dongcong.net
 
 


Suy tư Chúa Thánh Thần: T.T. Thu


Chúa Thánh Thn trong đời sng Giáo hi

Tam vị nhất thể:  Thiên Chúa Ba Ngôi
Mỗi lần chúng ta bắt đầu cử hành thánh lễ là tưởng niệm Cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu giống như cử hành Bữa Tiệc Ly vào đêm trước khi Ngài chết cho tội lỗi của chúng ta, với lời của thánh Phaolô: “Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2 Cr 13:13). Mầu nhiệm trung tâm của Công giáo là Thiên Chúa Tam Vị Nhất Thể, Ba Ngôi trong Một Thiên Chúa (đồng bản thể). Công đồng đại kết II tại Constantinople năm 381 (TCN) tuyên xưng đức tin của các thánh Tông đồ khi chúng ta đọc: “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống, Người bởi Đức Chúa Cha”. Thánh Tiến sĩ Giáo hội vĩ đại Athanasiô diễn tả điều này trong tín điều: “Đây là tín điều Công giáo: Chúng ta tôn thờ Một Tình cảm Ba Ngôi và Ba Ngôi hiệp nhất, không thể lầm lẫn ba người hoặc phân chia bản thể; vì Ngôi Cha là một, Ngôi Con là một, Ngôi Ba là một; nhưng Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là một, vinh quang ngang bằng vĩnh hằng uy nghi”.


Kế hoạch của Thiên Chúa là công việc của Ba Ngôi trong Chúa Thánh Thần

Giáo lý Công giáo dạy chúng ta rằng: “Toàn bộ cơ cấu tổ chức của Thiên Chúa [kế hoạch của Thiên Chúa đối với loái người] là công việc chung của cả Ba Ngôi. Vì Ba Ngôi chỉ là Một và bản chất giống nhau cũng chỉ là Một và hoạt động giống nhau”. Chúa Thánh Thần hiện diện qua lịch sử cứu độ từ khởi nguyên cho tới tận cùng. Như vậy, Chúa Thánh Thần được coi là ở giữa Môsê và Ítraen khi họ vượt qua Biển Đỏ và khi sứ thần Gabriel đến với Đức Mẹ, ngài nói: “Chúa Thánh Thần sẽ ngự trên Chị và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ bao phủ Chị, vì thế Thánh Tử sẽ được gọi là Con Thiên Chúa”. Khi Mẹ Maria làm theo hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và đi thăm chị họ Êlizabét, thánh Luca nói với chúng ta: “Khi Êlizabét nghe lời chào của Maria, Hài nhi liền nhảy mừng trong lòng. Êlizabé được đầy Chúa Thánh Thần và kêu lớn tiếng: Em có phúc hơn mọi phụ nữ và Con lòng Em đầy phúc lạ”. Thánh Phêrô tuyên xưng ở Mt 16:16, khi Chúa Giêsu hỏi ông nói Ngài là ai, ông thưa: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hàng sống”, và Chúa Giêsu nói đó là những lời đến từ Chúa Cha, chắc chắn nhờ Chúa Thánh Thần. Giáo lý cũng ghi chú: “Mọi người tôn vinh Chúa Cha thì cũng tôn vinh Chúa Con qua Chúa Thánh Thần; những người theo Chúa Kitô cũng vậy vì nhờ Chúa Cha thu hút và Chúa Thánh Thần thúc đẩy” (x. Ga 6: 44; Rm 8: 14). Thánh Gioan viết: “Thiên Chúa là tình yêu, Ngài ở trong tình yêu và ở trong Thiên Chúa”. Thiên Chúa có thể trở nên giống như sự trao đổi tình yêu vĩnh hằng – Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, Đấng đã tiền định Nhiệm thể Chúa Kitô chia sẻ sự trao đổi đó.

Những ngày cuối cùng của Chúa Giêsu đem lại lời hứa của Chúa Thánh Thần.

Trong bài giảng cuối cùng của Ngài với các môn đệ, chương 14 trong phúc âm theo thánh Gioan, Chúa Giêsu nói: “Những gì anh em xin, hãy nhân danh Thầy mà xin. Nếu anh em yêu mến Thầy và tuân giữ giới răn Thầy truyền ban, Thầy sẽ xin Chúa Cha và Ngài sẽ ban co anh em Đấng Phù Trở (Paraclete) khác đến ở với anh em luôn mãi, Ngài là Thần Chân Lý, Đấng mà thế gian không chấp nhận, vì thế gian không nhận biết Ngài; nhưng anh em có thể nhận biết Ngài vì Ngài ở trong anh em”. Ngài tiếp tục nói rằng “Đấng Phù Trợ là Chúa Thánh Thần, Đấng mà Chúa Cha gởi đến nhân danh Thầy, sẽ dạy bảo anh em mọi điều”. Những điều Chúa Giêsu dạy bảo sẽ không hư mất. Điều đó sẽ được duy trì trong Tông truyền thánh thiện bằng ngôn từ và đa số được viết trong Tân ước, một phần có trong Cựu ước và các sách thánh. Những điều đó hình thành đức tin, nhờ Chúa Thánh Thần trợ giúp, được duy trì trong Giáo hội Công giáo từ thời Chúa Giêsu.

Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh Hóa
Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh Hóa, Ngài được Chúa Cha và Chúa Con sai đến để hoàn tất công việc của Chúa Con. Ngài là Đấng Thánh. Chân phước Gioan Phaolô II đã viết: “Hoàn tất công việc mà Chúa Cha đã giao phó cho Chúa Con trên thế gian” (Ga 17:4), vào ngày Lễ Hiện Xuống, “Chúa Thánh Thần được sai đến để thánh hóa Giáo hội mãi mãi, để các tín hữu có thể đến với Chúa Cha qua Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần” (Ep 2:18). Giáo hội luôn dạy rằng chúng ta nhận lãnh Chúa Thánh Thần qua bí tích Thánh Tẩy (thông chia sự sống của Thiên Chúa; dấu bề ngoài phát sinh ân sủng bên trong chúng ta). Nước trong bí tích Thánh Tẩy biểu hiện việc tẩy sách tội tổ tông (mọi người đều mắc tội này từ Adam và Eve, cha mẹ đầu tiên của chúng ta).

Trong thư gởi giáo đoàn Êphêsô, thánh Phaolô nói với chúng ta rằng chúng ta được đóng ấn Chúa Thánh Thần qua bí tích Thánh Tẩy. Thực tế này được biểu hiện qua dầu thánh xức trên trán bằng cách vẽ Thánh Giá khi được rửa tội. Bí tích này tẩy xóa sạch dấu-vết-không-thể-tẩy-xóa (indelible character). Sự sống của Thiên Chúa đến với chúng ta và làm cho chúng ta trở nên “Con Thiên Chúa”“người thừa kế của Đức Kitô”. Thánh Phêrô so sánh với nước đã cứu ông Nôe khỏi chết, tuyên xưng trong tâm khảm: “Hiện nay phép rửa cứu thoát anh em” (1 Pr 3:21). Chúa Thánh Thần thông ban đức tin, đức cậy và đức ái, làm cho chúng ta có thể phát triển trong mối quan hệ với Thiên Chúa và với tha nhân.

Bí tích Hòa giải và Thánh Thể
Chúa Thánh Thần hoạt động trong bí tích Hòa Giải và Thánh Thể. Khi hiện ra với các Tông đồ vào chiều tối ngày lễ Phục sinh, Chúa Giêsu đã thở hơi vào họ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20:22-23). Giáo lý Công giáo nói: “Giáo hội là Nhiệm Thể Chúa Kitô. Nhờ Thánh Thần và tác động của Ngài nơi các bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể, Chúa Kitô đã chết và phục sinh, thiết lập cộng đoàn các tín hữu là Nhiệm thể của Ngài.

Trong mỗi thánh lễ, linh mục cầu nguyện, xin Chúa Cha gởi Chúa Thánh Thần đến thánh hóa Bánh Rượu để trở thánh Mình, Máu, Linh hồn và Thiên tính của Chúa Kitô. Thánh Gioan Damascene (thế kỷ VIII) viết: “Anh chị em xin cho Bánh và Rượu trở thành Mình và Máu Đức Kitô khi tôi nói: Chúa Thánh Thần đến trên họ và hoàn tất những gì qua mỗi lời nói và ý nghĩ… Hãy để điều đó cho anh chị em hiểu rằng đó là nhờ Chúa Thánh Thần, cũng như đó là qua Đức Mẹ và nhờ Chúa Thánh Thần mà Thiên Chúa, qua chính Ngài, đã hóa thành nhục thể”.

Bí tích Thêm sức
Thời Cải cách Tin lành (Protestant Reformation), Luther và các nhà cải cách khác đã từ chối bí tích Thêm Sức (Confirmation). Thời giáo hội sơ khai, Bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức được trao ban cùng lúc cho những người nhập đạo. Điều này làm lu mờ sự phân biệt trong tâm trí các nhà cải cách về hai bí tích này. Nhưng Kinh thánh rõ ràng. Chúa Kitô hứa ban Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi, (x. Ga 14:15-21), Ngài làm cho các tông đồ có thể làm chứng cho sự thật (Ga 15:6) và hoàn thành sau 9 ngày cầu nguyện vào lễ Ngũ Tuần (Pentecost). Sau khi thánh Phêrô và các tông đồ lãnh nhận Chúa Thánh Thần vào ngày lễ Hiện Xuống, một số người thắc mắc: “Chúng ta sẽ làm gì?” Thánh Phêrô nói: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần” (Cv 2:37-38).

Chúng ta thấy bí tích này trong Cv 8: 14-17, thánh Phêrô và thánh Gioan đặt tay trên người Samari được rửa tội trước. Bí tích này cho chúng ta những tặng phẩm của Chúa Thánh Thần, đó là thần khí khôn ngoan minh mẫn, thần khí mưu lược dũng mãnh, thần khí hiểu biết kính sợ Đức Chúa (x. Is 11:2-3). Trong bí tích Thêm Sức, chúng ta là các binh sĩ của Chúa Kitô, được đóng ấn Chúa Thánh Thần để làm chứng cho Tin Mừng của Đức Kitô bằng một cách trưởng thành. Với biểu tượng của sức mạnh mới này trong Chúa Thánh Thần, các giám mục thời Trung cổ (Middle Ages) thường trao cho ứng viên một cái vả nhẹ (light slap) lên má, đó là biểu tượng rằng chúng ta phải sẵn sàng từ bỏ cuộc sống riêng vì đức tin, như nhiều người đã thực hiện trong quá khứ. Thánh Phaolô viết: “Thiên Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Thiên Chúa, thì ở đó có tự do. Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một tấm gương. Như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Thiên Chúa là Thần Khí” (2 Cr 3:17-18). Chúng ta được tiền định để phản ánh vinh quang Thiên Chúa trong đời sống chúng ta bằng cách cố gắng phát triển sự thánh thiện cá nhân, điều mà chỉ khả dĩ đạt được nhờ Hồng ân Thiên Chúa. Như vậy, các bí tích đóng cho chúng ta các dấu ấn Tình yêu Thiên Chúa và phụng sự Ngài, đồng thời nhờ hợp tác với công việc của Ngài nơi chúng ta, cuộc đời chúng ta sinh hoa trái của Chúa Thánh Thần: yêu thương, vui vẻ, bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ (Gl 5:22-23).

Sức mạnh của Chúa Thánh Thần
Chúa Thánh Thần khả dĩ làm chúng ta trở nên sinh hoa kết trái của Nhiệm thể Chúa Kitô, tức là Giáo hội. Nhiệm thể Chúa Kitô mà thánh Phaolô đã viết trong Kinh thánh, gồm cả Tân Cựu ước, chư thánh trên trời cũng như các Kitô đã chịu Phép rửa. Thánh Phaolô chú thích rằng chúng ta là Giáo hội được bao trùm bởi các nhân chứng trên trời (Dt 11). Chúa Thánh Thần cư ngụ trong chúng ta thực sự biến đổi cuộc đời chúng ta, giáo hội và thế giới. Thánh Phaolô thúc giục: “Chúng ta sống nhờ Chúa Thánh Thần”. Chúng ta làm điều này khi chúng ta càng biết từ bỏ chính mình, chúng ta càng “bước đi nhờ Chúa Thánh Thần” (Gl 5:25). Sức mạnh này không chỉ giới hạn vào các bí tích. Có một kinh nghiệm được nói tới là “Phép rửa của Chúa Thánh Thần”.

Thánh Thomas Tiến sĩ (Thomas Aquinas, Lm Dòng Đa Minh) nói rằng Chúa Thánh Thần khả dĩ được trao ban hoặc được gởi đến để cư ngụ trong chúng ta và “làm cho chúng ta nên mới”. Điều này bắt đầu khi nhận lãnh bí tích Thánh Tẩy, nhưng Chúa Thánh Thần khả dĩ được trao ban hoặc được gởi đến sau đó như thánh Thomas đã viết: “Việc gởi Chúa Thánh Thần đến cũng làm tăng nhân đức hoặc tăng ân sủng… Việc gởi đến vô hình như vậy được nhận ra trong quá trình tăng ân sủng mà một người chuyển sang hành động mới hoặc tình trạng mới của ân sủng: chẳng hạn, khi một người chuyển vào ân sủng của các việc làm phép lạ, hoặc nói tiên tri hoặc tử đạo, hoặc từ bỏ hết sản nghiệp, hoặc đảm trách việc khó khăn”. Chúa Kitô hứa ban Đấng Phù Trợ được hoàn tất vào lễ Ngũ Tuần đối với các tông đồ và Đức Maria, những người đã hăng say làm “tuần cửu nhật” (cầu nguyện suốt 9 ngày). Phạm vi ngoại hạng này của Chúa Thánh Thần có vẻ được nói đến ở những nơi khác trong sách Tông đồ Công vụ (x. Cv 4:31; 19:1-7).

Chúa Thánh Thần khả dĩ “làm chúng ta nên mới” khi chúng ta “đầu hàng” Thiên Chúa và phụng sự Ngài toàn tâm toàn ý, đó là việc giúp chúng ta sống thánh thiện riêng (không vậy thì không ai có thể gặp Thiên Chúa) và công việc của giáo hội. Tuy nhiên, điều này không chiếm vị trí của bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, nhưng là cách mở rộng ra cho sự sống trong Chúa Thánh Thần. Điều này có thể cảm nghiệm nhờ cảm thấy sự viên mãn của tình yêu và sự hiện diện của Thiên Chúa, hoặc cảm thấy đầy tràn niềm vui và bình an. Trong Kinh thánh, thi thoảng chúng ta cảm thấy điều đó nhờ tặng phẩm ngôn ngữ. Giáo lý dạy: “Đời sống luân lý của các Kitô hữu được nâng đỡ nhờ các tặng phẩm của Chúa Thánh Thần” giúp chúng ta càng sẵn sàng để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Thánh Phaolô viết: “Phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Ki-tô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người” (Rm 8:14, 17).

Tặng phẩm tâm linh
Các tặng phẩm của Chúa Thánh Thần là các khí cụ mạnh mẽ trong công việc của Chúa Thánh Thần nơi giáo hội. Thánh Phaolô viết: “Không ai có thể nói rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa ngoài Chúa Thánh Thần. Có những tặng phẩm khác nhau nhưng đều do một Thánh Thần; có những chức vụ khác nhau nhưng đều do một Thiên Chúa; có những công việc khác nhau nhưng đều do một Thiên Chúa, Đấng hoàn tất mọi sự trong mọi người. Đối với mỗi người, việc biểu hiện Chúa Thánh Thần được trao ban vì lợi ích chung. Người này được ơn khôn ngoan trong cách nói, người kia được khả năng bày tỏ sự hiểu biết. Nhờ Chúa Thánh Thần mà người này được lãnh nhận đức tin; cũng nhờ Chúa Thánh Thần mà người kia được ơn chữa lành, và người khác có khả năng làm phép lạ. Ơn tiên tri được trao cho người này, ơn khác được trao cho người kia. Có người lại được ơn giảng thuyết. Tất cả chúng ta đều chung một Thánh Thần… Không phải ai cũng có tài ăn nói, “nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người” (x. 1 Cr 12:3-11). Điều mà thánh Phaolô nói đến là Tình Yêu.

Tình yêu là tặng phẩm vĩ đại nhất. Nhưng về tặng phẩm ngôn ngữ? Tôi có phải nói ngôn ngữ của Kitô giáo? Thánh Phaolô nói: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì” (1 Cr 13:1-2). Về miệng lưỡi, thánh Phaolô nói: “Người nói tiếng lạ thì không nói với người ta, nhưng là nói với Thiên Chúa, bởi vì chẳng ai hiểu được: nhờ Thần Khí, kẻ ấy nói ra những điều nhiệm mầu. Còn người nói tiên tri thì nói với người ta để xây dựng, để khích lệ và an ủi. Kẻ nói tiếng lạ thì tự xây dựng chính mình; người nói tiên tri thì xây dựng Hội Thánh” (1 Cr 14:2-4). Thánh Phaolô kết luận: “Tôi cảm tạ Thiên Chúa vì tôi nói các tiếng lạ nhiều hơn tất cả anh em. Vì thế, các tiếng lạ được dùng làm dấu hiệu, không phải cho những người tin, mà cho những kẻ không tin; còn lời ngôn sứ thì không phải là cho những kẻ không tin, mà cho những người tin” (1 Cr 14:18, 22).

Lương tâm là người bạn tốt nhất
Chúng ta nên nhớ huấn thị của thánh Phaolô: “Nếu có ai vướng mắc tội nào, thì anh em, những người được Thần Khí thúc đẩy, hãy lấy tinh thần hiền hoà mà sửa dạy người ấy; phải tự đề phòng kẻo chính mình cũng bị cám dỗ” (Gl 6:1). Chúng ta không chỉ gánh vác trách nhiệm của mình mà còn mang gánh nặng của người khác. Ngài nói thêm: “Hãy vui lòng phục vụ, như thể phục vụ Chúa, chứ không phải người ta. Anh em biết đấy: ai làm việc tốt, sẽ được Chúa trả công, bất luận nô lệ hay tự do. Người làm chủ cũng hãy đối xử như thế với nô lệ. Đừng doạ nạt nữa: anh em biết rằng Chúa của họ cũng là Chúa của anh em, Người ngự trên trời và không thiên vị ai” (Gl 6: 7-8).

Trong thư gởi giáo đoàn Galát, thánh Phalô khuyên: “Kẻ làm nô lệ, hãy vâng lời những người chủ ở đời này với thái độ run rẩy và sợ sệt, với lòng đơn sơ, như vâng lời Đức Kitô. Đừng chỉ vâng lời trước mặt, như muốn làm đẹp lòng người ta, nhưng như nô lệ của Đức Kitô, đem cả tâm hồn thi hành ý Thiên Chúa.” (Gl 6:5-6). Trong thư gởi giáo đoàn Êphêsô, ngài thúc giục chúng ta: “Theo Thần Khí hướng dẫn, anh em hãy dùng mọi lời kinh và mọi tiếng van nài mà cầu nguyện luôn mãi. Để được như vậy, anh em hãy chuyên cần tỉnh thức và cầu xin cho toàn thể dân thánh” (Ep 6:18).

TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ CatholicFaithAndReason.org)

Cách giao tiếp của Chúa Thánh Thần
Hiểu biết về Ngôi Ba Thiên Chúa là điều quan trọng đối với đời sống Kitô hữu. Vấn đề chủ yếu là giao tiếp. Đây là 10 cách Chúa Thánh Thần nói với chúng ta:
1. Bình an. Thánh Phaolô nói: “Ước gì ơn bình an của Đức Kitô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân” (Cl 3:15). Chúng ta thấy rằng sự bình an tác động như người trọng tài đối với sự quyết định của chúng ta. An tâm hoặc không an tâm về điều gì đó là cách Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta tới bước kế tiếp.
2. Củng cố. Chúa Thánh Thần ban ơn củng cố khi chúng ta sống theo Ý Chúa. Đó là cách Ngài động viên chúng ta trên bước đường lữ hành trần gian.
3. Hình ảnh. Một số người trong chúng ta chỉ là những người sống theo thị giác, và Chúa Thánh Thần biết điều này. Ngài sẽ dùng hình ảnh để chúng ta biết chú ý tâm linh về điều gì đó.
4. Lương tâm. Nếu bạn đã từng nghe được tiếng nói trong lòng, cảm nhận điều gì đó cảnh báo trong lòng hoặc cảm thấy nên dừng lại ngay, đó là cách Chúa Thánh Thần báo động chúng ta trước một tình huống có thể khiến chúng ta xa cách Thiên Chúa. Ngài cũng dùng cách này để phát triển chúng ta về ơn hiểu biết.
5. Sự kiện. Chúng ta thường nói: “Cái gì cũng có chỗ của nó”. Đó là chúng ta để cho Chúa Thánh Thần chỉ huy chúng ta. Điều này xảy ra khi chúng ta xin được biết Ý Chúa. Chuỗi sự kiện xảy ra là cách Ngài cho chúng ta biết.
6. Tôn thờ. Tôn thờ là phương cách mạnh mẽ trong việc giao tiếp với Chúa Thánh Thần. Khi chúng ta để cho tinh thần hoàn toàn nối kết với Chúa Thánh Thần thì điều kỳ diệu có thể xảy ra.
7. Cầu nguyện. Thường xuyên dành thời gian cầu nguyện là cách đối thoại với Chúa Thánh Thần về cuộc đời chúng ta và biết được kế hoạch của Thiên Chúa dành cho chúng ta.
8. Lắng nghe. Đó là điều chính đáng và cần thiết. Ngay khi thức giấc, chúng ta phải biết hướng về Thiên Chúa: “Vâng, lạy Chúa, chính Ngài là Đấng con van vỉ, ngay từ sớm, Ngài đã nghe tiếng con. Ngay từ sớm, con tỏ bày ước nguyện, rồi chăm chú đợi trông” (Tv 5:4). Hằng ngày, mọi người đều có Lời Chúa chờ đợi mình, thật hạnh phúc nếu biết lắng nghe, nhưng lại thật bất hạnh nếu không biết lắng nghe!
9. Ghi nhớ. Đôi khi Chúa Thánh Thần đem đến một sự kiện, một con người hoặc một tình huống để chúng ta ghi nhớ. Trong một số trường hợp có thể là sự cản trở bạn kết hiệp với Thiên Chúa. Chẳng hạn như sự không tha thứ, nỗi đau thương (thể lý hoặc tinh thần), sự xúc phạm nào đó,… Đó là những ví dụ cụ thể.
10. Kinh Thánh. Chúa Thánh Thần không bao giờ mâu thuẫn với Lời Chúa. Hãy đọc Kinh Thánh để biết những gì bạn nghe và tin nhận Ngài.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ beliefnet.com)


Tầm quan trọng của Lễ Ngũ Tuần
“Mỗi năm ba lần, tất cả đàn ông con trai của anh (em) phải đến trình diện ĐỨC CHÚA, ở nơi Người chọn: vào dịp lễ Bánh Không Men, lễ Ngũ Tuần và lễ Lều. Người ta sẽ không đến trình diện ĐỨC CHÚA tay không. Nhưng mỗi người sẽ đem lễ vật theo khả năng, tuỳ theo phúc lành ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em)” (Đnl 16:16-17).
Các Kitô hữu thuộc mọi truyền thống thần học đều mừng lễ Ngũ Tuần trong Năm Phụng Vụ. Nhưng có một chú ý nhỏ về lễ Ngũ Tuần so với lễ Giáng Sinh và lễ Phục Sinh là đa số chúng ta có thể không coi lễ Ngũ Tuần là lễ rất quan trọng. Thật vậy, lễ Ngũ Tuần là một trong ba lễ quan trọng nhất trong Cựu Ước.
Các lễ khác có thể giữ tại quê mình, nhưng lễ Vượt Qua, lễ Ngũ Tuần và lễ Lều (Sukkot) thì mọi người đều phải hành hương tới Thành Vua David. Ngay trong lễ Vượt Qua, các đoàn người hành hương cùng gia đình và bạn bè có cơ hội thăm viếng nhau. Quan trọng hơn, dân Chúa quy tụ tại một nơi, như khi dân Israel đón nhận Thánh Luật tại Núi Sinai (Xh 19–24).
Về luật Cựu Ước, người Do Thái kết hợp lễ Ngũ Tuần với luật được Thiên Chúa mặc khải cho dân Israel. Điều này có ý nghĩa khi chúng ta cho rằng lễ Ngũ Tuần theo Cựu Ước là dịp tạ ơn Chúa đã ban lương thực cho dân chúng sinh sống (Lv 23:15-22). Luật Chúa cần cho dân Chúa phát triển tâm linh, do đó lễ Ngũ Tuần là dịp để tận hưởng sự mặc khải của Tôra cho Môsê. Tuy nhiên, vì Luật Môsê gây chết chứ không sống (Rm 7:7-12), sau đó Thiên Chúa đã chọn lễ Ngũ Tuần là dịp Ngài ban Chúa Thánh Thần (Cv 2:1-10). Trong lễ Tạ Ơn, dân chúng cảm tạ Chúa đã ban lương thực và luật cho họ, ban Thần Khí Sự Sống là Đấng làm cho chúng ta có thể hoàn tất tiêu chuẩn thánh (Gl 5).
Trong mỗi thời đại, người ta cần tạ ơn Chúa đã thỏa mãn nhu cầu của họ, cả tinh thần và vật chất,; do đó, lễ Ngũ Tuần theo Cựu Ước là thời gian nuôi dưỡng người đói khát cùng với việc dâng của lễ lên Chúa (Lv 23:15-22). Chúng ta không thể không hào phóng với Thiên Chúa và những người nghèo khó, nhất là những anh chị em trong Đức Kitô.
Điều đó có thể dễ dàng nghĩ rằng ơn phúc của chúng ta là những thứ phải thuộc về chúng ta, và rồi chúng ta quên tạ ơn Chúa về các hồng ân Ngài ban. Chúng ta phải xa tránh tội lỗi và tạ ơn Chúa luôn ban cho chúng ta những gì chúng ta cần. Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Đừng nói lời thô tục, nhảm nhí, cợt nhả: đó là những điều không nên; trái lại, phải tạ ơn Thiên Chúa thì hơn” (Ep 5:4).
Kinh Thánh cho biết: “Anh (em) sẽ tính bảy tuần: từ khi bắt đầu mang liềm đi gặt lúa, anh (em) bắt đầu tính bảy tuần. Rồi anh (em) sẽ mừng lễ Ngũ Tuần kính ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), dâng lễ vật tự nguyện, tuỳ theo phúc lành ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em). Ở nơi ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), đã chọn cho Danh Người ngự, anh (em) sẽ liên hoan trước nhan ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), cùng với con trai con gái, tôi tớ nam nữ, với thầy Lê-vi ở trong các thành của anh (em), với ngoại kiều và cô nhi quả phụ sống giữa anh (em). Anh (em) hãy nhớ mình đã làm nô lệ bên Ai-cập, anh (em) phải giữ và đem ra thực hành các thánh chỉ này” (Đnl 16:9-12).
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Ligonier.org)


Duy trì tâm linh
Tâm linh là lĩnh vực đức tin, cần phải trau dồi không ngừng. Nhưng làm sao để có thể trưởng thành tâm linh trong suốt hành trình đức tin?
Thánh Phêrô đưa ra 8 “cột trụ” để các Kitô hữu khả dĩ duy trì Đức Tin một cách hiệu quả: “Anh em hãy đem tất cả nhiệt tình, làm sao để khi đã có lòng tin thì có thêm đức độ, có đức độ lại thêm hiểu biết, có hiểu biết lại thêm tiết độ, có tiết độ lại thêm kiên nhẫn, có kiên nhẫn lại thêm đạo đức, có đạo đức lại thêm tình huynh đệ, có tình huynh đệ lại thêm bác ái” (2 Pr 1:5-7).
1. NHIỆT TÌNH. Trong mọi điều chúng ta làm, chúng ta phải làm bằng cả nhiệt tình của tình yêu thương. Tiếp tục phát triển trong lĩnh vực này, chúng ta sẽ trưởng thành và vững bước theo Chúa, dù có thể gặp chống đối hoặc thất bại, như tác giả Thánh Vịnh tâm sự: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà con phải thiệt thân” (Tv 69:10).
2. LÒNG TIN. Không có đức tin thì chúng ta không thể làm vui lòng Thiên Chúa, vì bất kỳ ai muốn đến với Ngài đều phải tin chắc rằng Ngài hiện hữu và sẽ thưởng cho những ai khao khát tìm kiếm sự công chính của Ngài: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6:33). Đức tin là điều kiện đầu tiên và cần thiết để sống đời Kitô hữu phong phú.
3. ĐỨC ĐỘ. Người đức độ là người nhân đức, nghĩa là luôn tuân giữ Luật Chúa và nghe theo Lời Chúa. Người nhân đức không hẳn là người hoàn hảo, vì chẳng có ai công chính trước mặt Chúa, và ai cũng được “lúc chào đời đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai” (Tv 51:7). Nhưng điều đó có nghĩa là hằng ngày chúng ta phải theo đuổi sự công chính, sao cho hôm nay hơn hôm qua, ngày mai hơn hôm nay, theo ước muốn của Chúa Giêsu: “Hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48).
4. HIỂU BIẾT. Học hỏi Lời Chúa là điều quan trọng, tìm hiểu Kinh Thánh là việc cần thiết. Vô tri bất mộ. Để sống Đức Tin có hiệu quả, chúng ta không chỉ đọc Kinh Thánh mà còn phải hiểu Kinh Thánh: Đọc bản văn (lectio), rồi suy niệm (mediatio), sau đó là chiêm niệm (contemplatio) để “thấy” mình trong đó, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần.
5. TIẾT ĐỘ. Kinh Thánh cho mỗi chúng ta quyền kiểm soát là quyền sử dụng Lời Chúa. Cách đối xử của chúng ta là sản phẩm của đời sống tâm linh và thời gian chúng ta đầu tư. Phải cố gắng hiểu cho đúng Lời Chúa chứ không thể hiểu theo ý riêng. Tiết độ còn là tự kiềm chế chính mình, vì Thánh Phêrô đã cảnh báo: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5:8).
6. KIÊN NHẪN. Theo Hán tự, chữ “nhẫn” gồm chữ “đao” (con dao) ở trên chữ “tâm” (trái tim). Hàm ý gặp chuyện xấu mà chẳng chịu nhẫn nhịn thì tránh sao được đớn đau, như dao đâm thấu tim. Sự kiên nhẫn rất cần, nhất là trong những điều nhỏ mọn. Hành trình Kitô giáo là hành trình liên lỉ, nhấn mạnh vào việc luyện tập nhân đức hằng ngày.
7. ĐẠO ĐỨC. Đạo đức là sự cân bằng giữa sự khiêm nhường và phẩm giá của chúng ta. Chúng ta được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa (St 1:27), thế nên chúng ta phải bắt chước tính cách của Ngài khi chúng ta đối xử với chính mình và với tha nhân.
8. TÌNH HUYNH ĐỆ. Rất cần trau dồi mối quan hệ hàng dọc với Thiên Chúa, nhưng mối quan hệ đó cũng phải thẫm đẫm trong mối quan hệ hàng ngang với tha nhân, vì tất cả chúng ta đều là anh em với nhau (Mt 23:8). Đức ái Kitô giáo bắt buộc chúng ta phải biết động lòng trắc ẩn, chạnh lòng thương xót và nhạy bén với nhu cầu của người khác.
TRẦM THIÊN THU

THÁNH THẦN BÌNH AN
(Lễ Hiện Xuống năm A – Ga 20:19-23)

Vào buổi chiều hôm ấy
Ngày thứ nhất trong tuần
Nơi các môn đệ ở
Các cửa đóng kín bưng
Vì tất cả các ông
Đều sợ người Do Thái
Đức Giêsu đến đấy
Đứng giữa họ nói liền:
“Bình an cho anh em!”
Nói xong, Người cho họ
Được chứng kiến thật rõ
Cả tay và cạnh sườn
Các môn đệ vui mừng
Vì được nhìn thấy Chúa
Người lại nói với họ:
“Bình an cho mọi người!
Như Cha đã sai Thầy
Thầy cũng sai tất cả”
Rồi Người thổi hơi nhẹ
Vào các ông, nói rằng:
“Hãy nhận lấy Thánh Thần
Anh em tha tội lỗi
Cho bất kỳ ai vậy
Người ấy được tha ngay
Anh em cầm giữ ai
Người ấy bị cầm giữ”

Lạy Thánh Thần Thiên Chúa
Cúi xin Ngài đến ngay
Canh tân trái đất này
Làm chúng con nên mới
Bắt đầu là sám hối
Can đảm sống chứng nhân
Xin ban nguồn bảy ơn
Để con thuộc về Chúa
Không bao giờ khiếp sợ
Dù trong hoàn cảnh nào
TRẦM THIÊN THU
Lễ Hiện Xuống – 2011

Sống trong Chúa Thánh Thần
Thầy nói thật với anh em: Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em (Ga 16:7).
Chúa Thánh Thần rất quan trọng trong đời sống chúng ta! Cuộc sống có Chúa Thánh Thần rất khác lạ: Đầy khôn ngoan, ân sủng, và nhân đức. Phải mất nhiều thời gian để thi hành Ý Chúa và sống theo các huấn lệnh của Ngài. Chúng ta có thể làm như vậy nhờ có sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và không theo ý muốn ích kỷ của mình.
ĐIỆN NĂNG
Khi Người đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và việc xét xử (Ga 16:8).
Chúa Thánh Thần như điện năng hoặc trọng lực — chúng ta không thể hiểu hoặc giải thích nhưng cũng không thể thay đổi thực tại.
Sự thật không chủ quan nhưng khách quan. Công việc của Chúa Thánh Thần là thực tế này: Thiên Chúa có thể bị từ chối, bị làm ngơ và bị chế nhạo, nhưng đến ngày phán xét, chúng ta không thể tránh né Ngài. Chúa Thánh Thần mời gọi chúng ta sống thánh thiện, ban khả năng để làm vậy và giúp vượt qua các cám dỗ của thế gian.
THẦN KHÍ SỰ THẬT
Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em (Ga 14:17).
Tiếng kêu của thế gian có thể làm át Thần Khí sự thật khiến chúng ta không nghe thấy Ngài. Ngày nay có thể đúng là lúc Chúa Thánh Thần muốn chúng ta lắng nghe. Chúng ta có sẵn sằn lắng nghe?
TẤT CẢ SỰ THẬT
Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến (Ga 16:12-13).
Chúa Giêsu có nhiều điều dạy dỗ chúng ta nhưng Ngài biết khả năng phàm nhân của chúng ta hữu hạn, không thể nghe nhiều. Hãy tưởng tượng các kho tàng của Đức Kitô! Khi chúng ta sẵn sàng khám phá các kho tàng đó, Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn chúng ta. Khi chúng ta sẵn sàng lắng nghe, chúng ta sẽ được đầy tràn tình yêu Chúa và tất cả chân lý của Chúa Giêsu. Chúng ta có được điều này nhờ lắng nghe Chúa Thánh Thần, Đấng cư ngụ trong chúng ta — như Chúa Giêsu đã hứa.
ĐẤNG BẢO TRỢ
Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em (Ga 14:26).
Chúa Thánh Thần là thầy dạy vĩ đại nhất! Ngài dạy mọi điều dẫn tới ơn cứu độ và sự sống đời đời nếu chúng ta học trò ngoan.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ beliefnet.com)

Ngôi đền của Sự Sống
Thánh Phaolô xác định: “Thiên Chúa là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời, dưới đất” (Ep 3:15). Thật vậy, dù là Thiên Chúa Ngôi Hai, khi chấp nhận mặc xác phàm làm người, Chúa Giêsu cũng sinh sống trong một gia đình bình thường: “Hằng năm, cha mẹ Đức Giêsu trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ” (Lc 2:41-42). Không chỉ vậy, Ngài vẫn giữ đạo làm con là “hằng vâng phục cha mẹ” (Lc 2:51).
Ngày 9-10-2010, tại TP Cedar Lake (Indiana, Hoa Kỳ), TGM Robert J. Carlson, TGP St. Louis đã khánh thành Đền Thờ Thánh Gia. Đền thờ này tọa lạc tại một khu đất rộng và hướng ra một hồ nước, và đó là lời mời gọi mọi người sùng kính Thánh Gia, gương mẫu yêu thương và nhân đức (đối thần và đối nhân), bằng cách tạo bầu không khí cầu nguyện ngay trong gia đình và giúp nhau suy niệm về đời sống gia đình của Thánh Gia.
Bức tượng Thánh Gia (hình) do điêu khắc gia Cynthia Hitschler tạo hình bằng đồng, nặng khoảng 360 kg. Bức tượng có phong cách “lạ”, nhìn rất “hồn nhiên”, thể hiện sự thân thiện của các thành viên gia đình: Thánh Nhi Giêsu (khoảng 9-10 tuổi), Đức Thánh Maria và Đức Thánh Giuse. Bức tượng được tạo hình lớn bằng người thật, và được đặt giữa phòng để mọi người có thể ngắm nhìn từ mọi hướng.
Gia đình rất giản dị nhưng lại vô cùng quan trọng. Trong Anh ngữ, “gia đình” là FAMILY. Có thể coi từ đó được ghép bởi các mẫu tự đầu của các chữ trong một câu nói: “Father And Mother, I Love You – Thưa cha mẹ, con yêu cha mẹ”. Một cộng đồng nhỏ mà chan hòa tình yêu thương như vậy thì thật là tuyệt vời!
Gia đình Kitô giáo lại càng quan trọng hơn vì là “mô hình thật” của Thánh Gia, luôn phải được canh tân và được thánh hóa. Thánh hóa gia đình phải khởi đầu từ mỗi thành viên gia đình, vì mỗi người “là thân thể Đức Kitô và là một bộ phận” (1 Cr 12:27). Thánh Phaolô đã đặt vấn đề: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (1 Cr 3:16). Dạng nghi vấn như vậy là dạng xác định được nhấn mạnh. Như vậy, gia đình đúng là “ngôi đền của sự sống”. Tại sao? Vì mỗi thành viên là một đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần.
Cha là “phần cứng”, mẹ là “phần mềm”, con cái là những “phai” yêu thương (files of love) được sản sinh bởi “phần cứng” và “phần mềm” đó. Cha – Mẹ – Con là ba phần riêng biệt, nhưng là “bộ ba” tạo thành một tổng thể gia đình, là hình ảnh sống động của Chúa Ba Ngôi. Phần nào cũng có vị trí quan trọng nhất định, không thể thiếu phần nào trong mỗi gia đình. Cha thâm trầm như sóng ngầm, không thể hiện ra ngoài; mẹ “sôi nổi” như sóng cồn, là cách thể hiện riêng. Loại “sóng” nào cũng cần để tạo thành biển – biển yêu thương. Thật vậy, cả cha và mẹ đều yêu thương con cái hơn cả chính mình. Chuyện kể rằng…
Thuở nhỏ, gia đình cậu bé rất nghèo, tới bữa, chẳng mấy khi có đủ cơm ăn, mẹ liền lấy cơm ở trong chén mình chia đều cho các con. Mẹ bảo: “Các con ăn nhanh đi, mẹ không đói!”. Đó là lần đầu tiên mẹ nói dối!
Khi cậu bé lớn dần lên, người mẹ tảo tần lại tranh thủ những ngày nghỉ cuối tuần, đến những vùng đầm hồ ven đô bắt cá về cho con ăn cho đủ chất. Cá rất tươi, canh cá cũng rất ngon. Khi các con ăn thịt cá, mẹ lại ngồi một bên nhằn đầu cá, lấy lưỡi liếm những mảnh thịt sót lại trên đầu cá. Cậu bé xót xa, liền gắp miếng cá trong bát mình sang bát mẹ. Mẹ không ăn, lại dùng đũa gắp trả miếng cá về bát cậu bé. Mẹ bảo: “Con trai, con ăn đi, mẹ không thích ăn cá”. Mẹ nói dối lần thứ hai.
Lên cấp II, để nộp đủ tiền học phí cho cậu bé và anh chị, mẹ vừa làm thợ may vừa nhận vỏ hộp diêm về nhà ngồi cặm cụi dán vào mỗi tối, để kiếm thêm chút tiền chi tiêu cho gia đình. Một buổi tối mùa Đông, nửa đêm cậu bé tỉnh giấc. Thấy mẹ vẫn còng lưng dán vỏ bao diêm bên cạnh chiếc đèn dầu. Cậu bé nói: “Mẹ à, mẹ đi ngủ thôi, sáng ngày mai mẹ còn phải đi làm nữa mà. Mẹ cười nhẹ: Con trai, đi ngủ đi. Mẹ không buồn ngủ!”. Mẹ nói dối lần thứ ba.
Ngày thi vào trung học, mẹ xin nghỉ làm. Ngày nào cũng đứng ở cổng trường thi để làm “chỗ dựa tinh thần” cho cậu bé đi thi. Đúng vào mùa hạ, trời nắng cháy khét tóc. Người mẹ nhẫn nại đứng dưới cái nắng hè gay gắt chờ con suốt mấy tiếng đồng hồ. Tiếng chuông hết giờ đã vang lên. Mẹ nghiêng người đưa cho cậu bé bình nước, dỗ dành cậu bé uống. Bình trà nồng đượm, tình mẹ còn nồng đượm hơn. Nhìn bờ môi khô nẻ và khuôn mặt lấp lánh mồ hôi của mẹ, cậu bé liền đưa bình trà trong tay mời mẹ uống. Mẹ bảo: “Con uống nhanh lên con. Mẹ không khát!”. Mẹ nói dối lần thứ tư.
Sau khi cha lâm bệnh qua đời, mẹ vừa làm mẹ vừa làm cha. Vất vả với chút thu nhập ít ỏi từ nghề may vá. Ngậm đắng nuốt cay nuôi con ăn học, cái khổ không lời nào kể xiết. Có chú sửa đồng hồ dưới chân cây cột điện đầu ngõ biết chuyện, việc lớn việc nhỏ chú đều tìm cách qua giúp một tay. Từ chuyển than, gánh nước, giúp ít tiền cho gia đình cậu bé tội nghiệp. Con người chứ đâu phải cây cỏ, lâu rồi cũng sinh tình cảm. Xóm giềng biết chuyện đều khuyên mẹ tái giá, việc gì phải một mình chịu khổ thế. Nhưng qua nhiều năm mẹ vẫn thủ thân như ngọc, kiên quyết không đi “bước nữa”. Mọi người khuyên thế nào mẹ vẫn kiên quyết không nghe. Mẹ bảo: “Mẹ không yêu chú ấy”. Mẹ nói dối lần thứ năm.
Sau khi cậu bé và các anh chị cậu tốt nghiệp đại học đi làm. Mẹ nghỉ hưu rồi nhưng vẫn tiếp tục làm những việc lặt vặt ở chợ để duy trì cuộc sống. Các con biết chuyện thường xuyên gửi tiền về để phụng dưỡng mẹ. Mẹ kiên quyết không nhận. Tất cả tiền con gửi về, mẹ đều gửi trả. Mẹ bảo: “Mẹ có tiền mà. Vả lại mẹ có chi tiêu gì đâu!”. Mẹ nói dối lần thứ sáu.
Cậu bé ở lại trường dạy hai năm, sau đó thi đỗ học bổng học thạc sĩ ở một trường đại học danh tiếng tại Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp cậu ở lại làm việc tại một công ty nghiên cứu máy móc. Sống ở Mỹ một thời gian, khi đã có chút điều kiện, cậu muốn đưa mẹ qua Mỹ sống để phụng dưỡng mẹ tốt hơn. Nhưng lại bị mẹ từ chối. Mẹ bảo: “Mẹ không quen!”. Mẹ nói dối lần thứ bảy.
Nhiều năm trôi qua, mẹ lâm trọng bệnh, phải vào viện điều trị. Khi con trai đáp máy bay từ nơi xa xôi về thăm mẹ, mẹ già đi nhiều và yếu quá rồi. Nhìn mẹ bị bệnh tật dày vò đến thập tử nhất sinh, thấy con trai đau đớn vì thương xót mẹ. Mẹ lại bảo: “Con trai, đừng khóc, mẹ không đau đâu”. Và đó là lời nói dối cuối cùng của mẹ!
Những “lời nói dối dễ thương” của mẹ, nói dối vì yêu con! Chuyện kể về mẹ như vậy, nhưng cũng có ý nói về cha. Gia đình là thế đó! Gia đình được nối kết bằng chữ YÊU. Việt ngữ “độc đáo” lắm. Chữ Y như “chạc ba”, xuất phát và quy tụ từ ba hướng: Hướng Cha, hướng Mẹ và hướng Con. Tất cả PHẢI quy về một mối mới khả dĩ tạo gia đình thành một Tổ Ấm thực sự.
ĐGH Phanxicô đã có lần nói về gia đình: “Trong gia đình, người ta không xâm lấn nhau nhưng biết xin phép. Trong gia đình người ta không ích kỷ nhưng tập nói tiếng cám ơn. Trong gia đình, khi người ta nhận ra mình đã làm điều xấu và biết xin lỗi thì gia đình ấy có an bình và niềm vui”. Đạo của Thiên Chúa là Đạo Yêu Thương, gia đình phải là chiếc nôi ươm mầm yêu thương, muốn vậy thì mỗi thành viên phải sống yêu thương.
Trong thông điệp “Deus Caritas Est” (Thiên Chúa là Tình Yêu, 25-12-2005), ĐGH Biển Đức XVI đã phân biệt ba cấp độ yêu thương dựa theo Hy ngữ:
1. EROS – tình yêu nhục thể. Tình yêu này biểu lộ nơi tình yêu nam nữ trong tương quan vợ chồng.
2. PHILIA – tình yêu lý tưởng. Tình yêu này là tình bạn, lòng yêu nghệ thuật, lòng ái quốc.
3. AGAPE – tình yêu siêu thoát. Tình yêu này vượt qua các quy định của con người (sự khác biệt giới tính, văn hoá, xã hội, giai cấp, tôn giáo,...) để vươn tới chính Thiên Chúa.
Gia đình là “ngôi đền của sự sống”, tức là phải đầy ắp tình yêu thương. Đó là sống tình yêu thương của Chúa Ba Ngôi, là hiện thân của Thiên Chúa tình yêu, là chứng nhân của Thiên Chúa tình yêu giữa cuộc đời này. Đồng thời đó cũng là cách mỗi người tự hoàn thiện theo lời dạy của Chúa Giêsu: “Hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48).
Với những người làm con, sách Châm Ngôn nhắn nhủ: Lệnh cha truyền, hãy lo tuân giữ; lời mẹ khuyên, chớ bỏ ngoài tai” (Cn 6:20). Cũng vậy, Thánh Phaolô khuyên: “Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này (Ep 6:1-3).
Với những người làm cha mẹ, Thánh Phaolô khuyên: “Những bậc làm cha mẹ, đừng làm cho con cái tức giận, nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy” (Ep 6:4). Nếu cần thì có thể trừng phạt, nhưng phải trừng phạt trong tinh thần yêu thương chứ không trừng phạt như kẻ thù.
Về bổn phận vợ chồng, Thánh Phaolô khuyên: “Chồng hãy làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy” (Ep 7:3). Thánh Phaolô còn nói thẳng luôn chứ chẳng “úp mở” chi cả: “Vợ chồng đừng từ chối nhau, trừ phi hai người đồng ý sống như vậy trong một thời gian, để chuyên lo cầu nguyện; rồi hai người lại ăn ở với nhau, kẻo vì hai người không tiết dục nổi mà Satan lợi dụng để cám dỗ” (Ep 7:5).
Như chúng ta đã biết, gia đình được liên kết bằng “sợi dây yêu thương”, vì thế gia đình phải tràn đầy tiếng cười của sự bình an. Nếu không có yêu thương thì gia đình trở thành vùng sỏi đá, miền khô cằn hoặc hoang địa (sa mạc). Và từ đó có thể nảy sinh cái xấu, thậm chí là tội lỗi. Nếu thấy một thành viên nào có biểu hiện của cái xấu thì mọi thành viên khác phải cương quyết ngăn chặn ngay, đừng để cái xấu trở thành “lối mòn” thì khó mà uốn nắn lại. Cha mẹ đừng ảo tưởng về con cái – dù trai hay gái, vì chúng có thể “ra vẻ” ngoan ngoản ở nhà, nhưng ra ngoài thì chúng như “ông trời con”, như “đại ca” vậy. Ngay trong xã hội Việt Nam cũng đã có nhiều trường hợp như vậy. Từ “chuyện nhỏ” sẽ nảy sinh “chuyện lớn”. Tấm “gương mờ” trong Cựu Ước còn đó: Vì tham lam sinh ích kỷ, vì ích kỷ sinh đố kỵ, vì đố kỵ sinh ghen ghét, vì ghen ghét sinh hận thù, vì hận thù sinh tội lỗi, do đó mà Ca-in đã nhẫn tâm giết chính đứa em máu mủ ruột rà với mình. Đúng như tiền nhân đã cảnh báo: “Lỗ nhỏ làm đắm thuyền”.
Sau khi Ca-in phạm tội sát nhân, Thiên Chúa đã hỏi Ca-in: “Em của ngươi đâu?” (St 4:9). Tất nhiên Ca-in không thể trả lời, muốn im lặng làm ngơ mà không được nên đành phải chối quanh. Thế nhưng vải thưa không thể che mắt thánh! Vì thế, chúng ta đừng để Thiên Chúa phải lên tiếng hỏi chúng ta lời lẽ như vậy, chắc chắn chúng ta cũng không thể trả lời được đâu!
Một gia đình có hơi ấm yêu thương, dựa trên nền tảng yêu thương của Thiên Chúa, gia đình đó sẽ tốt lành. Chắc hẳn chúng ta còn nhớ câu chuyện “bảy mẹ con tử đạo” (2 Mcb 7:1-31). Nhìn các con lần lượt bị giết, nhưng người mẹ đó vẫn hiên ngang và động viên đứa con út không tham sanh úy tử, can đảm liều chết để vinh danh Chúa, vì người mẹ này tin rằng “chết là một mối lợi” (Pl 1:21), là biến đổi, là bước vào sự sống vĩnh hằng. Một người mẹ đạo đức như vậy thì chắc chắn bà cũng giáo dục con cái sống đức tin vững vàng. Đó là minh chứng hùng hồn về một “ngôi đền của sự sống”, tức là gia đình.
Cuộc đời các Kitô hữu là hành trình đức tin, là sống đức tin, thế nên chúng ta rất cần biết thân thưa với Chúa: “Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan” (Tv 90:12). Tác giả Thánh Vịnh chân thành khuyên chúng ta: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay” (Tv 37:5).
Sống đức tin là cố gắng tự hoàn thiện để nên thánh ngay trong môi trường gia đình, tức là sống các nhân đức (đối thần và đối nhân). Nhưng thế nào là nhân đức? Thánh nữ Faustina giải thích: “Bản chất của nhân đức là Ý Chúa. Ai trung tín thực hiện Ý Chúa thì cũng thực hành các nhân đức” (Nhật Ký, số 678). Mối liên kết thật kỳ lạ!
Triết gia Chu Hi (Zhū Xī, Trung Hoa, 1120-1200) nói về đời sống gia đình và xã hội: “Cách trị nhà cốt ở hoà thuận, cách mưu sinh cốt ở siêng năng”. Đúng là “nhân chi sơ tính bổn thiện”, thế nên tâm địa người tốt rất gần với Thiên Chúa, Đấng nhân lành tuyệt đối. Nói về cuộc sống, Amelia Mary Earhart (1897-1939, nữ phi công kiêm văn sĩ, Hoa Kỳ) có nhận xét liên quan gia đình: “Người ta càng làm nhiều, thấy nhiều và cảm nhận nhiều, người ta càng có thể làm được nhiều, và càng biết đánh giá chân thực về những điều cơ bản như gia đình, tình yêu và thấu hiểu sự đồng hành”.
Người ta không chỉ sống mà còn phải bảo vệ sự sống, tức là bảo vệ các thai nhi, vì mầm sống được bắt đầu từ gia đình. Ngoài ra, về tâm linh, cầu nguyện là sức sống của đời sống Kitô hữu. Tuy nhiên, đôi khi người ta hiểu cầu nguyện theo “nghĩa hẹp” là XIN, và thường chỉ xin cho mình, đúng ra còn phải xin cho người khác, đặc biệt là phải biết chúc tụng, tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa. Chúng ta hãy nghe Thánh tiến sĩ Thomas Aquinas phân tích: “Chúng ta cầu xin Chúa, không phải để Ngài biết nhu cầu và ước muốn của chúng ta, mà để chúng ta biết cần phải đến với Chúa để xin ơn phù trợ”.
Thánh Gioan Kim Khẩu nói: “Sau khi đặt sự thiện và sự dữ trong khả năng của chúng ta, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta quyền tự do để lựa chọn. Người không chấp nhận những gì miễn cưỡng, nhưng đón nhận những gì tự nguyện”. Thiên Chúa ban cho chúng ta sự tự do nên Ngài luôn tôn trọng tự do của chúng ta. Chính vì Ngài tôn trọng tự do của chúng ta nên chúng ta mới đáng quan ngại. Nghĩa là tùy ý chúng ta, nếu sống tốt thì được tưởng thưởng, nếu sống xấu thì bị trừng phạt, đó là quyền tự do của chúng ta, không thể biện minh là “tại, vì, nếu, giá mà, phải chi,…”.
Tóm lại, mỗi thành viên gia đình viên-đá-quý-đức-tin và đóa-hoa-tươi-yêu-thương, phải luôn biết quên mình mà “sống vì”, “sống cho” và “sống với” – nghĩa là hãy sống sao cho gia đình trở thành “ngôi đền của sự sống” thực sự sống động, nhất là trong Năm Phúc Âm Hóa Gia Đình 2014 này. Không phải hết “năm chủ đề” rồi thôi mà phải sống suốt cuộc đời của chúng ta, cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay.
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết noi gương Thánh Gia và biết không ngừng cố gắng trở nên những viên-đá-yêu-thương sống động để xây dựng những Ngôi Đền của Sự Sống, nơi có Thiên Chúa ngự trị. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU

Hơi ấm Bình an
(Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, năm A)

Trước khi chịu khổ nạn, Chúa Giêsu đã hứa với các môn đệ: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật” (Ga 14:16-17a). Chúa hứa thì chắc chắn Chúa ban, nhưng bổn phận của chúng ta vẫn phải cầu xin: “Veni Sancte Spiritus! Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến!”.
Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa Ngôi Ba, được tôn xưng với nhiều danh hiệu: Thần Khí Sự Thật, Thánh Linh, Thánh Thần, Linh Khí, Đấng An Ủi, Đấng Bảo Trợ, Đấng Thánh Hóa, Đấng Canh Tân,... Ngài xuất hiện qua hình chim bồ câu, lửa, nước, và gió.
Chúa Thánh Thần rất quan trọng trong cuộc đời chúng ta, vì Ngài là Thần Khí Sự Sống. Ngài quan trọng đến nỗi mà Chúa Giêsu đã xác định: “Ai nói phạm đến Thánh Thần thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời” (Mc 3:29; Lc 12:10). Mọi tội đều được tha, nhưng tội phạm tới Chúa Thánh Thần thì mãi mãi không được tha, nghĩa là “mắc tội đời đời”.
Nói tới Chúa Thánh Thần, chúng ta quen nhắc tới “bảy ơn Chúa Thánh Thần” – ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết, ơn lo liệu, ơn sức mạnh, ơn thông minh, ơn đạo đức, và ơn kính sợ Chúa. Cách nói quen thuộc đó do quan niệm của Kinh Thánh cho rằng số 7 là con số kỳ diệu. Chúng ta cũng nói Chúa Thánh Thần có sứ vụ thánh hóa, Ngài luôn tác động trong mỗi người, và chúng ta là đền thờ Chúa Thánh Thần (x. 1 Cr 3:16).
Chúa Thánh Thần vô cùng quan trọng trong cuộc đời của mỗi chúng ta, nhưng chúng ta lại thường xuyên quên lãng Ngài. Như lời nhắc nhở, trong các giờ phụng vụ, Giáo hội luôn cầu xin Chúa Thánh Thần ngự đến và thánh hóa mọi sự ngay từ đầu để có hiệu quả đúng theo Ý Chúa.
Như lời Đức Kitô đã hứa trước khi Ngài về trời, khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như LƯỠI LỬA tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho (Cv 2:1-4). Thật vậy, mỗi người đều có khả năng riêng, người được ơn này, kẻ được ơn khác, không ai giống ai, không ai là bất tài vô dụng. Đó là ơn Chúa Thánh Thần, nhưng ơn đó không phải để ích kỷ hoặc kiêu căng, mà là để làm vinh danh Thiên Chúa.
Tại Giê-ru-sa-lem lúc đó có những người Do-thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về, nhưng ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình. Họ sửng sốt và thán phục lắm. Đó là hiện tượng “nói tiếng lạ”, nhưng ai cũng hiểu. Các tông đồ chỉ là những người ít học, làm đủ các ngành nghề, chẳng học ngoại ngữ bao giờ, thế mà nay thông minh đột xuất, nói ngoại ngữ như gió, họ thấy nhãn tiền chứ chẳng phải chỉ nghe đồn. Lạ quá chừng!
Các tông đồ “nói tiếng lạ” không phải để lòe bịp, khoe khoang hoặc ý đồ gì khác, mà chỉ “loan báo những kỳ công của Thiên Chúa!” (Cv 2:11). Thấy và nghe vậy, ai cũng sửng sốt, có những người phân vân vì không hiểu như vậy nghĩa là gì, nhưng cũng có những người lại chế nhạo: “Mấy ông này say bứ rồi!” (Cv 2:13).
Ngày nay cũng vậy, khi thấy “sự lạ” hoặc thấy người khác có “cái lạ” (theo nghĩa tích cực về tâm linh), có người khâm phục và tạ ơn Chúa, nhưng cũng có người gièm pha, chê trách, ghét bỏ,... Có thể họ không nói ra bằng lời, nhưng động thái của họ đã “bật mí” tâm địa của họ. Đây là phương diện cần lưu ý và cẩn tắc!
Ơn Chúa luôn chan hòa và kỳ diệu, chúng ta cầu nguyện mà không thấy “được như ý” nên chúng ta tưởng Chúa không ban, nhưng thực ra Ngài ban cho chúng ta cái khác có lợi cho chúng ta hơn, vì “Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết hết mọi sự” (1 Ga 3:20). Thật vậy, “sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người” (1 Cr 1:24 -25). Tất cả đều là hồng ân, do đó mà chúng ta phải biết tạ ơn, tự nhủ và thân thưa: “Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi! Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, Chúa muôn trùng cao cả!” (Tv 104:1). Trí óc phàm nhân chúng ta không thể đủ sức hiểu sự quan phòng và tiền định của Thiên Chúa.
Tác giả Thánh Vịnh xác nhận: “Công trình Ngài, lạy Chúa, quả thiên hình vạn trạng! Chúa hoàn thành tất cả thật khôn ngoan, những loài Chúa dựng nên lan tràn mặt đất” (Tv 104:24). Không có Ngài thì chúng ta chẳng làm được trò trống gì, thậm chí là chết ngay lập tức. Thiên Chúa là sự sống, Thánh Thần là hơi thở, có Thiên Chúa thì chúng ta nên mới hoàn toàn như “sinh vật lạ”, nhưng chắc chắn rằng thiếu Thiên Chúa thì chúng ta không thể nào sống nổi: “Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hãi; lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi. Sinh khí của Ngài, Ngài gửi tới, là chúng được dựng nên, và Ngài đổi mới mặt đất này. Vinh hiển Chúa, nguyện muôn năm tồn tại, công trình Chúa làm Chúa được hân hoan” (Tv 104:29-31).
Ước gì mỗi chúng ta đều nhận thức sâu sắc và đúng đắn về Thiên Chúa, đồng thời khả dĩ định hướng sống rạch ròi: “Nguyện tiếng lòng tôi làm cho Người vui thoả, đối với tôi, niềm vui là chính Chúa” (Tv 104:34).
Các tông đồ là những người nhát đảm, sợ sệt, đã từng bị Thầy Giêsu trách là “kém tin” (Mt 6:30; Mt 14:31; Mt 16:8; Mt 17:20; Lc 12:28), nhưng sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, các ông trở nên can đảm, mạnh dạn, dám ăn dám nói chứ không “bỏ của chạy lấy người” như trước. Đa số các ông đã tử đạo để minh chứng niềm tin vào Đức Kitô. Một Saolê hung hăng và tàn bạo bắt đạo Chúa đã trở thành một Phaolô “mềm như bún” và nhiệt thành rao truyền Đức Kitô sau khi được Chúa Thánh Thần tác động. Rất nhiều các thánh trong lịch sử Kitô giáo đã cho thấy sức mạnh của Chúa Thánh Thần hoạt động và biến đổi các ngài.
Thánh Phaolô nói với giáo đoàn Cô-rin-tô: “Khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy. Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa. Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa. Thế mà điều chúng tôi giảng dạy cho các tín hữu trưởng thành cũng là một lẽ khôn ngoan, nhưng không phải là lẽ khôn ngoan của thế gian, cũng không phải của các thủ lãnh thế gian này, là những kẻ sớm muộn gì cũng phải diệt vong. Trái lại, chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa đã được giữ bí mật, lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển” (1 Cr 12:3-7). Điều đó chứng tỏ sức mạnh của Chúa Thánh Thần đã tác động: Người nhút nhát thành can đảm, người yếu đuối thành mạnh mẽ, người dốt nát thành thông minh, người khờ dại thành khôn ngoan,...
Thánh Phaolô căn dặn: “Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian, nhưng là Thần Khí phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Để nói về những điều đó, chúng tôi không dùng những lời lẽ đã học được nơi trí khôn ngoan của loài người, nhưng dùng những lời lẽ học được nơi Thần Khí; chúng tôi dùng những lời lẽ Thần Khí linh hứng để diễn tả thực tại thuộc về Thần Khí” (1 Cr 12:12-13).
Vâng, Chúa Thánh Thần vô cùng quan trọng. Chúng ta hãy hiệp ý cầu xin với cả Giáo hội qua bài Ca Tiếp Liên: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến, và tự trời toả ánh quang minh của Ngài ra! Lạy Cha kẻ cơ bần, xin Ngài ngự đến; Ðấng ban ân huệ, Ðấng soi sáng tâm hồn, xin ngự đến!...”.
Quả thật, “nếu không có Chúa trợ phù, trong con người còn chi thanh khiết, không còn chi vô tội”, vì thế mà chúng ta phải không ngừng “xin Chúa rửa sạch điều nhơ bẩn, tưới gội chỗ khô khan, và chữa cho lành nơi thương tích, uốn nắn điều cứng cỏi, sưởi ấm chỗ lạnh lùng, chỉnh đốn lại chỗ trật đường, ban cho ơn bảy nguồn, được huân nghiệp nhân đức, được hạnh phúc cứu độ và được hoan hỉ đời đời” (Ca Tiếp Liên).
Được như thế thì thật diễm phúc cho chúng ta, vì chúng ta chỉ là phàm nhân cát bụi, tội lỗi ngập đầu. Chúng ta càng diễm phúc hơn vì dù chỉ là những tội nhân khốn kiếp mà được phục hồi cả “bộ ba” là nhân vị, nhân phẩm, và nhân quyền nhờ Máu và Nước cứu độ tuôn trào từ Ngồn Mạch Lòng Thương Xót từ Thánh Tâm Chúa Giêsu. Không chỉ vậy, Thiên Chúa còn ban cho chúng ta được Chúa Thánh Thần luôn ở với chúng ta và hứa ban hồng phúc trường sinh với Ngài trên Thiên Quốc, vì chính Chúa Giêsu, Đấng cứu độ chúng ta, muốn rằng Ngài ở đâu thì chúng ta cũng ở đó (Ga 14:3). Đúng là còn hơn là diễm phúc hoặc đại phúc!
Chúa Giêsu về trời để dọn chỗ cho chúng ta (Ga 14:2), vì ích lợi của chúng ta (Ga 16:7), nhưng vì quá đỗi yêu thương chúng ta nên Ngài sợ chúng ta mồ côi (Ga 14:18), thế nên Ngài hứa ban Chúa Thánh Thần ở hẳn trong mỗi chúng ta (Ga 14:16), và lời hứa đó được thực hiện vào ngày Lễ Ngũ Tuần, sau khi Chúa Giêsu về trời được 10 ngày.
Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” (Ga 20:19). Một lời chúc tuyệt vời, vì đó là “hơi ấm” mà ai cũng cần, cả trong cuộc sống đời thường và tâm linh. Nói xong, Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Không vui sao được vì Thầy đã sống lại đúng như Thầy đã nói trước. Tưởng Thầy chết là “chấm hết”, nào ngờ Thầy vẫn “nguyên si”. Sung sướng quá chừng!
Có lẽ các ông sướng rơn nên chả nói được gì. Rồi Ngài lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20:21). Một hệ lụy tất yếu. Sướng thì sướng nhưng phải có trách nhiệm, và không được ích kỷ, nghĩa là phải chia sẻ niềm vui đó cho người khác.
Nói xong, Ngài thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20:22-23). Một lần nữa, Chúa Giêsu lại tiếp tục thể hiện Lòng Thương Xót một cách cụ thể: Bí tích Hòa giải. Đúng như Ngài đã từng bảo ông Phêrô khi ông hỏi Ngài về mức độ tha thứ: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18:22). Ngài là Đấng giàu lòng thương xót, là Thiên Chúa tình yêu, với Thánh Tâm ngùn ngụt Lửa Yêu, nên Ngài dạy chúng ta bao dung chứ đừng “bung dao”, phải “yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho người ngược đãi mình” (Mt 5:44). Như thế mới thực sự là thực hành Lòng Thương Xót và “mới được trở nên con cái của Chúa Cha” (Mt 5:45), nếu không thì chúng ta chẳng có công cán chi, chẳng hơn người thu thuế và người ngoại đạo (Mt 5:46-48).
Để có thể hành động đúng như Chúa Giêsu mong muốn thì chúng ta phải thực sự can đảm, muốn can đảm thì phải có ơn Chúa Thánh Thần, muốn có ơn Chúa Thánh Thần thì phải cầu xin: “Veni Sancte Spiritus! Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến!”. Thật vậy, không có Thiên Chúa thì chúng ta chẳng làm gì được (Ga 15:5).
Chúng ta được sai đi như chiên vào giữa bầy sói, vì thế chúng ta phải “khôn ngoan như rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 10:16), tức là cần ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần. Thật vậy, Thánh Phêrô đã căn dặn mỗi chúng ta: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5:8).
Bồ câu hiền lành và thân thiện với mọi người, là biểu tượng hòa bình (hoặc bình an). Lửa có tính “nhiệt” (nóng, dương), nước có tính “hàn” (lạnh, âm). Âm dương hòa quyện Đất Trời. Gió làm hạ nhiệt. Lửa, gió và nước là những thứ rất mềm, nhưng lại “cứng” hơn mọi thứ khác, và không ai có thể cắt đứt được. Chúa Thánh Thần cũng vậy, khi Ngài đã hành động thì không một sức mạnh nào có thể cưỡng lại. Ngoài ra, lửa có một đặc điểm khác là càng chia sẻ càng thêm nhiều, chứ không giảm bớt. Thật kỳ diệu!
Lạy Thiên Chúa, xin luôn luôn tuôn đổ nguồn ơn Chúa Thánh Thần để chúng con đủ sức hoàn thiện như Ngài mong muốn, nhờ đó chúng con mới có thể sống dồi dào, sống chứng nhân một cách sống động và hiệu quả. Xin Chúa ban “hơi ấm bình an” để chúng con trở nên khí cụ hòa bình ở mọi nơi và mọi lúc, xin ban Ngọn Lửa Thánh Thần để “thiêu đốt” và “uốn nắn” chúng con theo Tôn Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Sức mạnh Chúa Thánh Thần
RACHEL ZAMARRON

Mỗi người Công giáo nên đọc Kinh Thánh và luôn nói về Kinh Thánh. Mỗi ngày hãy đọc vài câu. Kinh Thánh sẽ nói với bạn. Đừng chỉ đọc những câu bạn thích vì thấy “hợp” với bạn, mà hãy đọc tất cả, bất cứ câu nào, càng “khó nghe” càng tốt. Đôi khi chúng ta phải làm điều gì đó dù cảm thấy miễn cưỡng.
Theo chu kỳ Mùa Phục Sinh, vợ chồng tôi bắt đầu đọc sách Công Vụ Tông Đồ hàng ngày. Chúng tôi đọc Kinh Thánh nhiều lần trong cuộc sống, nhưng chưa bao giờ thấy vui với các câu chuyện của Giáo hội sơ khai. Các câu chuyện đầy tính nhân bản, lộn xộn, và thực tế. Các tín hữu thời đó đối mặt với quá nhiều thử thách đối với đức tin của họ và cách sống mới của họ. Các thành phố như bị đảo lộn bởi những người ít học nhưng đầy Thánh Thần. Hãy nhớ rằng họ có là những người như thế trước đó vài tuần? Không. Họ chạy trốn, ẩn náu, nhút nhát, sợ hãi,...
Chúng ta hiểu tại sao Phó tế Stêphanô hiên ngang bảo vệ Đức Kitô trước mặt các vị lãnh đạo Do Thái, không sợ sệt, mạnh dạn nói, và chịu chết.
Chúng ta đọc câu chuyện về Phaolô và Sila trong tù, vừa hát vừa cầu nguyện giữa đêm khuya sau khi họ bị đánh đập. Họ “điên” thật! Có bao giờ bạn thấy một người bị bệnh nặng mà vẫn ca tụng Thiên Chúa? Họ dại dột hay điên khùng? Chắc hẳn chỉ có thể là sức mạnh của Chúa Thánh Thần.
Đó cũng là Chúa Thánh Thần mà chúng ta lãnh nhận khi lãnh nhận Bí tích Thêm sức, vậy tại sao chúng ta sợ hãi như các Tông Đồ xưa? Phải chăng cuộc đời chúng ta trôi nổi vì chúng ta không nhận ra Chúa Thánh Thần?
Tại sao Chúa Thánh Thần được so sánh với lửa?
Nước biểu hiện sự sinh sản và hoa trái của cuộc sống được trao ban trong Chúa Thánh Thần, lửa biểu hiện năng lực biến đổi nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. Khi cầu nguyện, Tiên tri Êlia “xuất hiện như ngọn lửa” và “lời lẽ cháy như ngọn đuốc”, đem lửa từ trời xuống hy lễ trên Núi Camêlô. Sự kiện này là “hình ảnh” của Lửa Thánh Thần, Đấng biến hóa những gì ông chạm vào. Ông Gioan Tẩy Giả “đi trước Chúa trong thần khí và sức mạnh của ông Êlia” và tuyên bố Đức Kitô là Đấng “làm phép rửa bằng Lửa và Thánh Thần”. Còn Chúa Giêsu nói về Chúa Thánh Thần: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!” (Lc 12:49). Trong hình “lưỡi lửa”, Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các Tông Đồ vào sáng ngày Lễ Ngũ Tuần và lòng họ đầy Chúa Thánh Thần. Truyền thống Kitô giáo dùng biểu tượng lửa là một trong các hình ảnh diễn tả sự tác động của Chúa Thánh Thần.
Chúng ta thấy Giáo hội nhiệt thành trong sách Công Vụ Tông Đồ là một ĐGH Phanxicô đã nói về Đại hội Giới trẻ tại Rio: “Cha mong muốn kết quả của Ngày Giới Trẻ là gì? Một sự hỗn độn. Sẽ có điều đó. Sẽ có sự hỗn độn ở đây, tại Rio này ư? Sẽ có! Nhưng cha muốn có sự hỗn độn tại các giáo phận! Cha muốn mọi người phải ra đi! Cha muốn Giáo hội ra các đường phố! Cha muốn tất cả chúng ta chống lại những gì trần tục, máy móc, thoải mái, giáo sĩ trị, khép kín, ung dung tự tại. Các giáo xứ, các trường học, các tổ chức,… hãy ra đi!”.
Lễ Ngũ Tuần là ngày khai sinh Giáo hội. Chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta chính Ngọn Lửa đã xuống trên các Tông Đồ xưa và đã biến đổi cuộc đời họ.
Nguyện xin Mưa Thánh Linh tuôn đổ trên chúng ta và ban cho chúng ta sự can đảm để dám ra đi và hăng say loan báo Tin Mừng cho mọi người, đồng thời biến đổi chính cuộc đời của chúng ta và mọi người xung quanh chúng ta.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)

Châm ngôn
Kinh Thánh là kho tàng khôn ngoan, vì tác giả chính là Chúa Thánh Thần. Chúng ta có thể “gặp” chính mình ở bất cứ nơi nào trong đó, nhờ các bài học vô giá trong Cựu Ước hoặc Tân Ước. Riêng sách Châm Ngôn có rất nhiều câu khôn ngoan giúp chúng ta sống tốt.
Tất nhiên mỗi người mỗi hoàn cảnh và còn tùy lúc, bạn có thể thấy thú vị với các câu khác, riêng đối với tôi thì dưới đây là vài câu thú vị. Xin được chia sẻ...
1. “Hãy để kẻ xa người lạ ngợi khen con, đừng có hé môi khen ngợi chính mình. Đá nặng, cát cũng nặng, đứa ngu nổi giận còn nặng nề hơn” (Cn 27:2-3).
2. “Chính Đức Chúa ban tặng khôn ngoan, tri thức và hiểu biết là nhờ Người mà có” (Cn 2:6).
3. “Miệng lọc lừa, con đẩy cho xa, môi thâm độc, con xua cho khuất” (Cn 4:24).
4. “Kính sợ Đức Chúa là bước đầu của khôn ngoan, biết Đấng Chí Thánh mới là hiểu biết thật” (Cn 9:10).
5. “Gây tội ác là trò tiêu khiển của người ngu, còn khôn ngoan là thú vui cho người hiểu biết” (Cn 10:23).
6. “Kẻ thiếu lương tri mới khinh khi người khác, người giàu hiểu biết thì ngậm miệng làm thinh” (Cn 11:12).
7. “Trí người minh mẫn kiếm tìm tri thức, miệng kẻ ngu si ham thích chuyện điên rồ” (Cn 15:14).
8. “Làm điều dữ là chuyện vua ghê tởm, vì nhờ sống công chính mà ngai báu vững bền. Lời lẽ chân thành khiến vua quý chuộng, vua yêu thương kẻ ăn nói thẳng ngay” (Cn 16:12-13).
9. “Có con đường xem ra ngay thẳng, nhưng rốt cuộc lại đưa đến tử vong” (Cn 16:25).
10. “Trước long nhan, đừng lên mặt kiêu kỳ, chớ đứng vào chỗ của hàng vị vọng” (Cn 25:6).
Khôn ngoan là nhân đức rất cần thiết cho cuộc sống đời thường và tâm linh. Sách Huấn Ca nói: “Chớ khinh thường chuyện các bậc khôn ngoan kể lại, hãy nghiền ngẫm phương ngôn của các ngài; vì nhờ học với các ngài mà con có được kiến thức, và biết cách phục vụ các bậc quyền cao” (Hc 8:8). Rồi sách Huấn Ca lại nói thêm: “Phúc thay kẻ nghiền ngẫm khôn ngoan, và biết dùng trí khôn mà suy luận” (Hc 14:20).
Đức Mẹ là người như vậy, vì Đức Mẹ luôn trầm lặng, hành động chứ không nói nhiều. Đức Mẹ khôn ngoan vì “hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2:19).
TRẦM THIÊN THU
Lễ Đức Mẹ Thăm Viếng, 31-5-2014

 

Mục đích sống
Tại sao chúng ta hiện hữu? Đây là một trong các vấn đề cơ bản của cuộc sống. Điều chúng ta tin có ảnh hưởng sâu xa đối với các quyết định của chúng ta. Tuy nhiên, nhiều người không biết cách trả lời. Họ sống mà không có mục đích rõ ràng. Do đó, họ mơ hồ bước đi trên hành trình cuộc sống.
Sẽ là ngu xuẩn hoặc bi kịch, chứ không có kết quả tốt cho những ai sống sai mục đích, dù có định hướng thế nào rồi cũng đến đích sai.
I. GIÁ TRỊ SỐNG
Tại sao chúng ta hiện hữu? Vì Thiên Chúa tạo dựng chúng ta để tôn vinh Ngài! Đây là 5 yếu tố về cuộc sống dựa trên Kinh Thánh:
1. Cuộc sống là tặng phẩm quý giá của Thiên Chúa.
Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con. Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu! Hồn con đây biết rõ mười mươi. Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì, khi con được thành hình trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu. Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy; mọi ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách Ngài, trước khi ngày đầu của đời con khởi sự (Tv 139:13 và 16).
2. Cuộc sống quý giá.
Ngài cho miệng con thơ trẻ nhỏ cất tiếng ngợi khen đối lại địch thù, khiến kẻ thù quân nghịch phải tiêu tan. Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm? (Tv 8:3-5).
3. Cuộc sống khó khăn nhưng đáng sống.
Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt (2 Cr 4:8-9).
Cho nên chúng tôi không chán nản. Trái lại, dù con người bên ngoài của chúng tôi có tiêu tan đi, thì con người bên trong của chúng tôi ngày càng đổi mới. Thật vậy, một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời. Vì thế, chúng ta mới không chú tâm đến những sự vật hữu hình, nhưng đến những thực tại vô hình. Quả vậy, những sự vật hữu hình thì chỉ tạm thời, còn những thực tại vô hình mới tồn tại vĩnh viễn (2 Cr 4:16-18).
4. Cuộc sống ngắn ngủi.
Ấy tuổi đời con, Chúa đo cho một vài gang tấc, kiếp sống này, Chúa kể bằng không. Đứng ở đời, thật con người chỉ như hơi thở, thấp thoáng trên đường tựa bóng câu. Công vất vả ngược xuôi: làn gió thoảng, ky cóp mà chẳng hay ai sẽ hưởng dùng (Tv 39:6-7).
5. Cuộc sống phải có sự khôn ngoan.
Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan (Tv 90:12).
II. MỤC ĐÍCH SỐNG
Một số người chỉ sống để kiếm sống, coi trọng vật chất, vì đối với họ, tài chính ảnh hưởng tất cả: “”Đồng bạc đâm toạc tờ giấy” và “có thực mới vực được đạo”. Họ làm việc cật lực để không bị nợ nần, trang trải mọi chi phí, cải thiện cuộc sống, và lo cho lúc già nua. Năm này qua năm khác, công việc khiến họ bù đầu. Hình như họ không còn thời gian cho bất cứ thứ gì khác, đầu óc họ chỉ có một hướng duy nhất: Kiếm tiền. Đây là 8 quy tắc về mục đích sống:
1. Thiên Chúa muốn chúng ta làm việc, đừng lười biếng.
Làm việc là điều cần thiết. Ngay trong Vườn Địa Đàng, Thiên Chúa đã phân công cho ông tổ A-đam: “Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen để cày cấy và canh giữ đất đai” (St 2:15). Công việc luôn là thành phần trong kế hoạch của Thiên Chúa dành cho nhân loại.
Làm việc là khó nhọc, lười biếng là hủy diệt. Chúa Giêsu nói: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (Ga 6:27). Thiên Chúa muốn chúng ta làm việc hết sức mình: “Anh em đừng trở nên uể oải, nhưng hãy bắt chước những người nhờ có đức tin và lòng kiên nhẫn mà được thừa hưởng các lời hứa” (Dt 6:12). Thánh Phaolô khuyên: “Hãy vui lòng phục vụ, như thể phục vụ Chúa, chứ không phải người ta. Anh em biết đấy: ai làm việc tốt, sẽ được Chúa trả công, bất luận nô lệ hay tự do” (Ep 6:7-8).
2. Thiên Chúa muốn chúng ta phó thác cuộc đời mình cho Ngài.
Lo lắng về nhu cầu sống có thể là động lực chính của chúng ta. Chúng ta quá lo lắng nên không còn thời gian dành cho Thiên Chúa hoặc bất kỳ thứ gì khác. Nhận biết Thiên Chúa chỉ như là “thuốc giải độc” đối với sự lo lắng. Khi chúng ta nhân biết Thiên Chúa sâu sắc hơn, chúng ta sẽ hiểu rằng Ngài rất yêu thương chúng ta, Ngài rất quan trọng đối với chúng ta, và Ngài luôn quan tâm chăm sóc chúng ta.
Chúa Giêsu dạy chúng ta cách sống lệ thuộc vào Thiên Chúa, tức là tin vào Thiên Chúa quan phòng: Đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao? Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay? Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin! Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúađức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6:25-34).
3. Thiên Chúa muốn chúng ta tận hiến cho Ngài, đừng lo tích lũy của cải vật chất.
Chúa Giêsu nói về thái độ đối với của cải vật chất: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi. Vì kho tàng của anh ở đâu thì lòng anh ở đó. Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh sáng thì toàn thân anh sẽ sáng. Còn nếu mắt anh xấu thì toàn thân anh sẽ tối. Vậy nếu ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối thì tối biết chừng nào! Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6:19-24).
Thánh Phaolô dạy: “Không phải vì thiếu thốn mà tôi nói thế, bởi lẽ tôi đã học sống tự lập trong bất cứ hoàn cảnh nào. Tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh, no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen cả” (Pl 4:11-12). Thiên Chúa muốn chúng ta biết mãn nguyện bằng cách biết ơn về những gì chúng ta có, chứ đừng chú ý vào những gì chúng ta không có.
4. Thiên Chúa muốn chúng ta dùng mọi khả năng Ngài ban để loan báo Nước Trời.
Chúa Giêsu bảo chúng ta “đừng quá lo về cái ăn, cái uống, và cái mặc”, nếu không thì chúng ta cũng chẳng hơn người ngoại giáo, vì người ngoại giáo họ chỉ chú ý việc đó thôi. Ngài muốn chúng ta ưu tiên tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài, mọi thứ khác Ngài sẽ ban cho. Hãy tín thác vào Ngài, vì Ngài biết rõ chúng ta hơn chính chúng ta biết về mình.
Chúng ta vẫn lo lắng và làm việc để sinh sống, nhưng đừng thái quá đến nỗi không còn thời gian tìm mục đích thật của cuộc sống. Chúng ta được tạo dựng để đạt mục đích cao hơn là sự hiện hữu và kiếm sống. Các nhu cầu Thiên Chúa đã đặt trong chúng ta cần thời gian lâu dài mới có thể hoàn tất, nhưng chúng ta phải tìm kiếm sự viên mãn nơi Thiên Chúa và mục đích của Ngài đối với cuộc đời chúng ta.
5. Thiên Chúa muốn là tâm điểm của cuộc đời chúng ta.
Tâm điểm cuộc sống của chúng ta có thể bị chiếm giữ bởi vợ/chồng, con cái, bạn bè, công việc, mục đích, hoặc những thứ khác. Thiên Chúa bảo chúng ta rằng tâm điểm cuộc đời chúng ta phải là Thiên Chúa, chỉ có Ngài mới là tâm điểm cuộc đời chúng ta. Kinh Thánh có nói tới quy luật này. Đây là 4 điểm:

  1. Đức Chúa đã phán: “Kẻ khôn ngoan, đừng tự hào mình khôn ngoan; kẻ hùng mạnh, đừng tự hào mình hùng mạnh; kẻ giàu có, đừng tự hào mình giàu có. Ai tự hào thì hãy tự hào về điều này, là hiểu biết Ta. vì Ta là Đức Chúa, Đấng thực thi nhân nghĩa, công bình và chính trực trên mặt đất. Phải, Ta ưa thích những điều này” (Gr 9:22-23).
  2. Chúa Giêsu đã nói: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất” (Mt 22:37-38).
  3. Tôn thờ Thiên Chúa, chúng ta được Ngài chia sẻ những bí mật về lời hứa: “Chúa xử thân tình với những ai kính sợ Chúa và cho họ biết giao ước của Người” (Tv 25:14).
  4. Đây là sự khôn ngoan đích thực: “Kính sợ Đức Chúa là bước đầu của khôn ngoan, biết Đấng Chí Thánh mới là hiểu biết thật” (Cn 9:10).

6. Thiên Chúa muốn chúng ta phản ánh Đức Kitô.
Cuộc sống không chỉ là làm việc, ăn uống, hưởng thụ,... Bạn là người như thế nào? Bạn sẽ trở thành cái gì? Hành động của chúng ta phản ánh điều chúng ta tin tưởng. Tính cách rất quan trọng. Đó là nền tảng để sống thành công. Thiên Chúa đã truyền cho chúng ta phải càng ngày càng trở nên giống Con Một Ngài, Đức Giêsu Kitô. Tính cách của chúng ta phản ánh Đức Giêsu Kitô: “Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí” (2 Cr 3:18).
7. Thiên Chúa muốn chúng ta dùng mọi khả năng để cộng tác với Đức Kitô trong việc mở Nước Trời.
Chúng ta phải cộng tác suốt đời. Thiên Chúa đã hoạch định những gì Ngài muốn thấy chúng ta hoàn tất trong cuộc sống. Có những nhu cầu trong Nhiệm Thể Đức Kitô và Vương Quốc Thiên Chúa mà chúng ta được tạo dựng cách đặc biệt để hoàn tất. Tuy nhiên, chúng ta phải tập trung vào cách chúng ta có thể giúp đỡ người khác hơn là cách đạt được cho riêng mình.
Thánh Phaolô nói: “Dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Kitô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4:12-13).
8. Thiên Chúa muốn chúng ta loan báo sự thật của Ngài cho người khác.
Bạn muốn giao tiếp với người khác thế nào? Bạn tạo ấn tượng gì qua công việc và cách sống? Thiên Chúa muốn chúng ta là Muối và Ánh sáng cho thế gian. Ngài muốn chúng ta là nhân chứng khiến người khác phải được thu hút tới Ngài khi họ thấy chúng ta sống và nghe chúng ta giải thích sự thật về Thiên Chúa: “Mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng giá gì, miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận từ Chúa Giêsu, là long trọng làm chứng cho Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa” (Cv 20:24).
Thiên Chúa nói rằng mục đích sống của chúng ta là làm vui lòng Ngài. Khi chúng ta làm vui lòng Ngài, chúng ta sẽ cảm nghiệm sự viên mãn khi theo đuổi mục đích sống đích thực của Ngài.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ JesusOnline.com)

CUỘC ĐỜI

Thiếu LƯƠNG TRI mới dám khinh người khác

Giàu HIỂU BIẾT thì ngậm miệng im re (1)

Người MINH MẪN luôn kiếm tìm tri thức

Kẻ NGU SI ham thích chuyện điên rồ (2)

         Cũng chỉ vì HAM MUỐN nhưng không có

         Nên người ta THÙ HẬN, chém giết nhau

         Cứ GANH GHÉT mà chẳng được gì cả

         Nên XUNG ĐỘT, rồi gây chiến với nhau (3)

Được làm người, đó là một đại phúc

Nhưng cuộc đời đâu như luống hoa hồng

Từ bỏ mình là một điều khó thật

Nhưng phải làm, phải cố gắng không ngừng

         Hãy TRUNG THỰC dẫu bất hạnh, nghèo khó

         Cứ GIẢN DỊ nếu hạnh phúc, giàu sang

         Giữ LỊCH SỰ, đừng ỷ quyền, cậy thế

         Cố IM LẶNG khi nóng giận bừng bừng

TRẦM THIÊN THU

(1) Cn 11:12. (2) Cn 15:14. (3) Gc 4:2.

GP ĐC KITÔ
Bước luân lạc giữa trần gian
Đi tìm Sự Thật ngày đêm miệt mài
Chợt nhìn thấy Chúa u hoài
Nơi người đau khổ lạc loài trần gian
Rồi nhìn thấy Chúa cô đơn
Không ai thăm hỏi nên buồn co ro
Lại nhìn thấy Chúa ốm o
Xác thân tiều tụy, âu lo tháng ngày
Rồi bao hoàn cảnh đọa đày
Cả đời phải chịu đắng cay, tủi hờn
Sáng buồn, chiều khóc, khổ thân
Bị người khinh miệt, âm thầm bước đi
Sống mòn kiếp khổ sớm khuya
Y như là Chúa Giêsu ngày nào
Cả đời chỉ gặp khổ đau
Dẫu làm điều tốt, thương yêu hết lòng
Cuối cùng chịu chết thảm thương
Thế mà Ngài vẫn rộng lòng thứ tha
Lạy Con Chúa, Đức Kitô
Tâm địa gian tà xin hãy hoàn lương!
TRM THIÊN THU
Tháng Năm – 2014


CHU
Chữ YÊU có dáng Y dài
Như Giêsu chết dang tay Thập Hình
Trăm năm một chuyến tội tình
Đôi khi cũng chẳng biết mình là ai
Y dài nên phải yêu hoài
Yêu cho tới chết, yêu ngày, yêu đêm
Chữ YÊU không được lãng quên
Dẫu chỉ một lần, một thoáng mà thôi
Chữ YÊU học mãi chẳng xuôi
Ghép vần khó lắm, cả đời chưa xong!
Yêu người, mến Chúa thật lòng
Mới mong được Chúa xót thương đời mình
Nhờ yêu mà nhận Thánh Linh
Thánh Thần Chân Lý dủ tình ủi an
Luật Yêu ngắn gọn, giản đơn
Mà con học mãi vẫn còn ngu si
Thương con, lạy Chúa Giêsu
Biến ngu si hóa tình si vì Ngài
Đời con trĩu nặng u hoài
Vì con chưa hóa Y dài mà yêu
Đời vương lắm nỗi khổ đau
Vì con chưa hóa ca dao ân tình
Chữ Y cũng giống cây đinh
Khi yêu thì phải liều mình, quên thân
Xin Ngài vắt trái tim con
Để cho máu đỏ chảy tròn chữ YÊU
TRM THIÊN THU


LỜI THẦY GIÊSU
(CN V PS năm A – Ga 14:1-12)
Đi xa mà chẳng đâu xa
Thầy chỉ về Nhà dọn chỗ cho con
Thầy đi, con chớ lo buồn
Cũng đừng sợ phải cô đơn tháng ngày
Đi rồi, Thầy sẽ sai ngay
Thánh Thần đến ở đêm ngày với con
Lữ hành xong chuyến trần gian
Rồi con sẽ được lãnh phần trường sinh
Ở bên Thiên Chúa uy linh
Cùng Thầy đồng hưởng phúc vinh đời đời
Con ơi, hãy cứ vui cười
Đau khổ ít rồi hạnh phúc miên man
Đường trần gian, cứ vững tâm
Thầy về trước, trở lại liền đón con
TRẦM THIÊN THU


THẦN KHÍ
(Isaia 11:2-4)
Thần Khí Chúa là Thần Khí sự thật
Là Thần Khí minh mẫn và khôn ngoan
Là Thần Khí dũng mãnh và bình an
Là Thần Khí mưu lược và hiểu biết
       Thần Khí Chúa là Thần Khí đạo đức
       Luôn một niềm kính sợ Đức Chúa Trời
       Kính sợ Chúa làm hứng thú, vui tươi
       Không xét xử theo bề ngoài người khác
Nhưng luôn luôn căn cứ vào sự thật
Không phán quyết theo lời được nói ra
Nhưng xét xử công minh cho người ta
Nhất là người thấp cổ, kẻ bé miệng
       Lạy Thánh Linh, xin Ngài mau ngự đến
       Để canh tân bộ mặt trái đất này
       Và đổi mới tâm hồn chúng con đây
       Luôn can đảm quyết bảo vệ chân lý
Xin bênh vực kẻ bé mọn, nghèo khổ
Xin Thần Khí làm chúng con hồi sinh
Được an vui trong công lý, hòa bình
Luôn xứng đáng là con cái của Chúa
TRẦM THIÊN THU


KHÚC YÊU THƯƠNG
Nhạc Ve nghe có buồn đâu
Mà sao lại gọi Ve Sầu, người ơi!
Xin đừng cuồng vọng kiếp người
Nghe Ve mời gọi những lời yêu thương
Mùa Hè nắng hạn bất thường
Khát khao mưa tưới mát lòng nhân gian
Nhạc Ve từng khúc miên man
Từng ngày Hè cứ râm ran vô thường
Khúc Ve đầy ắp yêu thương
Đơn sơ giai điệu nhưng mông mênh tình
Nhớ Con Thiên Chúa hy sinh
Chịu chết nhục hình, Thập Giá giương cao
Nhạc Ve đẹp khúc ca dao
Thánh Tâm đẹp giọt Máu Đào Xót Thương
TRẦM THIÊN THU


CON ĐƯỜNG
Con đường lặng trầm mình trong biển nắng
Mặc tháng ngày đi qua
Chở đầy nỗi khổ mỗi chuyến mưa sa
Chỉ thân thiện với sỏi đá
Ta thân quen đi, về trên đó
Cả lúc an vui, cả khi u buồn
Bất chợt thấy mình vô ơn
Cúi đầu, chân chợt vướng dây mắc cở
Không gian có thêm chiều-thương-nhớ
Thời gian còn có khoảnh-khắc-chờ-mong
Hụt chân mới biết mình còn thở
Ta vội khép nép thuộc lòng bài-học-yêu-thương
TRẦM THIÊN THU


VỀ BÊN GIÊSU
Khi nào thế giới hòa bình
Mọi người hòa thuận, chữ Tình sáng tươi
Có Tình Yêu của Chúa Trời
Hết thảy mọi người sẽ sống an vui
Đời người sẽ hóa ngậm ngùi
Bởi vì thiếu Chúa nên vui hóa buồn
Thế gian này thiếu tình thương
Nhưng thừa tội lỗi, ngông cuồng tham lam
Giêsu rong ruổi đi tìm
Nhưng chiên chạy trốn, nhẫn tâm mặc Ngài
Thập hình Chúa chết tả tơi
Tiếng kêu “khát” mãi muôn đời vọng vang
Con là một đứa hoang đàng
Về đây xin Chúa xót thương hải hà
Cầu xin Mục Tử Giêsu
Đưa vào Đồng Cỏ xanh rì màu yêu
Suối Hồng Ân chảy dạt dào
Cho con tắm mát những chiều hoang vu
Đi theo Mục Tử Giêsu
Đời con hạnh phúc, sớm khuya an lòng
TRẦM THIÊN THU

 

DongCongNet - June 6, 2014

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)