mục tử đội lốt chiên. Tin theo Đức Kitô được tự do ra vào vì chủ chiên nhận biết giọng nói, tiếng cười của từng chiên con và chiên nhận ra giọng khi chủ kêu gọi. Dù thảnh thơi ngoài của nhưng chiên con vẫn nhận được sự bao bọc, che chở của chủ chiên và không sợ bị lang sói cắn giết.

Hình ảnh trái nghịch với mục tử nhân lành là mục tử lang sói đội lốt chiên. Mục tử nhân lành ra vào chuồng chiên một cách chân chính, ngay thẳng, giữa thanh thiên bạch nhật; trong khi lang sói hay đội lốt mục tử ra vào một cách bất chính, thường mò mẫm giữa đêm khuya thanh vắng, bất thần phá rào, đột nhập bắt cóc chiên con. Chúng không đến để bảo vệ nhưng đến để hãm hại chiên con. Chúng đến vì tư lợi cá nhân. Chúng đến mang theo tai ương, đau khổ, chết chóc, phá tan bầu khí an bình, đánh mất giấc ngủ êm đềm của đàn chiên.

Đức Kitô nhắc đến những chiên lạc. Chúng là những chiên con bị mục tử đội lốt loại ra khỏi đàn chiên, bị mục tử đội lốt dẫn sai đường, bị mục tử đội lốt đánh tan tác trước khi đầy đọa vì dám cãi lại, chống lại ý chúng. Những chiên này Đức Kitô đi tìm kiếm vác về trở thành một đàn chiên. Tính cách duy nhất này đến từ í định của Thiên Chúa là dẫn đoàn chiên đến cuộc sống trường sinh. Còn những chiên con khác chưa thuộc đàn này đó là những chiên con chưa nhận biết vị mục tử nhân lành là Đức Kitô. Ngài kêu gọi những chiên đó hợp đoàn và công việc của các Kitô hữu là kết hợp với Đức Kitô dẫn dắt những chiên đó về hợp đàn. Công việc này được hiểu như là việc truyền giáo của các Kitô hữu. Mọi Kitô hữu có trách nhiệm loan báo cho toàn thể nhân loại biết tâm tình quí mến chủ chiên nhân lành là Đức Kitô đang mời gọi họ, rộng tay đón nhận họ. Cùng nhau cất tiếng hát: Ngài đã sống lại thật như lời đã phán hứa Alleluia. Chúa chiên lành đã sống lại, thần chết đã chào thua. Alleluia.. . .

Lm Vũđình Tường
TiengChuong.org.

Nhận diện

Lm Vũđình Tường

Không phải chỉ con người mới biết nhận diện mà con vật cũng rất giỏi trong việc nhận diện. Ai nuôi chó đều biết khi chủ về - chủ lớn hay chủ nhỏ - chó luôn vẫy đuôi chào. Kẻ lạ vào cùng cung cách đó chó lại sủa vang. Vì chó nhận diện đó là người lạ nên sủa vang.

Có lần tôi đến thăm người quen nhà đó có bầy gà dăm bảy chục con. Trên đường vào nhà đàn gà thấy tôi chúng ngừng bắt sâu bọ, mắt ngó cảnh giác đề phòng. Vào đến đầu ngõ chủ nhà nhận ra người quen vội đón. Thấy chủ nhà ra đàn gà cúc cúc gọi nhau đến vây quanh chủ. Con nào cũng nhìn chủ như mong chờ được ban cho thức ăn. Chủ đi đến đâu đàn gà theo đến đó. Không phải một hai con mà cả mấy chục con. Mấy cháu nhỏ nhà tôi thích đàn gà. Chúng reo vui, đứa chỉ tay nói thích con này; đứa lại thích con kia. Đàn gà vô tình không biết có người ước mong nhận nó để nuông chiều. Chiều lòng đám khách nhỏ chủ nhà xúc một lon lúa miệng kêu lên mấy tiếng cúc cúc, cả đàn gà nhận ra giọng quen thuộc chúng bu quanh sát chân và nhanh như cắt, con nọ, con kia cúi xuống mỏ lượm hạt lúa vàng nuốt trửng. Từng hạt, từng hạt được đám gà tranh nhau nhặt trong chốt lát hết sạch. Xong rồi chúng tản mạn trong vườn tiếp tục công việc bắt sâu bọ. Mấy đứa nhỏ con tôi cũng bắt chước chủ nhà miệng cũng kêu cúc cúc nhưng lũ gà làm thinh, không đáp ứng.

Quả thật câu Chúa nói: Chiên Ta thì nghe tiếng Ta cũng áp dụng cho các con vật khác như gà ta thì nghe tiếng ta, ta biết chúng và chúng nghe ta. Dân ta nghe tiếng ta, ta biết chúng và chúng nghe tiếng ta.

Bài Phúc âm hôm nay Chúa dùng dụ ngôn chủ chiên và đàn chiên. Chiên của chủ nghe tiếng chủ. Con người không hiểu tiếng chiên nói với nhau nhưng cứ nhìn cung cách chúng đáp trả tiếng chủ. Quan sát cách chúng nghe tiếng chủ người ta nhận biết chiên một lòng tin tưởng chủ chiên luôn chăm sóc, yêu quí, vỗ về từng con. Chúng không hề ghen tị chủ thương con này hơn con kia; chúng không so sánh chủ vỗ về con này hơn con nọ; chúng không tranh giành đứng bên phải hay bên trái chủ. Chúng không tranh nhau tìm cách gây cảm tình, tìm cách lấy lòng chủ để được yêu thương hơn; trái lại chúng luôn một lòng mến chủ và sẵn sàng nghe và bước theo chân chủ. Chủ rất thích đàn chiên, yêu mến từng con một và thường dành tình thương đặc biệt cho chiên đau yếu, bệnh tật. Khi có con chiên lạc đàn chủ sẵn sàng tìm kiếm. Tìm được chủ không trừng phạt nhưng âu yếm bồng về đàn.

Người chủ chiên đó chính là Đức Kitô Người tự nhận mình là chủ đàn chiên. Người chủ chiên này thương mến thương hết mực, thương hơn cả chính mạng sống mình. Chủ chiên Kitô thương chiên đến độ sẵn sàng hy sinh mạng sống cho chiên được an toàn, sẵn sàng thí mạng sống mình vì chiên, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chiên. Chủ chiên Kitô quan niệm chiên sống vì chiên nhận sự sống chủ ban. Chiên nào lìa đàn sớm muộn gì chiên đó cũng bị diệt vong. Đó là nỗi buồn làm tan nát lòng chủ. Dẫu buồn, dẫu có đủ quyền hành bắt chiên đó qui phục dưới chân nhưng chủ chiên Kitô tôn trọng chọn lựa riêng của từng chiên con mà không dùng quyền bính trong tay khắc phục, chế ngự chúng, nhưng mong chúng học khôn từ lầm lẫn. Mong chúng sớm nhận biết mình khờ dại, học để trở nên khôn.

Cách học biết mình khờ dại chính là cầu nguyện. Tâm tình cầu nguyện chân thành giúp chiên nhìn lại đời sống mình. Nhìn vào đời sống nội tâm, nhìn vào ngày vui đã qua để biết nhận ra ân phúc chủ chiên ban cho, tình yêu chủ chiên thực hiện và sự an toàn chủ chiên bao bọc. Trung thành với chủ chiên đòi hỏi hy sinh. Một trong những hy sinh đó là hy sinh tính ích kỉ, kiêu ngạo và tự do giả tạo để được hưởng tự do đích thật lớn hơn bội phần.

Chiên nào không nghe tiếng chủ không phải chủ ghét bỏ nó nhưng tự nó tách khỏi đàn chiên, tự nó chọn lựa lìa bỏ chủ. Tự nó ngăn cách mình với chủ. Ngăn cách dưới hình thức từ chối bước qua cửa chuồng chiên mà vào. Từ chối dưới hình thức tự nguyện chọn sống ngoài hoang địa. Chọn lối sống đó chiên tự cho mình là khôn hơn các chiên khác; chiên tự nhận mình tài hơn các chiên khác; chiên tự tin vào khả năng tồn tại của mình. Tất cả đều do ảnh hưởng của đám cỏ non mời mọc, của lí luận tự do quyến rũ và của bản tính kiêu ngạo chiều theo ý riêng mình.

Khi chọn lối sống như thế chiên luôn tìm cách bào chữa cho lập trường riêng chiên tự chọn. Một là đổ thừa do hoàn cảnh. Hai là đổ thừa vì bất mãn, ghen tị với tình yêu chủ. Tệ nhất là thái độ phản bội. Hoặc là không tin vào tình yêu chủ dành cho hoặc là muốn đặt mình vào vị trí chủ chiên. Khi tự nhận mình chức vụ chủ chiên. Người chủ đầy tham vọng này tìm cách tiêu diệt những ý tưởng khác với mình. Chung tư tưởng thì kết bè, kết phái. Nghịch tư tưởng thì tìm cách lung lạc hoặc tiêu huỷ. Lang sói, nanh vuốt phát sinh từ tham vọng

Dù lí luận thế nào thì chiên cũng không thể nào chối bỏ được tinh thần li khai, cách biệt, chia lìa. Chọn sống tách biệt, chia lìa chính là chọn tạo lập một đàn chiên li khai. Đàn chiên li khai khỏi lối sống, cách suy nghĩ và tình bác ái Kitô hữu. Nói cách khác chọn lối sống mà căn bản yêu thương, bác ái do trí óc con người tưởng tượng ra để định nghĩa, giải thích, lí luận bảo vệ lối sống ấy. Bản chất của con người là bất toàn nên mọi suy nghĩ của họ dù hợp lí đến đâu cũng tiềm ẩn điều bất toàn. Đặt đời sống trên một căn bản bất toàn chắc chắn sẽ không thể có đời sống vẹn toàn. Bất đồng trong tư tưởng hành động đúng ra giúp làm cho cuộc sống giầu hơn, phong phú hơn, chúng lại trở thành đố kị, chia rẽ. Chính bất toàn trên được nhận diện là khác biệt chính kiến và nhóm mạnh hơn sẵn sàng trở thành bầy lang sói ngày đêm rình rập cắn giết đàn chiên li khai.

TiengChuong.org

 

Lm Vũ Đình Tường- Vietcatholic.net May 10, 2014

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)