Suy Niệm thường niên

Chúa nhật 15 Thường niên, năm A

+ Trầm Thiên Thu +

HẠT TÂM LINH

(Chúa Nhật XV TN, năm A-2017)

Quả và Cây luôn có hệ lụy với nhau theo quy trình Gieo – Gặt. Muốn gieo thì phải có hạt. Chúa Giêsu đã xác định: “Xem quả thì biết cây” (Mt 12:33; Lc 6:44). Cây tốt không thể sinh trái xấu, cây sâu không thể sinh trái ngọt. Về tinh thần cũng cần có “hạt giống tâm hồn”. Tương tự, “khu vườn” tâm linh rất cần “hạt giống Lời Chúa”.

Nói và Nghe là hoạt động hằng ngày, vì Nói là Gieo, Nghe là Gặt. Tương tự, Lòng và Miệng cũng không thể tách rời: “Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Lc 6:45). Người Việt có câu: “Có đầy mới tràn”. Một hệ lụy tất yếu, Chúa Giêsu nói rõ: “Vì nhờ lời nói của anh mà anh sẽ được trắng án, và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án” (Mt 12:37). Cuộc sống là một chuỗi gieo – gặt không ngừng, dù vô tình hay hữu ý. Đừng nghĩ rằng “lời nói theo gió bay” hoặc “vào tai này, ra tai kia”.

Samuel Smiles (1812–1904, Anh quốc) nhận định: “Gieo suy nghĩ, gặt hành động; gieo hành động, gặt thói quen; gieo thói quen, gặt tính cách; gieo tính cách, gặt số phận”. Hạt tốt mới nảy mầm thành cây tốt, từ đó mới có quả tốt. Lời khôn ngoan mới đủ sức lay động lòng người. Khổng Tử phân tích: “Người khôn ngoan hỏi nguyên do ở bản thân, kẻ dại khờ hỏi nguyên do ở người khác”.

Chắc chắn rằng muốn Gặt thì phải Gieo, trước khi Gieo thì phải có Hạt Giống. Hạt giống là thứ rất quan trọng trong nông nghiệp. Hạt giống phải là những hạt giống mẩy, chắc, có màu sáng. Hầu hết các loại hạt cây lương thực đều gồm ba phần là vỏ, phôi và phôi nhũ. Vỏ có nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho hạt, không để phôi hạt bị hư hỏng, vì phôi là “sinh mệnh” của hạt, có nhiệm vụ nảy mầm để có thể trở thành cây con, còn phôi nhũ là phần chứa dưỡng chất của hạt, là phần nuôi cây con. Tương tự, hạt tâm linh cũng cần hạt tốt để có cây tốt và quả tốt. Chắc chắn rằng “hạt giống tốt” cho mảnh đất tâm linh không gì khác hơn là chính Hạt Giống Lời Chúa.

Ai đã từng làm nông nghiệp thì biết rằng từ khi gieo tới lúc gặt (thu hoạch) là một quá trình đầy gian khổ. Thật vậy, Thánh Vịnh gia nói: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo; lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 126:5-6). Nỗi buồn và niềm vui, đau khổ và sung sướng, nụ cười và nước mắt,... đó là các cặp tương đồng về hai trạng thái trái ngược nhau, cũng như Gieo và Gặt. Gieo là lúc vất vả, gặt là lúc tận hưởng. Quả thật, không có niềm hạnh phúc nào mà không có ít nhiều nước mắt. Nước mắt càng nhiều và càng mặn thì hạnh phúc càng lớn và càng ngọt.

Vấn đề thời tiết cũng là điều quan yếu trong quá trình Gieo và Gặt. Không mưa thuận gió hòa thì con người cũng “bó tay”. Hoặc đến ngày thu hoạch, nhưng chỉ một cơn bão hoặc lũ lụt thì con người cũng đành chịu trắng tay. Điều đó cho thấy Đấng Vô Hình mới làm chủ mọi thứ, Đấng đó chính là Thiên Chúa. Vừa kinh ngạc vừa kinh sợ, đã có lần người ta phải nghi vấn về Đức Giêsu Kitô khi Ngài điều khiển cả thiên nhiên: “Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?” (Mt 8:27; Mc 4:41; Lc 8:25).

Thuở xưa, qua miệng ngôn sứ Isaia, Đức Chúa đã tuyên phán: “Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó” (Is 55:10-11). Thiên Chúa dùng hình ảnh rất quen thuộc, rất thực tế trong đời thường. Lời Chúa rất kỳ diệu, rất quan trọng trong đời sống Kitô hữu: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119:105). Không chỉ vậy, Lời Chúa còn có sức mạnh phi thường, không ai có thể cưỡng lại.

Thánh Vịnh gia chia sẻ về việc cảm nghiệm Lời Chúa: “Thăm trái đất, Ngài tuôn mưa móc, cho ngập tràn phú túc giàu sang, suối trời trữ nước mênh mang, dọn đất sẵn sàng đón lúa trổ bông. Tưới từng luống, san từng mô đất, khiến dầm mưa cho hạt nẩy mầm, bốn mùa Chúa đổ hồng ân, Ngài gieo mầu mỡ ngập tràn lối đi” (Tv 65:10-12). Hồng ân Thiên Chúa chan hòa như mưa móc, Lời Chúa là nguồn giải khát thiết yếu, ước gì chúng ta cũng có thể nói được như Thánh Vịnh gia: “Con há miệng và con hớp lấy, vì khát khao mệnh lệnh của Ngài” (Tv 119:131). Hằng ngày ai sống được vậy thì thật hạnh phúc biết bao! Đó là “khéo sống”, là sống khôn ngoan, mà đức khôn ngoan rất cao quý: “Được khôn ngoan tốt hơn được vàng, được hiểu biết quý hơn được bạc” (Cn 16:16).

Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong – Thuận với Trời thì còn, nghịch với Trời thì mất. Thiên nhiên chứng tỏ Thiên Chúa hiện hữu, khắp nơi tràn ngập hình ảnh chứng tỏ quyền năng của Thiên Chúa: “Vùng hoang địa xanh rì ngọn cỏ, cảnh núi đồi hớn hở tươi xinh, chiên cừu phủ trắng đồng xanh, lúa vàng dưới lũng rung rinh dạt dào, câu hò tiếng hát trổi cao” (Tv 65:13-14). Càng nhìn ngắm thiên nhiên, người ta càng khả dĩ nhận biết Thiên Chúa hiện hữu. Ngay cả những người theo chủ nghĩa vô thần cũng không thể chối bỏ Ông Trời, bởi vì họ vẫn thắp nhang cho người quá cố, mặc dù họ không muốn công khai xác nhận, nghĩa là họ tự mâu thuẫn, và chắc chắn rằng họ không thể nào “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa” như họ muốn.

Trong cuộc sống thường nhật, bằng cách này hoặc cách nọ, chúng ta cũng “gieo” nhiều thứ qua ánh mắt, thái độ, cử chỉ, lời nói, hành động,... Có những thứ chúng ta có thể “gặt” ngay lúc đó, nhưng cũng có những thứ cần có thời gian. Dù lâu hay mau, trong khoảng “gieo – gặt” vẫn có một khoảng chờ đợi. Thánh Phaolô nhận xét: “Tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta. Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người” (Rm 8:18-19). Đó là khoảng chờ đợi, khoảng hy vọng, luôn rất cần có sự kiên trì, tính kiên nhẫn. Thánh Phaolô giải thích: “Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8:20-21).

Có tự do là có hạnh phúc, khi được giải thoát là được sống tự do. Thánh Phaolô cho biết thêm: “Cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở. Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa” (Rm 8:22-23). Quả thật, đó là lúc thực sự được giải thoát, được thu hoạch chính những gì chúng ta đã “gieo” trong suốt cuộc đời. Ai gieo giống tốt thì bội thu, ai gieo giống xấu cũng có thu hoạch, nhưng là thu hoạch những cái xấu xa và nguy hại.

Kinh Thánh cho biết: Một hôm, thấy Đức Giêsu ra Biển Hồ, đông đảo dân chúng kéo đến tụ họp bên Ngài, thế nên Ngài phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng đứng trên bờ. Khi đó, Ngài dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều, một trong các dụ ngôn đó là “Dụ Ngôn Người Gieo Giống” (Mt 13:1-23; Mc 4:1-20; Lc 8:4-15).

Trong dụ ngôn này, Chúa Giêsu đề cập bốn loại hạt: (1) Loại hạt rơi xuống vệ đường, bị chim chóc ăn mất; (2) Loại hạt rơi trên nơi sỏi đá, đất không nhiều, nó mọc ngay nhưng bị cháy khô khi nắng lên; (3) Loại hạt rơi vào bụi gai, bị chết nghẹt vì gai mọc đè lên; (4) Loại hạt rơi vào đất tốt nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục.

Kết thúc dụ ngôn, Chúa Giêsu nói: “Ai có tai thì nghe” (Mt 13:9). Đây là cách nói khiến chúng ta phài suy nghĩ nhiều. Tại sao Đức Giêsu dùng dụ ngôn mà nói? Chúa Giêsu giải thích: “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy mất. Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu. Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ Isaia: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy; vì lòng dân này đã ra chai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành” (Mt 13:11-15). Ung thư là dạng xơ cứng cơ phận nào đó, rất đáng sợ; “chai sạn” là dạng xơ cứng tâm hồn, chứng ung thư linh hồn, đáng sợ h7n nhiều. Cứng lòng cũng là tội xúc phạm tới Chúa Thánh Thần, một dạng “ung thư tâm linh”, bất trị, thế nên không được tha cả ở đời này lẫn đời sau (x. Mc 3:29; Lc 12:10).

Đối với những người thành tâm, tâm hồn mềm chứ không cứng, Chúa Giêsu đã lên tiếng chúc mừng: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Mt 13:16-17). Chúng ta không diễm phúc trực diện với Chúa Giêsu như các tông đồ xưa, nhưng chúng ta lại “gặp gỡ” Ngài bằng con mắt đức tin, và được một mối phúc khác: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Thấy hay không thấy trực tiếp, điều đó không thành vấn đề, mà vấn đề là TIN hay KHÔNG TIN.

Đề cập đức tin và để củng cố đức tin, hãy nghe giáo sư Robert Andrews Millikan Millikan (1868–1953, nhà vật lý danh tiếng người Mỹ, đạt giải nobel vật lý năm 1923) nhận định: “Tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng sự vô tín không có nền tảng khoa học. Tôi thấy giữa đức tin và khoa học không có gì mâu thuẫn với nhau cả”.

Trong tất cả các dụ ngôn, có lẽ dụ ngôn Người Gieo Giống khó hiểu nhất đối với phàm nhân. Vì thế, Chúa Giêsu đã phải giải thích chi tiết: “Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận. Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục” (Mt 13:19-23). Lời giải thích của Chúa Giêsu chính xác và mạch lạc, chẳng cần lời giải thích nào nữa!

Thiết tưởng, có thể chúng ta chưa đến nỗi là “hạt gieo bên vệ đường”, nhưng rất có thể là “hạt gieo nơi đá sỏi” và “hạt gieo vào bụi gai”, bởi vì chúng ta có nhiều những nỗi sợ hãi và nỗi lo lắng – đôi khi vô cớ và vô lý. Vả lại, đôi khi chúng ta còn ảo tưởng, bởi vì chúng ta có vẻ rất “ngoan ngoãn và hiền lành như chiên” khi ở trong khuôn viên nhà thờ, nhưng khi ra ngoài nhà thờ thì... “khác hẳn”, y như các ảo thuật gia có thể biến Chiên thành Cọp, David Copperfield còn “thua xa”, và chắc hẳn mỗi chúng ta cũng nên “tự xem lại” chính mình lắm. Sự thật thì vẫn hay phũ phàng thế đấy, nhưng chỉ có thuốc đắng mới “đã” tật mà thôi, không thể khác được!

Cuộc sống cho biết rằng công thức là điều cần thiết, bởi vì cái gì cũng cần có “luật” nhất định, và nghi thức hoặc nghi lễ cũng vậy, nhưng đừng quá câu nệ vào hình thức, đừng coi trọng số lượng mà coi thường chất lượng!

Hạt giống là hạt đời, có nhiều dạng hạt lép và cũng có nhiều dạng hạt mẩy. Tính từ “mẩy” hoặc “lép” đôi khi còn do chính chúng ta gán ghép cho người khác, chứ không phải tại hạt. Chí Phèo cũng muốn sống tốt mà tại thành kiến của người đời khiến anh ta không thể “ngóc đầu” lên được, anh ta muốn hoàn lương mà người ta cứ “đè” anh ta xuống. Hạt Chí Phèo muốn “mẩy” mà bị người đời làm cho “lép”. Vì thế mà có những dạng “cùi không sợ lở”. Lỗi tại ai? Lỗi tại tôi ba lần đủ chưa? Và chúng ta có thật lòng “đấm ngực” không? Ai thực sự can đảm mới có thể trả lời!

Hệ lụy Gieo – Gặt mang tính liên đới. Thánh Phaolô nói: “Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời. Khi làm điều thiện, chúng ta đừng nản chí, vì đến mùa chúng ta sẽ được gặt, nếu không sờn lòng” (Gl 6:7-9). Ước gì mỗi chúng ta đều là “hạt gieo vào đất tốt” và sinh lời, nhiều hay ít cũng được, miễn sao là có sinh lời – cho chính mình và cho tha nhân.

Hãy lưu ý lời cảnh báo của Thánh Gioan Climacus: “Ma quỷ thường hại linh hồn của con người bằng cách lấy đức hạnh và việc thiện tu đức của con người bày ra trước mắt để dẫn con người tới kiêu ngạo”. Kiêu ngạo là “cái tôi” quá lớn, và là đầu mối tội lỗi, đối lập với đức khiêm nhường – nền tảng nhân đức.

Lạy Thiên Chúa hằng sinh, xin giúp con biết gieo những hạt giống tốt và cố gắng hút mầu mỡ tâm linh để phát triển thành cây tốt và sinh trái lành, xin ban cho con được vui hưởng lòng nhân hậu của Ngài và xin củng cố những gì con có thể làm được theo khả năng Ngài trao. Con chân thành cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

HẠT GIỐNG ĐỨC TIN

Gieo giống (gieo hạt) là công việc của nông dân. Có nhiều loại hạt giống, mùa nào thứ nấy: Lúa, bắp (ngô), đậu,… Công việc gieo giống cực nhọc về thể lý: làm đất, tưới nước, bón phân, làm cỏ, canh giữ,… Nhà nông đầu tắt mặt tối, không ngơi tay, như ca dao nói: “Làm nông ăn cơm nằm, chăn tằm ăn cơm đứng”.

“Ăn cơm đứng” thì dễ hiểu, còn “ăn cơm nằm” không phải là thoải mái, mà vì mệt quá, ngồi không nổi nên phải nằm mà ăn. Vừa nằm vừa ăn đâu có dễ! Không chỉ cực nhọc về thể lý mà còn cực nhọc cả về tinh thần: chọn giống, chọn thời điểm, tính theo thời tiết, chờ đợi thu hoạch,...

Hạt giống nhỏ bé nhưng có thể lớn mạnh thành cây tươi tốt lớn mạnh, sinh nhiều hạt khác. Nhưng hạt giống có thể vô ích, vì cứ nằm im trong bao, nếu không có Người Gieo Giống. Người gieo giống sẽ thất nghiệp nếu không được sai đi.

Về ý nghĩa tâm linh, người gieo giống được gọi là tư tế, người chuyên lo việc phụng tự đối với Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói: “Vị tư tế nào cũng phải đứng trong Đền Thờ lo việc phụng tự mỗi ngày và dâng đi dâng lại cũng ngần ấy thứ lễ tế; mà những lễ tế đó chẳng bao giờ xoá bỏ được tội lỗi” (Dt 10:11). Đó là thời Cựu ước, lễ vật là những tế vật bình thường như chiên, bò, bồ câu,…

Thời Tân ước, tế vật không còn là những thứ trần tục mà là chính Đức Kitô, Thánh lễ được cử hành hằng ngày ở khắp nơi cũng vẫn là chính Đức Kitô. Thánh Phaolô xác định: “Đức Kitô, sau khi dâng lễ tế duy nhất để đền tội cho nhân loại, Người đã lên ngự bên hữu Thiên Chúa đến muôn đời. Và từ khi đó, Người chờ đợi ngày các kẻ thù bị đặt làm bệ dưới chân. Quả thật, Người chỉ dâng hiến lễ một lần, mà vĩnh viễn làm cho những kẻ Người đã thánh hoá được nên hoàn hảo” (Dt 10:12-14). Đặc biệt là “điều đó cả Thánh Thần cũng làm chứng cho chúng ta thấy” (Dt 10:15). Thời Cựu ước, các tư tế phải dâng lễ vật nhiều lần, còn thời Tân ước, Đức Kitô chỉ dâng một lần là đủ.

Lễ vật được dâng để đền tội cho dân. Đức Kitô cũng dâng lễ vật là chính Ngài để đền tội thay chúng ta. Thiên Chúa trước sau như một, không quên lời hứa và luôn giữ trọn. Thánh Phaolô cho biết: “Sau khi phán: Đây là giao ước Ta sẽ lập với chúng sau những ngày đó, thì Đức Chúa phán: Ta sẽ ghi vào tâm khảm chúng, sẽ khắc vào lòng trí chúng lề luật của Ta. Ta sẽ không còn nhớ đến lỗi lầm và việc gian ác của chúng nữa” (Dt 10:16-17). Nhân loại còn phạm tội nên còn cần đền tội, và ai đã được Thiên Chúa tha thứ thì không cần đền tội nữa: “Nơi nào đã có ơn tha tội, thì đâu cần lễ đền tội nữa” (Dt 10:18).

Đức Chúa tuyên phán rõ ràng: “Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân con. Từ Sion, Đức Chúa sẽ mở rộng quyền vương đế của Ngài: Giữa lòng địch quân, xin Ngài làm bá chủ” (Tv 110:1-2). Rồi Đức Chúa lại phán bảo: “Ngày đăng quang con nắm quyền thủ lãnh, vẻ huy hoàng rực rỡ tựa thần linh. Ngay trước lúc hừng đông xuất hiện, tự lòng Cha, Cha đã sinh ra Con” (Tv 110:1-3). Đó là lời nói về Thượng Tế Kitô. Kỳ lạ là Đức Chúa đã một lần thề ước, Người sẽ chẳng rút lời, vì Ngài luôn trọng chữ Tín. Lời hứa đó là: “Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Menkixêđê” (Tv 110:4).

Trước giờ chịu khổ nạn, vào chiều tối Thứ Năm Tuần Thánh, Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Thánh Thể để thực sự ở lại với chúng ta và hiện diện giữa chúng ta cho tới tận thế. Những người được Ngài trao quyền cử hành Bí tích cao trọng này là các linh mục, các tư tế được tuyển lựa giữa muôn người. Đó cũng là những người lãnh sứ vụ gieo Hạt Giống Đức Tin mỗi ngày.

Thánh sử Mác-cô kể: Đức Giêsu lại bắt đầu giảng dạy ở ven Biển Hồ. Một đám người rất đông tụ họp chung quanh Người, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi dưới biển, còn toàn thể đám đông thì ở trên bờ. Người dùng dụ ngôn mà dạy họ nhiều điều.

Trong lúc giảng dạy, Người nói với họ: “Các người nghe đây! Người gieo giống đi ra gieo giống. Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. Có hạt rơi trên sỏi đá, chỗ không có nhiều đất; nó mọc ngay, vì đất không sâu; nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt và không sinh hoa kết quả. Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nó mọc và lớn lên, sinh hoa kết quả: hạt thì được ba mươi, hạt thì được sáu mươi, hạt thì được một trăm” (Mc 4:3-8; Mt 13:1-9; Lc 8:4-8). Cách nói của Ngài cụ thể và đầy hình tượng, có vẻ giản dị vậy mà khó hiểu, và chính các đệ tử ruột cũng có vẻ rất mơ hồ, không đủ sức hiểu hết.

Kể dụ ngôn xong, Chúa Giêsu nói: “Ai có tai nghe thì nghe!” (Mc 4:9; Mt 13:9; Lc 8:8). Một lời ngắn gọn, súc tích và thấm thía. Ai cũng có tai để nghe, ngay cả người điếc cũng vẫn có thể “ngóng”. Nhưng vấn đề là có MUỐN NGHE hay không, nghe rồi có MUỐN HIỂU hay không, hiểu rồi có MUỐN LÀM hay không.

Chúa Giêsu cô đọng trong bốn loại người như bốn loại hạt được gieo: hạt ở vệ đường, hạt trên sỏi đá, hạt trong bụi gai, hạt trên đất tốt. Có lẽ đây là dụ ngôn duy nhất được Chúa Giêsu giải thích cặn kẽ.

– HẠT Ở VỆ ĐƯỜNG là người vừa nghe lời thì Satan liền đến giật mất lời đã gieo nơi họ. Loại người này cũng là người chỉ nghe cho vui, nghe để mà nghe, biết để mà biết, không chút quan tâm.

– HẠT TRÊN SỎI ĐÁ là người nghe lời thì liền vui vẻ đón nhận, nhưng họ không đâm rễ mà là những kẻ nông nổi nhất thời; sau đó, khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì lời, họ vấp ngã ngay. Loại người này ra vẻ “chiên ngoan” lắm, mở miệng ra là nói chuyện đạo đức, nhưng đó chỉ là lúc “xuôi chèo, mát mái” hoặc “ăn nên, làm ra”, khi cầu nguyện không được như ý thì họ chán ngay, họ viện đủ lý do: nhưng, nếu, giá, bởi, tại, vì,… Rõ ràng họ thiếu cái Tâm, thế nên CÁI LO TO HƠN CÁI ĐỨC.

– HẠT TRONG BỤI GAI là người nghe lời, nhưng những nỗi lo lắng sự đời, bả vinh hoa phú quý cùng những đam mê khác xâm chiếm lòng họ, bóp nghẹt lời khiến lời không sinh hoa kết quả gì. Loại người này “cao cấp” hơn loại người thứ hai. Họ bận rộn đủ thứ, chạy ngược bước xuôi để mong sao mình được quyền cao, chức trọng. Vì “sự nghiệp vĩ đại” mà họ không ngần ngại đè bẹp người khác, dù người đó là thân thuộc hoặc quen biết. Vì sĩ diện, họ không muốn “hy sinh đời bố, củng cố đời con”, mà chính họ phải là người “hét ra lửa” và ung dung tự tại như ông hoàng.

– HẠT TRÊN ĐẤT TỐT là người nghe lời và đón nhận, rồi sinh hoa kết quả, kẻ thì ba mươi, kẻ thì sáu mươi, kẻ thì một trăm. Loại người này thì dễ hiểu. Họ thật lòng chuyên cần việc thiện, vì Chúa chứ không vì bất kỳ thứ gì khác. Tuy nhiên, những người này cũng có thể bị tha nhân chê bai, dè bỉu, khinh miệt, xa tránh,… Nhưng họ không quan tâm, chỉ miễn sao SỐNG ĐẸP LÒNG THIÊN CHÚA mà thôi.

Có lẽ đa số chúng ta thuộc loại hai và ba. Tuy nhiên, mức độ và cách thức có thể khác nhau. Do đó, Hạt Đức Tin không thể lớn mạnh theo thời gian. Cầu mong mỗi chúng ta đều là Hạt Đức Tin mau nảy mầm và mau phát triển lớn mạnh!

Lạy Thiên Chúa, chúng con yếu đuối lắm, xin soi sáng và nâng đỡ chúng con luôn. Xin giúp chúng con biết chân thành đón nhận Ý Chúa, dù có thể đó là điều trái ý riêng của chúng con, để chúng con có thể càng ngày càng tiến bộ trên đường nhân đức, trở nên hạt trên đất màu mỡ. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa Cứu Độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

HẠT GIỐNG
(CN XV TN/A – Mt 13:1-23)

Đức Giêsu ra ngồi ven Biển Hồ
Dân tụ họp bên Người rất đông đúc
Người phải xuống thuyền mà ngồi mới được
Còn tất cả dân chúng đứng trên bờ
Dùng dụ ngôn Người nói họ nhiều điều
Có người đi gieo và gieo những hạt giống
Có những hạt bên vệ đường rơi xuống
Bị chim chóc sà xuống ăn mất liền
Có những hạt rơi trên sỏi đá cằn
Phần đất màu không nhiều, nó vẫn mọc
Đất không sâu, nắng lên, nó bị chết
Vì thiếu rễ nên bị khô cháy ngay
Có những hạt rơi vào giữa bụi gai
Gai mọc lên làm cho nó chết nghẹt
Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt
Nên sinh hoa kết quả thật tốt tươi
Hạt gấp trăm, hạt sáu chục, ba mươi
Ai có tai thì lắng nghe cho rõ!
Các môn đệ hỏi Chúa về điều đó:
“Nói với họ, sao Thầy dùng dụ ngôn?”
Người liền đáp: “Vì anh em được ơn
Hiểu mầu nhiệm Nước Trời, họ không rõ
Ai đã có thì được cho thêm nữa
Ai không có, cái có cũng mất luôn
Bởi vì thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn
Chỉ vì họ vẫn nhìn mà không thấy
Vẫn lắng nghe mà không hiểu chi vậy
Đối với họ đã nghiệm lời sấm ngôn
Rằng: Các ngươi có nghe cũng như không
Có trố mắt mà chẳng thấy chi cả
Vì dân này lòng đã ra chai đá
Chúng bịt tai, nhắm mắt, chẳng nghe nhìn
Sợ hoán cải, và Ta sẽ chữa lành
Mắt anh em có phúc vì thấy được
Tai anh em có phúc vì nghe được
Thầy bảo thật anh em, quả như thế
Nhiều người công chính và nhiều ngôn sứ
Muốn nghe nhìn điều anh em nghe nhìn
Thế nhưng họ đâu có được nghe nhìn
Vậy hãy nghe dụ ngôn người gieo giống
Nghe không hiểu lời giảng Nước Hằng Sống
Thì quỷ dữ đến cướp Lời vô thường
Đó là kẻ được gieo bên vệ đường
Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá
Là nghe Lời và đón nhận vui vẻ
Không đâm rễ mà là kẻ nhất thời
Gặp gian nan, bị ngược đãi vì Lời
Ngay tức thì nó sợ và vấp ngã
Còn kẻ được gieo vào bụi gai đó
Là nghe Lời nhưng chỉ tìm phú quý
Khiến Lời không sinh kết quả gì đâu
Còn kẻ được gieo trên đất phì nhiêu
Đó là kẻ nghe Lời và hiểu rõ
Thì tất nhiên sinh hoa và kết quả
Kẻ gấp trăm, kẻ sáu chục, ba mươi

Con thành tâm suy niệm, lạy Chúa Trời!
Xin giúp con trở thành hạt giống tốt
Biết ngày đêm đi đường ngay nẻo thật
Luôn một lòng kính mến Chúa, yêu người
TRẦM THIÊN THU

Gieo và Gặt
(Chúa Nhật XV TN, năm A)

Muốn Gặt thì phải Gieo, trước khi Gieo thì phải có Hạt Giống. Hạt giống là thứ rất quan trọng trong nông nghiệp. Hạt giống phải là những hạt giống mẩy, chắc, có màu sáng. Hầu hết các loại hạt cây lương thực đều gồm ba phần là vỏ, phôi và phôi nhũ. Vỏ có nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho hạt, không để phôi hạt bị hư hỏng, vì phôi là “sinh mệnh” của hạt, có nhiệm vụ nảy mầm để có thể trở thành cây con, còn phôi nhũ là phần chứa dưỡng chất của hạt, là phần nuôi cây con.
Hạt giống tốt mới có thể nảy mầm tốt, lớn thành cây tốt, và sinh hoa trái tốt. Chắc chắn là vậy, có lần chính Chúa Giêsu đã xác định: “Xem quả thì biết cây” (Mt 12:33; Lc 6:44). Cây tốt không thể sinh trái xấu, cây sâu không thể sinh trái ngọt. Về tinh thần cũng cần có “hạt giống tâm hồn”. Tương tự, về tâm linh rất cần “hạt giống Lời Chúa”.

QUẢ và CÂY có hệ lụy với nhau. GIEO và GẶT có hệ lụy với nhau. NÓI và NGHE cũng vậy, vì NÓI là GIEO, NGHE là GẶT. Tương tự, LÒNG và MIỆNG cũng không thể tách rời: “Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Lc 6:45). Một hệ lụy tất yếu: “Vì nhờ lời nói của anh mà anh sẽ được trắng án, và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án” (Mt 12:37). Người Việt chúng ta cũng nói: “Có đầy mới tràn”.

Từ khi gieo và tới lúc gặt (thu hoạch) là một quá trình đầy gian khổ. Tác giả Thánh Vịnh nói: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo; lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 126:5-6). Nỗi buồn và niềm vui, đau khổ và sung sướng, nụ cười và nước mắt,... đó là các cặp tương đồng về hai trạng thái trái ngược nhau, cũng như GIEO và GẶT. Gieo là lúc vất vả, gặt là lúc tận hưởng. Thật vậy, không có niềm hạnh phúc nào mà không có ít nhiều nước mắt.

Trong quá trình Gieo và Gặt, vấn đề thời tiết cũng quan trọng. Không mưa thuận gió hòa thì con người cũng “bó tay”. Hoặc đến ngày thu hoạch, nhưng chỉ một cơn bão hoặc lũ lụt thì con người cũng đành chịu trắng tay. Điều đó cho thấy Đấng Vô Hình mới làm chủ mọi thứ, Đấng đó là Thiên Chúa. Vừa kinh ngạc vừa kinh sợ, người ta tự hỏi về Đức Giêsu Kitô: “Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?” (Mt 8:27; Mc 4:41; Lc 8:25).

Đức Chúa tuyên lời qua miệng ngôn sứ Isaia: “Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó” (Is 55:10-11). Thiên Chúa dùng hình ảnh rất quen thuộc, rất thực tế đời thường. Lời Chúa rất kỳ diệu, rất quan trọng trong đời sống Kitô hữu: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119:105). Không chỉ vậy, Lời Chúa còn có sức mạnh phi thường, không ai có thể cưỡng lại.

Khả dĩ cảm nghiệm Lời Chúa, tác giả Thánh Vịnh chia sẻ: “Thăm trái đất, Ngài tuôn mưa móc, cho ngập tràn phú túc giàu sang, suối trời trữ nước mênh mang, dọn đất sẵn sàng đón lúa trổ bông. Tưới từng luống, san từng mô đất, khiến dầm mưa cho hạt nẩy mầm, bốn mùa Chúa đổ hồng ân, Ngài gieo mầu mỡ ngập tràn lối đi” (Tv 65:10-12). Hồng ân Thiên Chúa chan hòa như mưa móc, Lời Chúa là nguồn giải khát thiết yếu, ước gì chúng ta cũng có thể nói được như tác giả Thánh Vịnh: “Con há miệng và con hớp lấy, vì khát khao mệnh lệnh của Ngài” (Tv 119:131). Hằng ngày ai sống được như vậy thì thật hạnh phúc biết bao!

Thiên nhiên tràn ngập hình ảnh chứng tỏ quyền năng của Thiên Chúa: “Vùng hoang địa xanh rì ngọn cỏ, cảnh núi đồi hớn hở tươi xinh, chiên cừu phủ trắng đồng xanh, lúa vàng dưới lũng rung rinh dạt dào, câu hò tiếng hát trổi cao” (Tv 65:13-14). Khi nhìn ngắm thiên nhiên, người ta có thể nhận biết Thiên Chúa hiện hữu. Ngay cả những người theo chủ nghĩa vô thần cũng không thể chối bỏ Ông Trời, dù họ không muốn công khai xác nhận, vì họ không thể nào “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa” như họ muốn.

Hằng ngày, bằng cách này hoặc cách nọ, chúng ta cũng “gieo” nhiều thứ qua ánh mắt, thái độ, cử chỉ, lời nói, hành động,... Có những thứ chúng ta có thể “gặt” ngay lúc đó, nhưng cũng có những thứ cần có thời gian. Dù lâu hay mau, trong khoảng “gieo – gặt” vẫn có một khoảng chờ đợi. Thánh Phaolô nhận xét: “Tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta. Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người” (Rm 8:18-19). Đó là khoảng chờ đợi, khoảng hy vọng, luôn rất cần có sự kiên trì. Thánh Phaolô giải thích: “Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự dovinh quang” (Rm 8:20-21).

Được giải thoát là được tự do, có tự do là có hạnh phúc. Thánh Phaolô cho biết thêm: “Cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siếtquằn quại như sắp sinh nở. Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa” (Rm 8:22-23). Đó mới là lúc thực sự được giải thoát, được thu hoạch chính những gì chúng ta đã “gieo” trong suốt cuộc đời. Ai gieo giống tốt thì bội thu, ai gieo giống xấu cũng có thu hoạch, nhưng là thu hoạch những cái xấu xa và nguy hại.

Một hôm, Đức Giêsu từ nhà ra ngồi ở ven Biển Hồ. Dân chúng tụ họp bên Ngài rất đông, nên Ngài phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng đứng trên bờ. Ngài dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều, một trong các dụ ngôn đó là “Dụ Ngôn Người Gieo Giống” (Mt 13:1-23; Mc 4:1-20; Lc 8:4-15).

Trong dụ ngôn này có bốn loại hạt: (1) Những hạt rơi xuống vệ đường, bị chim chóc ăn mất; (2) Những hạt rơi trên nơi sỏi đá, đất không nhiều, nó mọc ngay nhưng bị cháy khô khi nắng lên; (3) Những hạt rơi vào bụi gai, nó chết nghẹt vì bị gai mọc đè lên; (4) Những hạt rơi vào đất tốt nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục.

Chúa Giêsu thản nhiên nói: “Ai có tai thì nghe” (Mt 13:9). Một câu nói rất đáng để chúng ta suy nghĩ nhiều. Tại sao Đức Giêsu dùng dụ ngôn mà nói? Chúa Giêsu giải thích: “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất. Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu. Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ Isaia, rằng: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy; vì lòng dân này đã ra chai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành” (Mt 13:11-15). Ung thư là dạng xơ cứng cơ phận nào đó, “chai đá” là dạng xơ cứng tâm hồn, chứng ung thư linh hồn. Cứng lòng cũng là tội xúc phạm tới Chúa Thánh Thần, thế nên không đời nào được tha (x. Mc 3:29; Lc 12:10).

Chúa Giêsu đã xác định: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Mt 13:16-17). Chúng ta không diễm phúc như các tông đồ xưa, nhưng chúng ta lại có một mối phúc khác mà chính Chúa Giêsu đã nói: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29).

Trong các dụ ngôn, có lẽ dụ ngôn Người Gieo Giống khó hiểu nhất. Vì thế, Chúa Giêsu đã phải giải thích: “Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận. Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục” (Mt 13:19-23). Lời giải thích của Chúa Giêsu quá chính xác và rõ ràng, chẳng cần chú thích chi nữa!

Có lẽ chúng ta chưa đến nỗi là “hạt gieo bên vệ đường”, nhưng rất có thể chúng ta là “hạt gieo nơi đá sỏi” và “hạt gieo vào bụi gai”, vì chúng ta có nhiều những nỗi sợ hãi và nỗi lo lắng. Vả lại, đôi khi chúng ta còn ảo tưởng, vì chúng ta có vẻ rất “ngoan ngoãn và hiền lành” khi ở trong nhà thờ, nhưng khi ra ngoài nhà thờ thì... “khác hẳn”, y như các ảo thuật gia có thể biến Chiên thành Cọp, thiết tưởng có lẽ chúng ta cũng nên “xem lại”. Sự thật thì vẫn hay phũ phàng thế đấy, nhưng chỉ có thuốc đắng mới “đã” tật!

Công thức là điều cần thiết, và nghi thức hoặc nghi lễ cũng vậy, vấn đề quan trọng là đừng quá câu nệ vào hình thức, chú ý số lượng mà coi thường chất lượng! Hạt giống là hạt đời, có nhiều dạng hạt lép và cũng có nhiều dạng hạt mẩy. Tính từ “mẩy” hoặc “lép” đôi khi còn do chính chúng ta gán ghép cho người khác, chứ không phải tại hạt. Chí Phèo cũng muốn sống tốt mà tại thành kiến của người đời khiến anh ta không thể “ngóc đầu” lên được. Hạt Chí Phèo muốn “mẩy” mà bị người đời làm cho “lép”. Vì thế mà có những dạng “cùi không sợ lở”. Lỗi tại ai? Lỗi tại tôi ba lần đủ chưa? Và chúng ta có thật lòng “đấm ngực” không? Ai thực sự can đảm mới có thể trả lời!

Ước gì mỗi chúng ta đều là “hạt gieo vào đất tốt” và sinh lời, nhiều hay ít cũng được, miễn sao là có sinh lời – cho chính mình và cho tha nhân.

Thánh Phaolô nói: “Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời. Khi làm điều thiện, chúng ta đừng nản chí, vì đến mùa chúng ta sẽ được gặt, nếu không sờn lòng” (Gl 6:7-9).

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết gieo giống tốt và trở thành những hạt giống gieo nơi đất tốt để chúng con “được hưởng tình thương Chúa và ơn cứu độ theo lời hứa của Ngài” (Tv 119:41). Xin cho chúng con được vui hưởng lòng nhân hậu của Ngài và xin củng cố việc tay chúng con làm (Tv 90:17). Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

Nhận biết Ý Chúa

Nhận biết Ý Chúa là điều không dễ. Mà nhận biết rồi có vui vẻ chấp nhận hay không là việc khó, vì chúng ta thường không bằng lòng với những gì không hợp ý mình. Lời “xin vâng” của Đức Maria xem chừng dễ dàng quá, nhưng thực ra không phải vậy. Đức Mẹ mau mắn “xin vâng” vì Đức Mẹ yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Vậy Thiên Chúa có cách chọn lựa đúng trong điều tôi quyết định?

Khi chúng ta xin ơn khôn ngoan để nhận biết Ý Chúa để chọn người bạn đời, nghề nghiệp, công việc, trường học, bạn bè,... hoặc bất kỳ điều gì, dù lớn hay nhỏ, khi đó có hai con đường khác nhau trước mắt chúng ta và chúng ta phải chọn lựa, Thiên Chúa có luôn là một con đường cho chúng ta? Nếu vậy, làm sao nhận biết?

Nhiều Kitô hữu “vật lộn” với vấn đề này vì không biết rằng các Kitô hữu ngày xưa có thể giúp chúng ta bằng kinh nghiệm của họ. Sự khôn ngoan Kitô giáo thể hiện qua đời sống và giáo huấn của các thánh cho chúng ta biết hai điều thích hợp với vấn đề này.

Thứ nhất, họ cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa không chỉ biết và yêu thương chúng ta mà còn quan tâm từng chi tiết trong cuộc đời chúng ta, và chúng ta tìm theo Ý Chúa trong mọi sự, dù lớn hay nhỏ. Thứ hai, họ cho chúng ta biết rằng Ngài ban cho chúng ta sự tự do và lý luận vì Ngài muốn chúng ta dùng để quyết định. Truyền thống này được minh họa qua câu châm ngôn nổi tiếng của Thánh Augustinô: “Hãy yêu mến Chúa, rồi cứ làm những gì bạn muốn”. Nói cách khác, nếu bạn thực sự yêu mến Ngài và theo ý Ngài, bạn có thể làm bất cứ điều gì, vì đó là làm theo Ý Chúa.

Làm theo hai lời khuyên này sẽ đưa mình vào hai hướng trái chiều hoặc chỉ có vẻ như thế? Có sự thật trong cả hai, điều mà chúng ta nhấn mạnh để giải quyết vấn đề xem Chúa có muốn cho chúng ta hay không?

Tôi nghĩ về cách thứ nhất và câu trả lời rõ ràng cho vấn đề này là còn tùy vào người yêu cầu. Chúng ta có xu hướng nhấn mạnh một nửa sự thật, và chúng ta có thể làm điều đó trong hai cách. Mọi tà thuyết trong lịch sử thần học đều hợp với kiểu này. Chẳng hạn, nhấn mạnh thần tính của Đức Kitô hơn nhân tính hoặc ngược lại; hoặc nhấn mạnh quyền tối cao của Chúa hơn ý muốn tự do hoặc ngược lại.

Đây là 5 nguyên tắc chung để nhận biết Ý Chúa về mọi vấn đề:

1. Luôn bắt đầu với các dữ liệu, những gì chúng ta biết chắc. Nhờ cái đã biết mà đoán cái chưa biết, nhờ cái chắc chắn mà đoán cái không chắc. Ađam và Eva đã coi thường nguyên tắc này ở Vườn Địa Đàng, làm ngơ lệnh truyền của Thiên Chúa và lời cảnh báo về lời hứa hảo huyền của ma quỷ.

2. Hãy để con tim điều khiển cái đầu. Hãy để lòng yêu mến Thiên Chúa hướng dẫn lý lẽ trong việc tìm Ý Ngài. Chúa Giêsu đã dạy người Pharisêu về nguyên tắc này: Họ hỏi Chúa Giêsu về cách hiểu lời Ngài, và Ngài đưa ra nguyên tắc đầu tiên về khoa chú giải (hermeneutics): “Đạo lý tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi. Ai muốn làm theo ý của Người thì sẽ biết rằng đạo lý ấy là bởi Thiên Chúa hay do tôi tự mình giảng dạy. Ai tự mình giảng dạy thì tìm vinh quang cho chính mình. Còn ai tìm vinh quang cho Đấng đã sai mình, thì là người chân thật, và nơi người ấy không có gì là bất chính” (Ga 7:16-18). Các thánh hiểu Kinh Thánh hơn các thần học gia, vì họ biết tác giả Kinh Thánh là chính Thiên Chúa, bằng cách yêu mến Ngài bằng cả linh hồn và trí khôn.

3. Hãy mềm lòng chứ đừng cứng lòng. Chúng ta nên “khôn ngoan như con rắn và hiền lành như bồ câu”, tinh thông như con cáo về tư tưởng trung thành như con chó trong ý muốn và hành động. Mềm lòng không có nghĩa là nhẹ dạ, và cứng đầu không có nghĩa là cứng lòng. Lòng chúng ta nên sẵn sàng “rỉ máu” và đầu chúng ta nên “giữ vững lập trường”.

4. Các dấu chỉ của Chúa theo dạng lượng giác học (trigonometry). Có ít là bảy dấu chỉ: (1) Kinh Thánh, (2) Giáo huấn của Giáo hội, (3) Lý lẽ của con người (do Thiên Chúa tạo nên), (4) Tình huống thích hợp (mà Ngài kiểm soát bằng sự quan phòng), (5) Lương tâm, biết đúng hay sai, (6) Ước muốn, bản năng hoặc xu hướng cá nhân, và (7) cầu nguyện.
Hãy trắc nghiệm sự chọn lựa bằng cách đặt mình trước mặt Chúa. Nếu một trong bảy điều nói KHÔNG thì đừng làm, nếu không điều nào nói KHÔNG thì cứ làm theo.

5. Hãy tìm kiếm hoa trái của tinh thần, nhất là ba điều này: Yêu thích, vui mừng, và bình an. Nếu chúng ta bực tức và lo lắng, không thích, không vui và không bình an, chúng ta không có quyền nói rằng chúng ta chắc chắn an toàn theo Ý Chúa. Sự nhận thức không nên cứng ngắc (nhắc), nông nổi, nóng vội, nhưng phải cảm thấy yêu thích, vui mừng và bình an – vì đó là một phần Ý Chúa đối với chúng ta, giống như trò chơi hơn là cuộc chiến, giống như viết thư tình hơn là thi tốt nghiệp.

Bây giờ đối với vấn đề của chúng ta. Thiên Chúa có chọn lựa đúng cho tôi? Nếu đúng, tôi phải tìm kiếm. Nếu không, tôi nên thoải mái hơn và chịu thiệt một chút.

Đây là 5 gợi ý trả lời: Câu trả lời tùy theo bạn là loại người nào. Tôi cho rằng nhiều dạng: (1) Công giáo, (2) những người chính thống và trung tín với các giáo huấn của Giáo hội, (3) những người bảo thủ, và (4) những người bị lôi cuốn. Tôi có nhiều người bạn – bạn tình cờ, bạn thân, và bạn rất thân – về dạng này trong nhiều năm. Thật vậy, tôi hợp với cách của tôi. Vì thế tôi nói theo kinh nghiệm khi tôi cho rằng những người thuộc dạng này có xu hướng mạnh về dạng tính cách nào đó – không tốt cũng không xấu – cần được nuôi dưỡng bằng một cách nhấn mạnh hơn cách khác. Dạng tính cách đối lập cần sự nhấn mạnh đối lập.

Dựa vào việc quan sát riêng về loại người này, gợi ý đầu tiên của tôi là chúng ta thường có xu hướng định hình theo ước muốn tốt để tìm Ý Chúa dành cho chúng ta. Chúng ta đưa ra chứng cớ khủng khiếp đối với người không là Kitô hữu; chúng ta có vẻ không thoải mái để dừng lại ngửi những bông hồng của Chúa, để tận hưởng cuộc sống theo như Chúa đã ban cho chúng ta. Chúng ta thường sợ hãi, bực bội, quan trọng hóa, thiếu khôi hài, và dễ tức giận. Tóm lại, đó là dạng “tiếp thị” không tốt cho Đức Tin của chúng ta.

Tôi không đề nghị chúng ta thỏa hiệp một chút đức tin để hấp dẫn những người không có đức tin. Tôi chỉ đề nghị chúng ta làm người. Cứ đi xem bóng đá. Cứ nhậu một chút, nếu biết uống. Đôi khi cũng cứ ngớ ngẩn một chút. Cứ thọc lét con cái và cùng vui vẻ. Hãy kể chuyện cười. Nói chung là cứ sống bình thường.

Đây là gợi ý thứ hai. Đa số các Kitô hữu, kể cả những người đạo đức, không biết những gì cần biết, đó là biết Ý Chúa qua từng cách chọn lựa của chúng ta. Hiếm lắm. Có thể điều gì đó quan trọng hơn là hiếm chăng? Có thể Thiên Chúa đã bỏ mặc chúng ta mà không gợi ý chăng?

Gợi ý thứ ba là Kinh Thánh. Trong đó có mọi tấm gương – đa số kỳ diệu, nhiều gương ngoạn mục – về việc Thiên Chúa mặc khải Thánh Ý Ngài. Nhưng các điều này được kể là mầu nhiệm: điều gì đó phi thường, chứ không chung chung.
Bóng tối và sự không chắc chắn thường xảy ra trong cuộc đời các thánh, kể cả đau khổ và nghèo nàn. Điều duy nhất phổ biến đối với nhân loại là Phúc Âm bảo đảm giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi (hậu quả của tội lỗi là chết chóc, sai lầm, sợ hãi), khỏi đau khổ và khỏi sự bất trắc. Nếu Thiên Chúa muốn chúng ta biết rõ ràng và không sai lầm, chắc chắn Ngài sẽ nói với chúng ta một cách rõ ràng và dứt khoát.

Gợi ý thứ tư là điều Thiên Chúa ban cho chúng ta: Sự tự do. Tại sao? Có một số lý do chính đáng. Chẳng hạn, để tình yêu của chúng ta có thể có giá trị hơn so với tình yêu theo bản năng, cảm xúc động vật không tự do. Nhưng tôi nghĩ có lý do khác. Là một giáo viên, tôi biết thi thoảng tôi cũng nên từ chối trả lời học sinh để chúng cố gắng tự tìm đáp án, như vậy chúng mới có thể ghi nhớ và tự đánh giá tốt hơn, đồng thời chúng cũng biết cách tập phán đoán khi tìm câu trả lời. Cho ai con cá thì rồi bạn phải nuôi họ suốt đời, cho ai cần câu và dạy họ câu cá là bạn nuôi họ cả đời rồi. Thiên Chúa ban cho chúng ta một số cá lớn, nhưng Ngài cũng ban cho chúng ta quyền tự do bắt cá nhiều hoặc ít.

Lý lẽ và tự do luôn đi đôi với nhau. Thiên Chúa tạo dựng cả hai giống như Ngài. Ngài mặc khải cho cả hai: dự đoán đối với lý lẽ và mệnh lệnh đối với ý chí. Nhưng khi Ngài không cho chúng ta câu trả lời, dù chỉ là lý thuyết, khi áp dụng cách dự đoán hoặc suy luận, như vậy Ngài cũng không cho chúng ta câu trả lời về luân lý hoặc hướng dẫn cụ thể, khi áp dụng mệnh lệnh hoặc kết luận. Ngài ban cho chúng ta lý trí và luân lý để thực hiện, và chắc chắn Ngài không vui khi chúng ta chôn giấu “nén tài năng” mà không “đầu tư” để Ngài thấy chúng ta sinh lời khi Ngài trở lại.

Về giáo dục, tôi biết luôn có hai thái cực. Bạn có thể quá tân thời, quá thực nghiệm, quá triết lý, quá nguyên tắc hoặc quá dễ dãi. Nhưng bạn cũng có thể quá cổ hoặc quá cứng rắn. Học sinh cũng cần sáng kiến, sáng tạo và nền bản. Luật Chúa rất ngắn gọn. Ngài ban cho chúng ta Mười Điều Răn, chứ không trăm hoặc ngàn điều răn. Tại sao? Vì Ngài muốn sự tự do và sự biến đổi. Tại sao bạn nghĩ Ngài tạo dựng quá nhiều người? Tại sao không dựng một vài người? Vì Ngài thích các tính cách khác nhau. Ngài muốn ca đoàn của Ngài đồng chứ không hợp xướng (but not in unison).

Tôi biết các Kitô hữu muốn tự biết mình nhiều để có thể quyết định xem cái nào chính xác là Ý Chúa muốn đối với họ. Tôi nghĩ như vậy tốt hơn là nghĩ về Thiên Chúa và người lân cận nhiều, còn chỉ ít nghĩ hoặc không nghĩ về mình, theo bản năng mà không muốn biết gì thêm. Nếu bạn yêu mến Chúa và hành động theo Luật Chúa, tôi nghĩ Ngài muốn chúng ta thư giãn một chút đấy.

Tôi rất ấn tượng với hình ảnh hàng rào quanh sân chơi của Chesterton ở trên núi, trẻ em trong đó có thể chơi đùa mà không sợ rơi xuống vực thẳm. Đó là lý do Thiên Chúa ban Lề Luật cho chúng ta: Không làm chúng ta âu lo nhưng giữ an toàn cho chúng ta để chúng ta có thể thoải mái với những trò-chơi-cuộc-đời, vui vẻ và yêu thương.

Mỗi chúng ta đều có những năng khiếu và ước muốn khác nhau, nhưng đã bị nhiễm tội – nhiễm cả vào lý luận và cơ thể của chúng ta. Chúng ta thường theo bản năng thể lý (như sự đói khát và phản xạ tự vệ) và bản năng trí tuệ (như tính tò mò và lý luận). Tôi nghĩ Ngài muốn chúng ta theo con tim. Chắc chắn là vậy, nếu Thành yêu Tâm hơn yêu Mai, anh ta có lý để nghĩ rằng Thiên Chúa đang muốn anh ta kết hôn với Tâm hơn là với Mai. Tại sao chúng ta không xử lý các chọn lựa khác theo quy luật tương tự?

Dĩ nhiên tôi không nói rằng chúng ta hoàn toàn không sai lầm. Tôi cũng không nói rằng chúng ta chỉ có thể theo lý lẽ của con tim. Trên đây tôi đã đưa ra 7 hướng dẫn. Nhưng chắc rằng chính Thiên Chúa đã “thiết kế” trái tim chúng ta – trái tim tinh thần với ước muốn và ý hướng nhiều hơn trái tim thể lý với động mạch chủ và các van bơm. Cha mẹ chúng ta phạm tội và hướng dẫn sai lầm, nhưng Thiên Chúa ban họ cho chúng ta để chúng ta theo. Như vậy, trái tim cũng đáng theo mặc dù nó cũng đầy tội lỗi và sai lầm. Nếu trái tim chúng ta yêu mến Chúa thì đáng theo lắm. Nếu nó không yêu mến Chúa thì bạn đừng quan tâm vấn đề nhận biết Ý Chúa.

Đây là gợi ý thứ năm. Khi chúng ta theo lời khuyên của Thánh tiến sĩ Augustinô là “cứ yêu mến Chúa đi, rồi cứ làm những gì bạn muốn”, chúng ta thường có kinh nghiệm về nỗi buồn và sự bình an. Bình an là dấu ấn của Chúa Thánh Thần.

Tôi biết có vài người rời bỏ Kitô giáo vì họ thiếu sự bình an. Họ cố gắng trở thành “siêu Kitô hữu” về mọi thứ, và họ phải chịu áp lực. Họ nên đọc thư của Thánh Phaolô gởi giáo đoàn Ga-lát.

Đây là gợi ý thứ sáu. Nếu Thiên Chúa có cách chọn đúng trong mọi điều bạn làm, bạn có thể rút kinh nghiệm. Nghĩa là Thiên Chúa muốn bạn biết căn phòng nào sạch nhất, phòng bếp hay phòng ngủ, và nên lấy cái dĩa nào trước, dĩa thịt hay dĩa nước chấm. Bạn thấy đó, nếu bạn thực hiện ẩn ý hợp lý của nguyên tắc này, điều đó sẽ buồn cười, không ổn, và không biết Chúa muốn chúng ta sống cách nào – cách được diễn tả trong Kinh Thánh và cuộc đời của các thánh.

Gợi ý thứ sáu là nguyên tắc có nhiều điều tốt. Nhưng đối với người nào đó, vẫn thường có vài cách chọn lựa đều tốt. Cái tốt là kính vạn hoa (kaleidoscopic), đa sắc biến đổi. Có nhiều con đường đúng. Con đường dẫn tới biển là đúng và con đường dẫn tới núi cũng đúng, vì Thiên Chúa vẫn đang chờ đợi chúng ta ở cả hai nơi. Sự thiện có nhiều màu sắc. Chỉ có điều ác mới thiếu màu sắc và biến ảo. Trong Hỏa ngục không có màu sắc, không có tính cách cá nhân. Các linh hồn tan chảy như chì, hoặc bị nhai nghiến trong miệng của Quỷ vương. Hai nơi giống nhau trên thế gian là nhà tù và nơi thù hận, không như nhà thờ.

Có những cách chọn lựa đều tốt như nhau. Ví dụ, tình dục trong hôn nhân. Khi bạn sống trong Luật Chúa – không ngoại tình, không độc ác, không ích kỷ, không hành động bất thường (kế hoạch, dùng biện pháp ngừa thai) – thì mọi thứ đều “suôn sẻ”. Bạn thử tưởng tượng đi. Có phải Chúa muốn bạn ân ái với người bạn đời không? Đúng là một câu hỏi ngớ ngẩn! Thế nhưng ân ái với người bạn đời là điều tuyệt vời, là Ý Chúa đấy. Ngài muốn bạn làm những gì bạn muốn để người bạn đời biết đó là bạn chứ không phải ai khác.

Gợi ý thứ bảy là chính kinh nghiệm của tôi. Lần đầu tiên tôi viết tiểu thuyết, tôi biết cách viết. Đầu tiên, tôi trao phó cho Chúa, tôi nói với Ngài rằng tôi muốn viết về Nước Trời, và tôi tin Ngài hướng dẫn tôi. Sau đó, tôi theo sự hứng thú của tôi, cả bản năng và tiềm thức. Tôi cứ để mạch truyện chảy đi và các nhân vật cứ là chính họ. Thiên Chúa không khởi đầu hoặc kết thúc cho tôi. Ngài không làm gì cho tôi. Nhưng Ngài vẫn ở đó, giống như người cha hoặc người mẹ tốt.

Tôi nghĩ rằng cuộc đời chúng ta như một cuốn truyện. Chúng ta viết truyện về chính cuộc đời mình và chính mình (vì chúng ta tự định hình bằng cách chọn lựa, giống như bức tượng là chủ của điêu khắc gia vậy). Dĩ nhiên, Thiên Chúa là tác giả thứ nhất, là điêu khắc gia thứ nhất. Nhưng Ngài dùng những con người khác nhau để có những tác phẩm khác nhau. Ngài là tác giả từng cuốn trong bộ Kinh Thánh, nhưng tính cách của mỗi tác giả phàm nhân diễn tả theo văn chương phàm tục.

Thiên Chúa là người kể chuyện hoàn vũ. Ngài muốn các câu chuyện khác nhau. Ngài muốn bạn biết ơn Ngài về câu chuyện duy nhất từ ý muốn tự do và sự quyết định của bạn. Vì ý muốn tự do của bạn và kế hoạch đời đời của Ngài không là hai điều cạnh tranh, mà là hai phương diện của một vấn đề. Chúng ta không thể hiểu hết mầu nhiệm này trong cuộc đời mình, vì chúng ta chỉ thấy mặt dưới của tấm thảm. Nhưng tôi nghĩ rằng, một trong những điều ở trên trời là chúng ta sẽ chúc tụng và cảm tạ Chúa vì Ngài đã không để chúng ta nắm vô-lăng cuộc đời của mình – giống như cha mẹ dạy con cái lái xe vậy. Nếu không thì…! Thì sao? Bạn thấy Ý Chúa tuyệt vời không nào?

Khi cho chúng ta tự do, Thiên Chúa nói: “Mong ý con được trọn vẹn”. Một số người trong chúng ta quay lại và nói với Ngài: “Con muốn ý con sẽ được trọn vẹn”. Đó là vâng lời lệnh truyền thứ nhất và là lệnh truyền quan trọng. Rồi khi chúng ta làm vậy, Ngài nói với chúng ta: “Bây giờ, ý con được trọn vẹn”. Rồi Ngài viết câu chuyện về cuộc đời chúng ta bằng những nét tự do của chúng ta.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ IntegratedCatholicLife.org)

 

Sống tích cực
ANNE MATTOS-LEEDOM

Ngày nay, chúng ta cảm thấy cuộc sống có gì đó bấp bênh. Có những nỗi lo sợ vô cớ, vì thế chúng ta cần biết cách xử lý để có thể duy trì sự tích cực trong đời sống hằng ngày.

Các cảm xúc dâng cao khi cuộc sống gặp khủng hoảng và khi thế giới có vẻ bất ổn. Cần phải phát triển một kỹ năng xử lý mới. Mọi thử thách mà bạn phải đối đầu đều là cơ hội tiềm ẩn để tạo cách sống mới đầy những điều có thể và có giá trị mà trước đó không có.

Đây là 10 chiến lược giúp bạn thấy tiềm năng niềm vui, sự an toàn và hiện thực ước mơ dù gặp khó khăn gì.

1. Tái lập quyền ưu tiên

Đa số chúng ta được dạy phải có kế hoạch cho tương lai, lâu dài và an toàn,... Ngày nay, thái độ mới là điều quan trọng. Tập trung vào việc ưu tiên cho gia đình, sức khỏe và quản lý tài chính là điều cần thiết. Hoạch định một tương lai tích cực giúp chúng ta tạo những điều mới để hướng tới, “sống một ngày mới” là cách tốt nhất để quên quá khứ buồn để có thể có cuộc sống tốt hơn. Không lúc nào quan trọng bằng lúc này.
2. Giao tiếp với người tích cực
Hằng ngày luôn có những người ở bên chúng ta, rất đa dạng, hãy chú ý những người lạc quan và phấn khởi. Hãy tìm những cách mới có thể tác động trong cộng đồng và hãy nối kết với những người có “nét lạ” mà bạn chưa thấy. Có thể bạn có ít bạn bè, nhưng cần có người khả dĩ “nâng cấp” và gợi hứng cho bạn hằng ngày.
3. Mở rộng viễn cảnh
Hãy cố gắng tìm ra cách sống lý tưởng. Có hàng ngàn tấm gương trên thế giới, họ đã đau khổ nhiều nhưng vẫn sống tuyệt vời. Họ dạy chúng ta những bài học sống giá trị. Nếu bạn không thể tìm ra tấm gương sống trong những người bạn gặp, hãy tìm trong sách báo, tài liệu, internet,...
4. Làm việc ưa thích
Ai cũng có sở thích riêng, nó có thể giúp bạn bớt nhàm chán trong cuộc sống. Với tôi, nhạc và thơ văn có thể “cứu” tôi. Nghe nhạc, dù là nhạc buồn, vẫn có thể bạn cảm thấy thanh thản hơn, khi cõi lòng lắng đọng là lúc bạn thấy mình cần sống tốt hơn, khiêm nhường và nhiệt thành hơn. Hãy chọn thứ gì không đòi hỏi bạn phải nỗ lực nhiều, đơn giản là làm sao bạn cảm thấy vui. Điều đó sẽ làm bạn hưng phấn, nhờ đó có thể vượt qua những gian khó của cuộc sống.
5. Sẵn sàng vì người khác
Dù có chuyện gì không hay xảy ra trong cuộc đời bạn, hãy cứ dành thời gian và cách thức bạn có thể làm cho người khác. Những người nghèo khổ có thể được an ủi nhiều từ động thái của bạn. Điều đó cũng làm cho bạn cảm thấy mình hữu ích và thuộc về cộng đồng nhân loại. Tự tách mình ra khỏi cộng đồng là làm tê liệt cuộc đời mình. Hãy nối kết và trao tặng theo khả năng của mình. Phục vụ người khác khiến bạn giảm bớt căng thang, thêm hy vọng, và thêm sức sống.
6. Tự giữ kỷ luật
Khi gặp khó khăn hoặc bất trắc, chúng ta rất dễ chán nản, thất vọng, thậm chí là bất cần đời. Bạn là người thích đọc sách báo, nghiên cứu, sáng tác, gặp gỡ bạn bè,... nhưng giờ đây cũng vô nghĩa. Hãy cố gắng bình tĩnh, đừng để bất cứ thứ gì làm đảo lộn cuộc sống của bạn. Hãy khó với chính mình, nhưng đừng khó với người khác. Hãy tự tổ chức cuộc sống và giữ đúng nguyên tắc sống. Sau cơn mưa, trời lại sáng. Hãy tái lập trật tự cuộc sống để hướng phía trước, dù không ai biết tương lai ra sao. Cứ để cho ngày mai lo cho ngày mai.
7. Vận động
Thụ động là… tự sát. Thể dục luôn tốt cho sức khỏe, thân thể khỏe mạnh thì tinh thần mới hăng hái và trí óc mới minh mẫn. Nghiên cứu cho thấy rõ ràng rằng vận động thể lý giúp sản sinh các hóa chất tốt để đề kháng trầm cảm và bệnh tật. Tập thể dục nhẹ hoặc đi bộ cũng có thể kích thích và giúp bạn hưng phấn.
8. Tự giải thoát
Thấy điều gì không xuôi xắn theo kế hoạch thì “gỡ” mình ra, đừng đeo bám mãi. Hãy tìm cơ hội khác, cuối đường hầm vẫn có ánh sáng. Đa số các thử thách của cuộc đời đều có tiềm năng mới kỳ diệu mà chúng ta không thể thấy trước. Nếu bạn có khả năng tự giải thoát khỏi quá khứ để tìm dịp khác, bạn có thể có cơ hội còn tốt hơn trước.
9. Cứ là chính mình
Hãy kết bạn với những người có thể động viên bạn. Người thân và bạn bè luôn sẵn sàng giúp đỡ nếu bạn gặp khó khăn và bạn cần họ, và họ có thể nâng đỡ bạn bằng nhiều cách. Nhưng hãy cứ là chính mình chứ đừng “đánh mất” mình vì ảnh hưởng của người khác.
10. Thích nghi với thực tế
Có nhiều thứ khiến bạn phải chịu đựng và bị căng thẳng – công việc, tài chính, gia đình, các mối quan hệ, con người, nơi chốn,... Đôi khi chính sự mất mát nào đó lại là dịp tốt để bạn thay đổi cách sống. Hãy nhìn đời bằng “lăng kính lạc quan”. Chúng ta không thể làm chủ cuộc sống nhưng chúng ta có thể kiểm soát cuộc sống bằng việc trải nghiệm. Hãy tập trung vào cách bạn cảm giác và những người mà bạn đánh giá tốt, kể cả những gì xảy ra đối với bạn. Rồi bạn sẽ cảm thấy niềm vui sống hằng ngày.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Positivity of Life)
Đức Tin và Thể Thao
Đúng 2 giờ sáng (giờ Việt Nam) ngày 14-7-2014, những người hâm mộ túc cầu sẽ được chứng kiến trận tranh tài quyết liệt giữa hai đội túc cầu xứng đáng nhất, và có thể biết được đội nào là đội vô địch giải World Cup 2014, diễn ra tại sân vận động Rio de Janeiro (Brazil).
World Cup (Cúp Thế Giới) là sự kiện thể thao lớn của hành tinh chúng ta. Thể thao và Đức Tin có liên quan gì với nhau?
Đức Tin và Thể thao xem chừng “ngược chiều” nhau, vì một bên là tâm linh và một bên là thể lý. Thế nhưng lại không hề có gì đối lập với nhau. Thật kỳ lạ!
Thể dục là dạng vận động nhẹ. Thể thao là dạng vận động mạnh. Thể dục và thể thao có hai dạng: Thể lý và tinh thần. Với các Kitô hữu, thể thao còn có một dạng khác “cao cấp” hơn, đó là thể thao tâm linh. Dạng nào cũng cần khổ luyện mới có thể đạt được mức cao nhất.
Thể thao là hoạt động thể chất hoặc kỹ năng dành cho mục đích giải trí, thi đấu, mong đạt đến “đỉnh cao”, chủ yếu rèn luyện bản thân, tăng cường sức khỏe. Trong đời sống xã hội hiện đại, thể thao là yếu tố quan trọng không chỉ để giữ gìn sức khỏe mà còn là phục vụ các mục đích hữu ích khác.
Để tăng cường sức khỏe, có một số môn thể thao được nhiều người cho là giúp chống lại các loại bệnh tật, tạo sức chịu đựng dẻo dai. Ví dụ, chạy bộ theo mức độ tăng dần có thể giảm khả năng mắc các bệnh về tim mạch lúc về già. Đối với trẻ em trong độ tuổi đang lớn, thể thao giúp phát triển thể chất và làm tăng chiều cao.
Ngoài phạm vi sức khỏe, các môn thể thao đồng đội cũng rèn luyện cho tinh thần đoàn kết, kỹ năng hợp tác. Trong bất kỳ môn thể thao đồng đội nào, yếu tố đoàn kết là quan trọng nhất để giành chiến thắng. Ví dụ, trong môn túc cầu (bóng đá), các cầu thủ phải hiểu ý nhau trong lúc chuyền bóng để ghi bàn. Nhược điểm (điểm yếu) của các đội túc cầu dễ bị đối phương lợi dụng là sự thiếu đoàn kết, lo “miếng” riêng cho cá nhân. Trong môn đua xe đạp cũng vậy. Vì thế, một trong các cách rèn luyện tinh thần đồng đội là chơi các môn thể thao đồng đội.
Thế Vận Hội (Olympic, Đại hội Thể thao Thế giới) là cuộc tranh tài trong nhiều môn thể thao giữa các quốc gia trên toàn thế giới. Thế Vận Hội gồm Thế Vận Hội Mùa Hè và Thế Vận Hội Mùa Đông được tổ chức xen kẽ nhau hai năm một lần (vào các năm chẵn). Đây là một đại hội thể thao không chỉ là đua sức về thể lực mà còn mang ý nghĩa biểu trưng cho tinh thần đoàn kết và hòa bình của nhân loại.
Thế Vận Hội bắt nguồn từ các cuộc thi đấu thể thao thời Hy Lạp cổ đại có từ năm 776 trước công nguyên cho đến khi Hoàng đế La Mã là Theodosius I cấm (năm 394 trước công nguyên). Thế Vận Hội hiện đại được Nam tước Pière Frèdy de Coubertin tổ chức lần đầu tiên vào cuối thế kỷ XIX. Ủy Ban Olympic Quốc Tế (IOC – International Olympic Commitee) đã trở thành cơ quan chủ quản của Phong trào Olympic, với Hiến chương Olympic xác định cấu trúc và cơ quan có thẩm quyền.
Thế Vận Hội Mùa Hè được diễn ra (bốn năm một lần) từ năm 1896, trừ những năm xảy ra thế chiến (như thế chiến II). Thế Vận Hội Mùa Đông được thành lập vào năm 1924. Mới đầu nó được tổ chức cùng năm với Thế Vận Hội Mùa Hè, nhưng từ năm 1994, Thế Vận Hội Mùa Đông và Thế Vận Hội Mùa Hè diễn ra xen kẽ nhau hai năm một lần.
Chúng ta còn có Á Vận Hội (Asiad hoặc Asian Games, Đại hội Thể thao Á châu), tổ chức bốn năm một lần, với sự tham dự của các đoàn vận động viên thuộc Á châu. Giải thể thao này do Hội Đồng Olympic Á châu (OCA – Olympic Council of Asia) tổ chức, dưới sự giám sát của Ủy ban Olympic Quốc tế, và được coi là sự kiện thể thao lớn thứ hai trên thế giới, chỉ đứng sau Thế Vận Hội.
Có nhiều môn thể thao (bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, bơi lội, ném dĩa, cử tạ, marathon,...), nhưng có lẽ hấp dẫn nhất vẫn là môn túc cầu, hấp dẫn cả người chơi lẫn người xem – dù là xem qua màn ảnh nhỏ. Có lẽ vì thế mà môn túc cầu được mệnh danh là môn thể thao vua. Ở đây, chúng ta cũng chỉ đề cập môn túc cầu. Thật vậy, túc cầu có nhiều người yêu thích tới mức cuồng nhiệt như các tín đồ tôn giáo, và người ta vui đùa gọi họ là “tín đồ của túc cầu giáo”.
Trong các giải túc cầu, nổi bật nhất là giải World Cup. Brazil là quốc gia tổ chức World Cup lần thứ 20 của FIFA vào mùa hè năm 2014, diễn ra từ 12-6 tới 13-7-2014, với các đội bóng của 32 quốc gia tham dự, trong đó có 13 quốc gia thuộc Âu châu. Tất cả có 64 trận đấu. Brazil cũng là nước đăng cai World Cup năm 2007 sau khi FIFA quyết định tổ chức tại Nam Mỹ lần đầu tiên từ năm 1978 tại Argentina.
Có 12 thành phố được chọn để tổ chức các trận đấu lần này: Belo Horizonte, Brasilia, Cuiaba, Curitiba, Fortaleza, Manuas, Natal, Porto Alegre, Recife, Salvador, Sao Paulo và Rio de Janeiro, nơi trận chung kết sẽ thi đấu tại sân vận động Estádio Mário Filho, thường được gọi là Maracanã. Sân vận động này đã diễn ra trận chung kết World Cup năm 1950. Cả 4 trận chung kết World Cup trước đều diễn ra tại Nam Mỹ – Uruguay năm 1930, Brazil năm 1950, Chile năm 1962, và Argentina năm 1978. Các đội vô địch cũng thuộc châu lục đó.
Nói đến quốc gia Brazil, chắc hẳn chúng ta còn nhớ vua bóng đá Pelé (Edson Arantes do Nascimento, sinh 23-10-1940), một trong những cầu thủ bóng đá nổi tiếng nhất trong lịch sử của bộ môn này, đặc biệt là cú sút lọt lưới “độc nhất vô nhị” từ giữa sân (60m). Được phát hiện từ khi còn rất trẻ, Pelé bắt đầu chơi cho Câu lạc bộ Santos Futebol khi mới 15 tuổi, vào đội tuyển quốc gia khi 16 tuổi và lần đầu đoạt World Cup khi mới ở tuổi 17. Dù có nhiều lời mời từ các câu lạc bộ của Âu châu, Pelé vẫn rất trung thành với câu lạc bộ của mình và đã chơi cho câu lạc bộ này trong suốt hai thập kỷ cho đến năm 1975, khi ông từ giã sân cỏ.
Ông là cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất cho Đội tuyển Túc cầu Quốc gia Brasil và ông cũng là người duy nhất trong lịch sử môn thể thao vua giành được 3 World Cup dưới cương vị một cầu thủ. Ông cũng là cầu thủ duy nhất ghi được gần 1300 bàn thắng trong suốt sự nghiệp cầu thủ. Cụ thể là 1281 bàn thắng trong 22 năm thi đấu.
Chiếc áo số 10 nổi tiếng của Pelé đã trở thành chiếc áo truyền thống của các tiền vệ (trung phong) và tiền đạo có lối chơi tấn công kỹ thuật và sáng tạo. Từ đó, đã có không ít cầu thủ ngôi sao của xứ sở Samba khoác lên mình chiếc áo số 10 kỳ diệu.
Thể thao có vài dạng: Thể thao thể lý, thể thao trí tuệ, thể thao tâm linh. Thể thao nào cũng cần có niềm tin mãnh liệt. Có tự tin thì mới khả dĩ chiến thắng. Thể thao (nói chung), túc cầu (nói riêng), quan trọng là có TINH THẦN TẬP THỂ, TINH THẦN THƯỢNG VÕ và TINH THẦN ĐOÀN KẾT. Trong môn túc cầu, mỗi đội có 11 cầu thủ luôn phải chung một nhịp, phải đồng tâm nhất trí, dù mỗi người có bổn phận khác nhau – người tấn công, người phòng thủ, người giữ khung thành. Đó là thể hiện niềm tin lẫn nhau, và cũng cần niềm tin tâm linh nữa.
Nếu để ý, chúng ta có thể nhận thấy rằng, khi ra sân cỏ để thi đấu, một số cầu thủ đã thể hiện Đức Tin Công giáo của mình. Cầu thủ Park Ji Sung (Hàn quốc) đã làm dấu Thánh Giá, còn cầu thủ Wayne Rooney (Anh quốc) đeo chuỗi Mân Côi. Rất tiếc là chẳng thấy cầu thủ người Việt nào có động thái thể hiện Đức Tin như vậy!
Ngay trong thời gian thi đấu, một số cầu thủ vẫn thể hiện niềm tin Kitô, biết tín thác vào Thiên Chúa, thật tuyệt vời biết bao! Đó là những tấm gương sáng để chúng ta noi theo, dù ở nơi đâu và lúc nào thì chúng ta vẫn luôn cần Thiên Chúa, vì Chúa Giêsu đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5).
Có lẽ Kinh Thánh chỉ nhắc tới từ “thể thao” một lần: “Trong cuộc đại hội thể dục thể thao, tổ chức bốn năm một lần ở Tia, có nhà vua hiện diện, ông Gia-xon, một người đê tiện đã cử một phái đoàn khán giả với tư cách là những người phò vua An-ti-ô-khô từ Giê-ru-sa-lem đến mang theo ba trăm quan tiền để dâng lễ kính thần Hê-rắc-lê. Nhưng các người mang tiền xin đừng dùng số bạc ấy để tế lễ, vì việc đó không thích hợp, mà lại xin dùng vào một khoản khác. Vậy số bạc ấy lẽ ra phải được dùng vào vào việc dâng lễ kính thần Hê-rắc-lê, theo ý người gửi, nhưng do lời yêu cầu của những người mang tiền, người ta lại đem dùng vào việc đóng tàu chiến” (Mcb 4:18-20).
Kinh Thánh cho biết Đại hội Thể dục Thể thao được tổ chức bốn năm một lần, phải chăng các giải thể thao ngày nay cũng tổ chức theo cái “khoảng thời gian” đó? Thiết tưởng là rất có thể lắm!
Thánh Phaolô không nói về thể thao trần gian nhưng nói về thể thao tâm linh, dù không nói rõ là thể thao: “Ngày đời tôi trôi nhanh hơn kẻ chạy đua, nó qua mau, mà không thấy hạnh phúc” (G 9:25). “Chạy đua” là một dạng thể thao. Thánh Phaolô còn nói về thể thao theo dạng khác: “Trong cuộc chạy đua trên thao trường, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người đoạt giải. Anh em hãy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng. Phàm là tay đua thì phải kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt phần thưởng chóng hư; trái lại chúng ta nhằm phần thưởng không bao giờ hư nát. Vậy tôi đây cũng chạy như thế, chứ không chạy mà không xác tín; tôi đấm như thế, chứ không phải đấm vào không khí. Tôi bắt thân thể phải chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại” (1 Cr 9:24-27).
Phàm việc gì cũng cần khổ luyện, đặc biệt là thể thao. Chúng ta thấy các vận động viên có sức dẻo dai, nhưng chúng ta có biết đâu rằng họ phải ngày đêm khổ luyện mới có sức khỏe như vậy. Và Đức Tin cũng vậy, không thể một sớm một chiều mà có được Đức Tin vững mạnh và sâu sắc, mà Đức Tin đó phải được tôi luyện hằng ngày qua nhiều thử thách gay go lắm. Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Và Đức Tin cũng vậy, nếu không thì Đức Tin đó sẽ èo uột, dễ bị đuối sức, dễ bị hoang mang, dễ bị rạn nứt,... thậm chí là có thể bị mất Đức Tin!
Chúa Giêsu cũng không hề nói về thể dục hoặc thể thao, nhưng Ngài có cách nói rất đặc biệt, vừa như lời khuyên vừa như mệnh lệnh: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48). Ngài bảo chúng ta phải “hoàn thiện như Cha” là Ngài bảo chúng ta không ngừng “chạy đua”, là kiên tâm “thi đấu”, để cuối cùng ai cũng phải đạt được chiến thắng là “Giải Trường Sinh”, là “Chiếc Cúp Nước Trời”.
Chúng ta đang thuộc Giáo hội chiến đấu trên cuộc lữ hành trần gian về Thiên Quốc, cuộc chạy marathon này dài hay ngắn tùy mỗi người phải chạy trong bao nhiêu năm theo Thánh Ý Chúa. Có người chỉ chạy 1 ngày, có người chạy vài tháng, có người chạy vài năm, có người chạy vài chục năm, có người chạy cả trăm năm. Nhưng mục đích cuối cùng vẫn chỉ là Siêu Cúp Cứu Độ mà chính Đức Giêsu Kitô trao cho mỗi người.
Ước mong rằng, khi vui mừng giải trí và tận hưởng không khí sôi nổi của World Cup 2014, mỗi chúng ta cũng được nhắc nhớ về cuộc đua tâm linh trên Hành Trình Đức Tin Công giáo. Hãy ngước nhìn lên Biểu Tượng Đức Tin, Biểu Tượng Chiến Thắng và Biểu Tượng Hằng Sinh của chúng ta là Thập Giá Đức Giêsu Kitô, đồng thời có thể xác định như Thánh Phaolô: “Vinh quang của tôi là Thập Giá Đức Kitô – MEA GLORIA EST CRUX CHRISTI (Gl 6:14).
Đây là “nước tăng lực” mà Thánh Phaolô cho chúng ta uống: “Một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời. Vì thế, chúng ta mới không chú tâm đến những sự vật hữu hình, nhưng đến những thực tại vô hình. Quả vậy, những sự vật hữu hình chỉ tạm thời, còn những thực tại vô hình mới tồn tại vĩnh viễn” (2 Cr 4:17-18).
Sân cỏ cũng tương tự sân đời, cam go lắm! Trong một chương trình của Đài Chân Lý Á Châu (Philippines) có phát sóng bài thơ “Bóng đá và Cuộc đời”, trong đó có bốn câu cuối như sau:
Con chạy hàng tiền đạo
Chiến đấu với trần gian
Xin Chúa làm hậu vệ
Che chắn khung-thành-con (*)
Vâng, chúng ta rất cần có Chúa, không chỉ vì chúng ta không biết theo ai nếu chúng ta bỏ Ngài (x. Ga 6:68), mà còn vì chúng ta chẳng làm được gì nếu không có Ngài (x. Ga 15:5).
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết không ngừng trau dồi “sức khỏe Đức Tin” để thi đấu kiên trì và không biết mệt mỏi. Xin Ngài thương giúp chúng con nên thánh hằng ngày để xứng đáng lãnh nhận Phần Thưởng Hằng Sinh. Xin Đức Thánh Maria, Đức Thánh Giuse, chư thánh và các linh hồn cầu thay nguyện giúp. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
(*) Nghe ca khúc “Bóng Đá và Cuộc Đời” của Ns Sơn Vinh tại http://www.baicamoi.com/?p=56856.


S.O.S.
(Mt 8:23-27Mc 4:35-41; Lc 8:22-25)
Thầy ơi, thức dậy mau đi
Biển đời sóng vỗ tư bề, Thầy ơi!
Lênh đênh ở giữa biển khơi
Thuyền nan như chiếc lá rơi bềnh bồng
Đức Tin con kém vô cùng
Không Thầy, chắc chắn đi đoong con liền
Có Thầy, dẫu sóng miên man
Nhưng thuyền vẫn lướt bình an dòng đời
Xin Thầy tha thứ, Thầy ơi!
Vì con yếu đuối nên hoài nghi luôn
Xin Thầy ngăn bớt sóng cồn
Để cho con bớt hoảng hồn, Thầy ơi!
TRẦM THIÊN THU

 

 

July 9, 2020