Suy Niệm của Cha Tạ Duy Tuyền

CHÚA NHẬT 13 THƯỜNG NIÊN, NĂM A

2020

 

Từ Bỏ Để Tiến Xa Hơn

CHÚA NHẬT 13 THƯỜNG NIÊN, NĂM A-2020

Kinh nghiệm mỗi lần chuyển xứ hay chuyển sang nhà mới là một lần lại phải cân nhắc loại bỏ những đồ dùng không cần thiết. Có những thứ đã cất giấu từ lâu rồi cứ thế dần theo năm tháng trong kho đồ cũ lại dầy thêm. Thế là cái nào không sài thì bỏ hoặc cho ai đó nếu muốn sử dụng. Rồi nhìn vào tủ quần áo, nhiều qúa! Có những chiếc đã cũ và lỗi thời, liền gom lại để đem cho người nghèo. . .

Ở đời còn có rất nhiều lần chúng ta phải quyết định từ bỏ. Có những thứ từ bỏ vì tự nguyện như bỏ ăn uống hoang phí, bỏ coi phim đêm, . . . Có những thứ ta nên bỏ để cuộc sống của ta nên tốt hơn. Thí dụ khi ta nhường nhịn không trả đũa, không đòi lại của cải hoặc danh dự bị người khác làm tổn thương, mất mát. . . Đặc biệt có những thứ ta buộc phải từ bỏ như: tội lỗi, thói xấu, dịp tội. . .

Chúa Giê-su còn muốn người môn đệ phải từ bỏ cả cái tôi của mình để sống hoà hợp và yêu thương mọi người. Chúa muốn chúng ta phải đón tiếp mọi phận người. Không phân biệt sang hèn. Không phân biệt giai cấp. Chúa còn đồng hóa mình với mọi phận người để rồi đón tiếp họ là đón  tiếp chính Chúa. Thi ân cho họ là thi ân cho Chúa. Giúp đỡ họ là giúp đỡ chính Chúa để rồi ngày mai sẽ lãnh phần thưởng vô biên trên trời.

Chính Chúa đã tự nguyện từ bỏ địa vị Thiên Chúa để mang lấy thân phận con người chúng ta. Ngài từ bỏ ngai trời để đến cư ngụ trên trái đất này. Ngài từ bỏ cuộc sống riêng của mình để dấn thân phục vụ tha nhân trong mọi hoàn cảnh. Cuộc đời Ngài luôn ân cần thi ân đến mọi phận người. Ngài đến để chia sẻ với những mảnh đời: ốm đau, bệnh hoạn, nghèo khó, tội lỗi . . . Ai cũng được Ngài yêu thương. Ai cũng được Ngài săn sóc. Ai cũng được Ngài quý mến. Thế nên, ai cũng hạnh phúc khi được tiếp xúc với Ngài.

Từ bỏ có khi còn phải hy sinh đến cả tính mạng mình. Chúa Giê-su đã hy sinh để chấp nhận cái chết cứu độ nhân loại. Qua cái chết của Ngài mà nhân loại được giao hoà với Thiên Chúa để cùng bước vào cõi trời hạnh phúc vĩnh hằng.

Ngày nay người ta vẫn nhắc tới một môn đệ của Thầy Giê-su là cha Damien, tông đồ của người cùi. Cha   đã tự nguyện đến phục vụ cho người cùi tại đảo   Molokai thuộc bang Hawai. Hồi đó, nơi đây được chọn như một địa điểm giam các tù nhân trọng tội bị lưu đầy và những bệnh nhân phong cùi vào thời ‘hết thuốc chữa’ phải sống tách biệt… 

Ngài đã từ bỏ mọi sang trọng để sống trọn vẹn cho người cùi. Chính khi Ngài bị nhiễm bệnh cùi, cha Đamien đã có thể cảm thông hoàn toàn với những bệnh nhân cùi. Ngài thường nói, “Chúng ta, những người cùi”. Cha Đamien trở thành một chứng nhân tình yêu của Chúa cho mọi người. Sức mạnh của Ngài đến từ Thánh Thể như chính Ngài đã viết: “Chính nơi chân bàn thờ là nơi chúng ta có thể tìm thấy sức mạnh chúng ta cần khi bị bỏ rơi . . .” 

Nhắc tới ngài người ta còn nhớ tới một giai thoại thật cảm động, khi  một số báo ở Bỉ đăng hình Cha mô tả sự hy sinh vĩ đại của cha với thân hình Cha lở loét, nhức nhối. Mặt mày Cha sù sì, đen đủi, u nần trông rất ghê sợ.. Người mẹ  của cha lúc ấy mắt đã mờ không đọc được, nhìn vào bức hình cũng chẳng nhận ra nổi đứa con yêu. Bà hỏi con cháu: Hình ai đây sao mà trông ghê sợ vậy?”. Một người em của cha trả lời: "một người hủi trên đảo Molokai của anh Đamiên đấy”. Qua mặt được bà cố, nhưng họ lại nhìn nhau và không ai bảo ai, tất cả đều xót xa rơi lệ.

Cha Đamiên đã sống với người hủi cho đến chết. Tình yêu Chúa đã giúp cha hy sinh suốt đời vì họ. Ngài đã sống trọn vẹn cho tình yêu dâng hiến: “Tôi đã dâng hiến tất cả cho Thiên Chúa, tôi chết nghèo, tôi chẳng có gì cho tôi…” 

Ước gì người môn đệ của Chúa cũng biết sống yêu thương như Chúa đã yêu. Một tình yêu cảm thông đến mọi phận người để rồi bỏ qua những thiếu sót, lầm lỗi của tha nhân. Một tình yêu xan xẻ với những người khổ đau để rồi sẵn lòng cúi xuống phục vụ mọi phận người khổ đau không phân biệt địa vị sang hèn. Một tình yêu bao dung để xóa đi những ngăn cách của hiểu lầm, đố kỵ, ghen tương nhờ đó mà có thể đón nhận mọi phận người trong yêu mến , tôn trọng và phục vụ. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền 2020

 

 

Chúa nhật 13 TN-năm A

Canh tân đề tồn tại-

Lễ Thánh Phêrô và Phao-lô
[CN 13 TN-A]

Trong những loài chim, đại bàng là loài có tuổi thọ cao nhất. Tuổi thọ cao nhất của nó có thể đạt tới 70 tuổi. Để sống được lâu như vậy, lúc 40 tuổi, nó bắt buộc phải đưa ra một quyết định rất khó khăn nhưng vô cùng quan trọng.

Khi đại bàng sống đến 40 tuổi, móng vuốt của nó đã bắt đầu bị lão hóa, sẽ không còn khả năng bắt được mồi như xưa nữa. Đôi cánh của nó cũng trở nên vô cùng nặng nề, bởi lông vũ của nó mọc vừa dài, vừa dày, vừa nhiều, mỗi khi cất cánh bay lên là cảm thấy rất tốn sức. Lúc này chỉ có hai sự lựa chọn: hoặc chết, hoặc trải qua một quá trình đổi mới cực kỳ đau khổ.

Quá trình đổi mới này kéo dài tới 150 ngày, đại bàng buộc phải cam chịu gian khổ để bay lên đỉnh  núi, xây tổ trên vách cheo leo, tại đó nó hoàn thành sự đổi mới.

Đầu tiên, nó dùng mỏ của mình mổ vào đá nham thạch cho đến khi chiếc mỏ hoàn toàn rơi xuống, sau đó yên lặng chờ đợi cho mỏ mới mọc dài ra. Thế nhưng, nó phải dùng cái mỏ mới dài ra đó nhổ từng cái móng chân của mình. Sau khi móng chân dài ra, nó lại nhổ từng sợi lông vũ đi. Sau 5 thàng, lông vũ mới mọc dài ra.

Lúc này con đại bàng đã dành được sự sống mới và đã có thể bắt đầu bay lượn , tìm mồi và sống sung mãn như ngày nào.

Thật đáng khen cho Đại Bàng đã biết tồn tại bằng việc đổi mới. Có bỏ cũ nó mới có cơ hội sở hữu cái mới. Có lột bỏ những thứ đang chết dần mới chiếm hữu được những sự sống mới trổ sinh. Nhìn vào cách đổi mới của Đại Bàng chúng ta càng cảm phục tính gan dạ của nó. Dám chấp nhận lột xác thật đau để nuôi dưỡng mầm sống mới. Nó phải can đảm bẻ gãy cái mỏ già nua, những móng vuốt bị lão hóa, những chiếc lông vũ dầy cộm để thay hình đổi dạng thêm trẻ trung và khỏe mạnh hơn, nhờ vậy mà nó có thể tiếp tục bay cao trên bàu trời.

Hóa ra để được tồn tại không phải là bám vào cái cũ mà là phải loại bỏ cái cũ để đổi mới, để thích nghi với môi trường, nhất là cái cũ ấy là vật cản cho ta tiến thân, là nguyên do làm cho chúng ta trì trệ tinh thần lẫn thể xác.

Cuộc sống con người tưởng chừng như chỉ biết vun quén, xây đắp để tồn tại, thực ra muốn tồn tại phải biết bỏ đi. Bỏ đi những cái cồng kềnh vô ích. Bỏ đi những cái cũ để có khả năng sở hữu cái mới. Bỏ đi những cái đeo bám vào ta nhưng chỉ làm ta trì trệ, yếu đuối. Bỏ đi để ta khỏe mạnh hơn, lạc quan hơn và đầy sức sống hơn.

 Cuộc đời của hai thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô là một điển hình. Các ngài có những khuyết tật, có những yếu đuối, nhưng các ngài đã dám lột bỏ con người cũ để làm lại, để dấn thân hoàn thiện con người của mình. Phê-rô đã từng sa ngã, bồng bột. Ông đã từng can ngăn Chúa bước vào tuần thương khó. Ông đã từng vấp phạm chối Chúa đến ba lần. Còn Phao-lô thì lại hăng say nhưng bồng bột. Ông nhân danh chân lý để tàn sát người theo đạo. Ông từng góp mặt trong vụ án giết Ste-pha-nô. Ông đã từng cầm tráp truy đuổi người theo Đức Ky-tô. Thế nhưng, các ngài đã cùng đứng dậy làm lại cuộc đời. Các ngài đã anh dũng đổi đời dù biết rằng cuộc đổi đời ấy sẽ dẫn đến các ngài phải đối diện với bao khó khăn thử thách cùng sự bách hại.

Phê-rô đã đổi đời từ con người nhút nhát hay bàn rùn nay trở nên mạnh mẽ can trường, dám đối diện với sự bách hại mà không hề sợ hãi. Phê-rô đã từng tuyên bố với giới cầm quyền: “phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta”. Phê-rô đã làm chứng cho Chúa trong sự can trường đến hơi thở cuối cùng qua cái chết cùng phận số với Thầy là đóng đinh trên thập giá, nhưng ông đã xin ngược đầu xuống đất!

Phao-lô đã lội ngược dòng khi ông được Chúa đưa vào sa mạc để thực hiện cuộc đổi đời. Từ con người bách hại đạo lại trở thành người rao truyền đạo. Từ lòng nhiệt thành đi bắt bớ người theo đạo lại trở thành người ra đi đem lời Chúa đến khắp năm châu. Lòng nhiệt thành nhà Chúa đã thiêu đốt ngài đến mức độ thánh nhân đã từng nói: “khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng tin mừng”.

Con người luôn mang thân phận yếu đuối. Càng sống lâu càng chồng chất những yếu đuối lỗi lầm. Nhưng nhìn vào hai tấm gương tông đồ Phê-rô và Phao-lô cho chúng ta một niềm hy vọng về sự trở về của chúng ta là không bao giờ chậm trễ. Sự trở về là cơ hội giúp chúng ta đổi mới con người, lột bỏ con người cũ để thay đổi đời sống. Nhất là biết cậy dựa vào ơn Chúa để thay đổi đời sống theo thánh ý Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn tạo những cơ hội thuận tiện để chúng ta thực hiện cuộc đổi đời. Thiên Chúa luôn ban những ơn cần thiết để chúng ta có khả năng thay đổi cuộc sống.

Ước gì chúng ta luôn biết nhìn nhận sự yếu hèn của mình để chấp nhận cộng tác với ơn Chúa để thực hiện cuộc đổi mới. Xin cho chúng ta đừng bao giờ thất vọng về bản thân nhưng luôn can trường gột rửa con người mình nên hoàn hảo hơn. Và xin cho chúng ta cũng trở nên chứng nhân cho lòng thương xót của Chúa giữa thế giới hôm nay. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

 

dongcong.net June 24, 2020