trầm thiên thu

tết nguyên đán , đinh dậu 2017

 

CUNG CHÚC TÂN XUÂN

Xuân về, Tết đến, không thể không đề cập lời chúc Tết. Những ngày cuối năm, tôi chợt nhớ tới thi phẩm “Chúc Tết”, một bài thơ Xuân nổi tiếng của cụ thi sĩ Tú Xương (Trần Tế Xương, 1870-1907), một “chuyên gia” trào lộng, nhưng cuộc đời lại quá đỗi lận đận, đời đen như mõm chó, như trong bài “Thi Hỏng”, ông đã than thở:

Mai không tên tớ, tớ đi ngay
Giỗ Tết từ đây nhớ lấy ngày
Học đã sôi cơm nhưng chửa chín
Thi không ăn ớt thế mà cay!

Có lẽ ít người không nghe nói tới ông. Dù không biết ông thì cũng vẫn “dính” tới ông, vì giới học sinh – sinh viên vẫn thường khôi hài mỉa mai: “Học hành thi cử làm chi – Tú Xương còn rớt huống chi là mình”.

Tên thật của ông là Trần Duy Uyên, tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, Tử Thịnh. Ông sinh ngày 5-9-1870 (ngày 10 tháng 8 năm Canh Ngọ), ở làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (sau đổi thành phố Hàng Nâu, nay là phố Minh Khai, phường Vị Xuyên, TP Nam Định). Ông mất ngày 29-1-1907.

Cả trăm năm rồi, thân xác thi sĩ Tú Xương đã nát với cỏ cây, nhưng sự nghiệp văn chương của ông vẫn như một chàng trai căng tràn sức sống, như một cô gái xinh xắn tươi đẹp, bất chấp mọi thử thách thời gian. Người ta tin rằng, khi viếng cụ Tú Xương, cụ Nguyễn Khuyến đã làm hai câu thơ này:

Kìa ai chín suối xương không nát
Có lẽ ngàn thu tiếng vẫn còn

Trong các tài liệu về Tú Xương đều không thấy có hình ảnh, nhưng dáng hình ông được người bạn học là Hạc Phong Lương Ngọc Tùng mô tả rõ trong một bài thơ:

Cùng làng, cùng phố, học cùng trường
Nhớ rõ hình dung cụ Tú Xương
Trán rộng, tai dày, da tựa tuyết
Mồm tươi, mũi thẳng, mắt như gương
Tiếng vàng sang sảng ngâm thơ phú,
Gót ngọc khoan khoan dạo phố phường
Mấy chục năm trời đà vắng bóng
Nghìn năm còn rạng dấu thư hương

Chắc hẳn Tú Xương là người đã “khác người” ngay từ thuở thiếu thời. Ông thi đi thi lại, thi tới thi lui, thi lên thi xuống, mãi mới đậu, tính ra có tới 8 lần: Bính Tuất (1886), Mậu Tý (1888), Tân Mão (1891), Giáp Ngọ (1894), Đinh Dậu (1897), Canh Tý (1900), Quý Mão (1903), và Bính Ngọ (1906). Tuy nhiên, không ai dám nói ông không có tài. Số phận hoặc số kiếp chẳng ai hiểu nổi, như tục ngữ Việt Nam nói: “Kẻ ăn không hết, người lần không ra”.

Tú Xương là một nghệ sĩ đích thực và chân chính, đồng thời cũng là một nhà trí thức phong kiến. Ông thuộc loại nhà Nho “dài lưng tốn vải”, có lẽ số phận lận đận nên ông cũng đầy “chất” ngông cuồng và ngang bướng. Người giỏi mà không được ai hiểu, thậm chí còn bị người ta hiểu lầm thì buồn lắm. Tú Xương “nóng gáy” lắm, như trong bài thơ “Hỏi Ông Trời”, ông thẳng thắn nhưng cũng rất chua chát, mỉa mai:

Ta lên ta hỏi ông trời:
Trời sinh ta ở trên đời biết chi?
Biết chăng cũng chẳng biết gì:
Biết ngồi Thống Bảo, biết đi ả đầu
Biết thuốc lá, biết chè tàu
Cao lâu biết vị, hồng lâu biết mùi

Mãi đến khoa Giáp Ngọ (1894) ông mới đậu tú tài (24 tuổi), mà là lần thi tú tài thứ tư mới đậu, thế nhưng lại chỉ là “tú tài thiên thủ” (tức là lấy thêm, dạng “đậu vớt” ngày nay). Sau đó, ông không sao đậu được cử nhân, mặc dù vẫn kiên trì theo đuổi. Khoa Quý Mão (1903), ông đổi tên Trần Tế Xương thành Trần Cao Xương cho đời bớt đen đủi, nhưng rồi hỏng vẫn hỏng, rớt cứ rớt, ông vừa đau đời vừa phát cáu mà “hét lên” như lời tự nguyền rủa và khinh thường người khác:

Tế đổi làm Cao mà chó thế,
Kiện trông ra tiệp, hỡi trời ôi!

Thời xưa, cái bằng tú tài thuộc loại dang dở dở dang (tú tài không được thi Hội, cử nhân mới được thi, tú tài không được bổ quan, cử nhân mới được bổ). Nếu đậu tú tài, muốn đậu cử nhân thì phải đợi 3 năm sau mới co dịp thi lại. Thật khó khăn, vì thời gian cứ trôi đi theo tuổi đời, mà người ta chỉ có một thời thôi!

Số phận ông hẩm hiu, buồn lắm nhưng biết sao được. Vì thế, ông thấy “tội nghiệp” người vợ lắm, nhưng cũng chỉ biết làm thơ tặng vợ mà thôi. Trong bài “Thương Vợ”, ông mô tả sự chịu khó của vợ và ông tự trách mình:

Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không!

Phải công nhận là bà Tú Xương ngoan hiền thật, mà có vợ hiền là “giàu có” rồi. Hai ông bà Tú thật đáng thương! Ông trân trọng vợ và biết ơn vợ, nhưng chính cuộc đời ông lại “vô duyên” hết sức, không thể làm gì cho vợ bớt khổ. Ông liền làm bài “Văn Tế Sống Vợ” để “cúng sống” vợ hiền:

Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ
Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ
Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám chê rằng béo rằng lùn?
Người ung dung, tính hạnh khoan hoà, chỉ một nỗi hay gàn hay dở!
Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ
Gần xa nô nức, lắm gái nhiều trai
Sớm tối khuyên răn, kẻ thầy người tớ
Ông tu tác cửa cao nhà rộng, toan để cho dâu
Anh lăm le bia đá bảng vàng, cho vang mặt vợ
Thế mà:
Mình bỏ mình đi, mình không chịu ở
Chẳng nói chẳng rằng, không than không thở.
Hay mình thấy tớ: nay Hàng Thao, mai phố Giấy mà bụng mình ghen?
Hay mình thấy tớ: sáng Tràng Lạc, tối Viễn Lai, mà lòng mình sợ?
Thôi thôi
Chết quách yên mồ
Sống càng nặng nợ
Chữ nhất phẩm ơn vua vinh tứ, ngày khác sẽ hay
Duyên trăm năm ông Nguyệt xe tơ, kiếp này đã lỡ
Mình đi tu cho thành tiên thành phật, để rong chơi Lãng Uyển, Bồng Hồ
Tớ nuôi con cho có rể có dâu, để trọn vẹn đạo chồng nghĩa vợ

Số phận thế thì biết thế thôi. Thế thì tiêu, mà tiêu thì thôi! Mỗi người đều có một số phận riêng, đừng thấy người thua kém mà khinh thường, ghét bỏ, hoặc xa lánh. Tục ngữ Việt Nam cũng đã nhắc nhở chúng ta phải luôn coi chừng: “Cười người hôm trước, hôm sau người cười”.

Xuân về, Tết đến. Cái gì đến sẽ đến, cái gì qua sẽ qua. Cái gì không là của mình thì cố gắng thế nào cũng không đạt được, nhưng cái gì là của mình thì tự nhiên sẽ tới. Ăn Tết hoặc vui Xuân thì cũng chỉ đến thế, có chăng là thêm miếng ăn khác ngày thường, mặc chiếc áo mới hơn một chút,… Thế thôi. Chứ ăn nhiều lại sinh bệnh, vui quá lại sinh tật. Cái nào cũng nguy hiểm.

Đón Xuân và mừng Tết thú vị và an toàn nhất có lẽ là sử dụng “món ăn tinh thần”. Vậy chúng ta hãy cùng nhau đọc lại thi phẩm trào phúng CHÚC TẾT của cụ thi sĩ Tú Xương cho vui cửa vui nhà. Cái cười trào phúng đầy mỉa mai nhưng có lẽ đó mới là cái cười thâm thúy, cái cười sâu lắng, cái cười đau đáu, cái cười chảy nước mắt, cái cười buốt lòng, cái cười thấu tim, cái cười đích thực,… Nhờ vậy mà có thể xem lại chính mình mà chấn chỉnh cho phù hợp – với chính mình, với người khác, với xã hội, với cộng đồng.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu
Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu?
Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc
Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu
Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước; đứa mua quan
Phen này ông quyết đi buôn lọng
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.
Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn
Phố phường chật hẹp, người đông đúc
Bồng bế nhau lên nó ở non
Bắt chước ai ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp hết ở trong đời
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người

Trong không khí mát mẻ của mùa Xuân, với sự nhộn nhịp của phố thị, làng xóm, hòa theo sự náo nức của lòng người, hài hòa với muôn vật, nhất là kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh, chúng ta cùng chân thành chúc nhau:

Đón Tết Hồng Ân, cầu luôn tin Đức Chúa
Mừng Xuân Đinh Dậu, chúc mãi ấm Gia Đình

Đặc biệt nhất là chúc nhau bằng lời chúc của Đức Giêsu Kitô: “Bình an cho anh em” (Ga 20:19). Vì chính Ngài cũng đã vừa căn dặn vừa truyền lệnh: “Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy” (Mt 10:12). Thiết tưởng, đó mới là lời Chúc Tết tuyệt vời nhất cho mùa Xuân này!

TRẦM THIÊN THU

TÂM SỰ CỦA GÀ

Năm nay năm Đinh Dậu
Năm họ Gà nhà tôi
Chúc mọi người rạng ngời
Vui mừng Xuân, đón Tết

Ai cũng đầy phúc lộc
Tăng thêm đức và tài
Biết mến Chúa, yêu người
Noi gương Cha từ ái (1)

Chúc mọi người hết thảy
Là cây tốt, trái ngon (2)
Tỏa hương vị ngát thơm
Thắm màu Hồng Ân Chúa

Giao thừa xin tâm sự
Đôi điều của Gà tôi
Năm mới tới nơi rồi
Bỏ qua mọi chuyện cũ!

TRẦM THIÊN THU
Xuân Đinh Dậu – 2017

(1) Lc 6:36 – “Anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ”.
(2) Lc 6:42 – “Không có cây nào tốt mà lại sinh quả sâu, cũng chẳng có cây nào sâu mà lại sinh quả tốt”.

 

ĂN TẾT

Sáng sớm đầu năm Đinh Dậu – 2017, anh Gà Trống thức dậy rất sớm, sớm hơn thường lệ, và cất tiếng gáy vang hơn hẳn năm cũ:

– Ò ó o… Gà Mái ơi! Ò ó o… Nàng thức chưa?

Cả trang trại ông Đinh và bà Dậu đều tỉnh giấc. Cô Gà Mái còn ngái ngủ nhưng cũng vội rướn giọng:

– Quác quác quác… Có đấy chứ! Quác quạc quác… Mới vừa thức, réo sớm thế!

Cụ Dê Xồm nổi máu nên khích ngay:

– Be be be… Dê đi nha!

Chị Mèo Mướp hứng chí vuốt theo:

– Meo meo meo… Eo eo ôi, ai ăn theo?

Bác Chó Xám cũng tò mò:

– Gâu gâu gâu… Đâu đâu đâu, đi xem sao!

Thím Vịt Bầu nổi nóng:

– Cạp cạp cạp… Đồ mạt rệp!

Lũ Gà Con nhác nhác:

– Chíp chíp chíp… Khiếp khiếp thế!

Gã Ngựa Non cười vang:

– Hí hí hí… Có thế chứ!

Ông Đinh bực mình cằn nhằn:

– Lũ súc sinh này lộng hành quá, không để cho ai ngủ nữa!

Bà Dậu ôn tồn:

– Này ông, không phải tại cả lũ chúng nó. Tại thằng Gà Trống đấy!

– Ôi dào! Được. Bà đi đặt nước. Tôi làm thịt nó để ăn Tết.

Mợ Két léo nhéo:

– Hay ra phết. Đúng là Tết. Vui như Tết. Nhưng rồi Tết là… chết. Thế là hết!

ĐINH văn DẬU

 

KHOẢNG ĐƯA ĐÓN

Lễ Giáng Sinh vừa qua. Hình như dịp Noël là thời điểm “lạ” và nhắc nhở người ta về “cái gì đó” bình-thường-mà-khác-thường: Kết thúc năm cũ và khởi đầu năm mới, đưa tiễn năm cũ và đón tiếp năm mới. Ý Chúa kỳ diệu thật!

Với Tây phương Noël và Năm Mới “gắn liền” với nhau. Với Việt Nam nói riêng, và Á Đông nói chung, hai “thời điểm” cũng nối kết ít nhiều. Sau Noël, Tết Á Đông thường chỉ cách sau đó khoảng 30 hoặc 45 ngày. Thời gian không dài. Ý Chúa lại tiếp tục kỳ diệu!

Cuộc đời có nhiều cái khởi đầu và kết thúc. Thời gian cũng được quy ước từng “khoảng” ngắn hoặc dài: Giây, phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm, mùa, thế kỷ,... Nghĩa là thời gian cũng có “mở” và “kết”. Tất cả có vẻ đơn giản như một sợi dây có hai đầu – đầu mở và đầu kết. Niềm vui nào cũng tàn, nỗi buồn rồi cũng hết (dù khó có thể chấm dứt, nhất là đối với những nỗi buồn “lớn”), ngay cả cuộc sống riêng của mỗi người cũng không trường sinh. Nói thẳng ra là CHẾT, tức là vừa hết vừa chấm dứt. Đó là quy luật muôn thuở. Nói chung, mọi thứ đều có khởi đầu và kết thúc – trừ Thiên Chúa, vì chính Ngài xác định:

– Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng (Kh 1:8).
– Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Khởi Nguyên và Tận Cùng (Kh 21:6).
– Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng (Kh 22:13).

Chia tay nào cũng tạo cảm giác khác thường: Vương vấn, lưu luyến, bịn rịn, nuối tiếc, bâng khuâng, buồn,... Tuy nhiên, có lẽ khoảng giao thừa là khác lạ nhất, đặc biệt nhất, người ta thường không có cảm giác buồn mà lại vui, vì từ biệt năm cũ để khởi đầu năm mới.

Trong khoảng “giao thoa” đó, ai cũng muốn loại bỏ những cái cũ xấu và xui, để đón những cái mới tốt và đẹp. Sửa soạn và đổi mới ngoại tại thì cũng phải canh tân tinh thần, vì tinh thần cũng cần “tống cựu” để “nghinh tân”. Bất kỳ cái gì, dù xấu hay tốt, cũng đều là bài học quý giá (thậm chí là “vô giá”) mà người ta thường gọi chung là “rút kinh nghiệm”. Nhưng hãy coi chừng, đừng chỉ “rút kinh nghiệm” cho qua lần rồi... để đấy, đâu lại vào đấy. Như vậy thì rất nguy hiểm cho chính mình (chứ chưa nói hại người khác), nếu cứ tiếp tục “khoác” cho mình những cái tên thật đẹp: Vũ Như Cẩn hoặc Nguyễn Y Vân – vẫn như cũ, vẫn y nguyên!

Ngày nay, người ta có QUEN với khuynh hướng “rút kinh nghiện”, nhưng chỉ để “cho vui”, cho có “văn bản”, cho có “phong trào”, chứ thực tế chẳng “ăn thua” gì. Ngay cả giáo dục là việc cần thiết mà người ta cũng chỉ làm cho có “phong trào”, theo “chiến dịch”, để “lấy điểm”, xong rồi thôi – gọi là “bệnh thành tích”. Ngày nay người ta quen giả dối đến nỗi cứ “làm láo” nhưng “báo cáo” vẫn đâu ra đấy. Thế là OK. Và cùng nhau… “ăn mừng”!

Làm sao “rút kinh nghiệm” cho có hiệu quả? Muốn vậy, thiết nghĩ phải biết “học tập từ quá khứ”, “cố sống với hiện tại” và “hy vọng vào tương lai”. Mọi người, dù người đó là ai, đều có ba khoảng thời gian: Quá khứ (dĩ vãng), hiện tại, và tương lai. Mỗi “khoảng” đều có mức độ quan trọng riêng biệt, không thể nói cái này hơn cái kia.

Trong cảm giác “tống cựu, nghinh tân”, hai nhạc sĩ LARSON và JONATHAN đã đồng soạn ca khúc “Happy New Year”, album “Super Trouper”. Mới đầu, ca khúc này có tựa đề là “Daddy, Don't Get Drunk on Christmas Day” (Bố ơi! Đừng Uống Say Dịp Lễ Giáng Sinh).

Giai điệu ca khúc này không rộn ràng, được viết ở âm thể thứ (phiên khúc) rồi chuyển sang trưởng (điệp khúc), thậm chí ca từ còn có vẻ “buồn” một chút, nhưng từ năm 1980 tới nay, hầu như không có giai điệu nào thay thế được giai điệu của ca khúc này. Chỉ cần nghe nhạc dạo thì dù ai cũng có thể biết ngay đó là ca khúc “Happy New Year” của ban nhạc Abba. Sức sống của ca khúc này “mạnh” thật. Độc đáo quá chừng!

1. No more champagne
And the fireworks are through
Here we are, me and you
Feeling lost and feeling blue
It's the end of the party
And the morning seems so grey
So unlike yesterday
Now's the time for us to say...

Không rượu sâm-banh, không pháo hoa, nhưng chúng ta vẫn cảm thấy trống vắng và buồn. Tiệc tàn, buổi sáng ảm đạm, không như hôm qua, nhưng đã đến lúc chúng ta nói: “Chúc mừng năm mới”...

HAPPY NEW YEAR
HAPPY NEW YEAR
MAY WE ALL HAVE A VISION NOW AND THEN
OF A WORLD WHERE EVERY NEIGHBOUR IS A FRIEND
HAPPY NEW YEAR
HAPPY NEW YEAR
MAY WE ALL HAVE OUR HOPES, OUR WILL TO TRY
IF WE DON'T WE MIGHT AS WELL LAY DOWN AND DIE
YOU AND I...

Đó là lời chúc Xuân tới mọi người, và cũng là điệp khúc được lặp đi lặp lại sau mỗi phiên khúc. Cầu chúc mọi người nhìn nhau như bạn bè, hy vọng, không thất vọng và không... chết. Cả bạn và tôi đều hy vọng như vậy – nhưng chắc chắn sẽ chết. Dù sao thì lời chúc đó vẫn đẹp biết bao!

Xin mở ngoặc: Anh ngữ có cái “kiêu sa” là ngôi thứ nhất luôn luôn viết hoa, dù đứng ở vị trí nào trong câu. Nhưng Anh ngữ lại có cái hay là ưu tiên người khác trước chính mình, họ nói “You and I” [(các) bạn và tôi] chứ không nói “I and You” [tôi và (các) bạn] như trong Việt ngữ. Một bài học về sự khiêm nhường đấy!

Hai lời ca tiếp theo của ca khúc “Happy New Year” là những suy nghĩ tích cực về một thế giới tốt đẹp, yêu thương, đoàn kết, hạnh phúc,... Có lẽ “sức sống” của ca khúc này nằm ở chính “điểm tích cực” như vậy. Hồi đó là thời điểm 1980, hai nhạc sĩ LARSON và JONATHAN cũng chỉ dám hướng tới năm 1989, tức là khoảng một thập niên mà thôi, nhưng hy vọng vẫn tràn trề...!

2. Sometimes I see
How the brave new world arrives
And I see how it thrives
In the ashes of our lives
Oh yes, man is a fool
And he thinks he'll be okay
Dragging on, feet of clay
Never knowing he's astray
Keeps on going anyway...

3. Seems to me now
That the dreams we had before
Are all dead, nothing more
Than confetti on the floor
It's the end of a decade
In another ten years time
Who can say what we'll find
What lies waiting down the line
In the end of eighty-nine...

Chúng ta may mắn còn sống tới giờ này, khoảng thời gian tống Bính Thân và nghinh Đinh Dậu, năm cầm tinh con Gà! Như vậy, không có lý do gì mà chúng ta lại không chân thành cầu chúc nhau khi Nàng Xuân đến trong dáng vóc kiều diễm. Vâng, không thể nào lại hoãn “cái sự sung sướng” đó. Nào, hãy tươi cười và trao nhau điều ước tuyệt vời nhất cùng với mọi người trên khắp thế giới này:

Cung Chúc Tân Xuân – Chúc Mừng Năm Mới
Happy New Year (tiếng Anh)
Feliz Año Nuevo (tiếng Tây Ban Nha)
Feliz Ano Novo (tiếng Bồ Đào Nha)
Bonne Année – Heureuse Nouvelle Année (tiếng Pháp)
Felix Novus Annus (tiếng Latin)
Bonan Novjaron (tiếng Esperanto, Quốc tế ngữ)
Frohes neues Jahr (tiếng Đức)
Manigong bagong taon (tiếng Philippines)
Buon anno (tiếng Ý)
Ευτυχισμένο το νέο έτος (tiếng Hy Lạp)

Riêng các Kitô hữu còn có bổn phận đối với Chúa: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (1 Sbn 16::34; Tv 106:1; Tv 107:1; Tv 118:1; Tv 118:29; Tv 136:1-3; Tv 136:26).

Năm cũ qua, năm mới tới. Muốn “nghinh tân” thì phải “tống cựu”, nghĩa là phải THA THỨ cho tha nhân thì mới xứng đáng được Thiên Chúa tha thứ: “Chính lúc thứ tha là khi được tha thứ” (Kinh Hòa Bình của Thánh “nghèo” Phanxicô Assisi). Nhưng đó cũng chỉ là theo mệnh lệnh của Thiên Chúa truyền qua Thập Giới (Mười Điều Răn), và cũng là một trong Bát Phúc (Tám Mối Phúc, Bài Giảng Trên Núi, Hiến Chương Nước Trời) do chính Đại Sư Giêsu truyền: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7).

Liệu chúng ta có dám “thẳng thắn” với Chúa về các động thái thương xót mà chúng ta (đã, đang, sắp và sẽ) thể hiện với tha nhân? Có thực sự “đúng mức” theo Lòng Chúa Thương Xót chưa? Vâng, nếu nghiêm túc “xét mình”, chắc hẳn chúng ta PHẢI “đấm ngực” nhiều chứ không thể dám “vỗ ngực” đâu. Thế nhưng, đáng tiếc thay, chúng ta lại đang ảo tưởng và hành động ngược lại!

Xuân về, tết đến, chúng ta hãy cùng cầu chúc nhau theo lời Chúa dạy: “Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy” (Mt 10:12). Có thể nói rằng sự bình an quan trọng nhất – bình an tâm hồn và bình an thể lý, vì cuộc sống có bình an thì rồi sẽ có những thứ khác.

Giao thừa cũng nhắc nhở chúng ta về niềm tin – tự tin và tin tưởng, với Kitô hữu còn có “khoảng” Đức Tin. Lòng ttự tin và in tưởng rất cần thiết trong cuộc sống: Tự tin để có thể cương quyết là chính mình chứ không bắt chước người khác hoặc là “bản sao” của người khác, nhờ tự tin mà người ta có thể làm mọi thứ mà không run sợ trước bất kỳ thế lực nào; và tin tưởng để không suy diễn theo ý mình, không nghi ngờ người khác – dù họ là bất kỳ ai, là người tốt hay xấu.

Tuy nhiên, cũng nên lưu ý: “Thái quá bất cập”. Tự tin quá hóa nghi ngờ, càng nghi ngờ thì càng thất vọng. Như vậy, lòng tự tin sẽ phản tác dụng, thậm chí là nghi ngờ chính mình. Nếu như vậy sẽ rất nguy hiểm!

Chính nhờ tin mà được nên công chính (Cv 13:39; Rm 3:22; Rm 3:26; Rm 4:1; Rm 4:5; Rm 4:11; Rm 4:13; Rm 5:1) chứ không vì lề luật (Rm 3:28), ai chân thành thú nhận tội lỗi cũng được nên công chính (Lc 18:14), được nên công chính nhờ ân huệ Thiên Chúa ban, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu (Rm 3:24). Cuối cùng, bất kỳ ai được Chúa kể là công chính nhờ đức tin thì đều được cứu độ (Mc 16:16).

Con người rất yếu đuối, vì thế mà luôn phải cố gắng không ngừng, nhất là vào thời khắc chuyển giao khi chúng ta giã từ năm cũ để đón năm mới. Tuy nhiên, đừng nản chí sờn lòng: Nếu chưa làm được điều mình muốn thì cũng phải muốn điều mình quyết định làm. Một trong Bát Phúc cũng được Chúa Giêsu đề cập dạng “mong ước” này: “Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng” (Mt 5:6).

Lạy Thiên Chúa, xin thương xót mà tha thứ những lỗi lầm trong năm cũ và xin thương giúp chúng con sống đúng những gì chúng con hứa với Ngài từ giây phút này. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

CẢM NGHĨ ĐẦU NĂM

Mùa Đông còn bịn rịn
Như chưa muốn chia tay
Chút hơi sương còn lạnh
Lá vàng vẫn bay bay

            Mùa Xuân về gõ cửa
            Đánh thức giấc ngủ Đông
            Đóa hoa Xuân vừa nở
            Kìa nàng Bướm, chàng Ong!

Trời dịu dàng vạt nắng
Cô gái cười làm duyên
Cây xòe lá xanh thắm
Không gian thật bình yên

            Chợt thấy người hành khất
            Đứng lặng, mắt nhìn xa
            Mùa Xuân đã về thật
            Sao có người còn lo?

Có ai mời vé số
Nghe nhẹ như tiếng ca
Thì ra một đứa trẻ
Đang cố nài người mua

            Có người sướng, người khổ
            Dù ai cũng một đời
            Tại sao lại như thế
            Cuộc đấu hay cuộc chơi?

TRẦM THIÊN THU 

 

KIẾP MỒNG TƠI

Mồng tơi tím đậm nỗi niềm
Xanh xanh mơ ước, mềm mềm chơi vơi
Đời nghèo rớt trái mồng tơi
Nên sợi tình đời cũng bị đứt ngang
Giấc mơ cũng chợt bàng hoàng
Bồng bềnh gian khổ, đời hoang sớm chiều
Bán rao vé số gieo neo
Xích-lô gối mỏi, nhức đau lưng còng
Nhọc nhằn tay xách, nách bưng
Kẻ lon đậu phộng, người thùng nước non
Suốt ngày rảo bước cô đơn
Đêm về ngủ trọ đắp buồn qua đêm
Xuân về đã sát bên thềm
Kiếp mồng tơi vẫn vô duyên giao thừa!

TRẦM THIÊN THU

 

LỜI CẦU NĂM MỚI

Xin giã từ năm cũ
Có chút gì luyến lưu
Ước mơ còn dang dở
Hy vọng tăng thêm nhiều

Xin giã từ năm cũ
Thời gian cũng hóa xa
Nhưng trang lòng vẫn mở
Ướp bao kỷ niệm xưa

Xin giã từ năm cũ
Nguyện xin Chúa thứ tha
Bao lần con sa ngã
Cảm tạ Chúa bỏ qua

Xin đón chào năm mới
Hy vọng lại bắt đầu
Ước mơ và mong đợi
Vẫn lặng thầm xuyến xao

Xin đón chào năm mới
Với Ơn Chúa trao ban
Xác hồn thêm một tuổi
Xin cũng thêm khôn ngoan

Xin đón chào năm mới
Cậy trông Mẹ dắt dìu
Đưa con qua mọi lối
Vượt qua những niềm đau

TRẦM THIÊN THU
Miền Giao Thừa 2016–2017

 

MIỀN THÁNG GIÊNG

Tháng Giêng, rạo rực một miền thơ yêu thương
Dẫu con người mang trái tim trần thế
Vậy mà thơ vẫn nồng nàn quá
Khôn xiết tả những vần đẹp tựa ca dao

Tháng Giêng, cùng hát lý thương nhau
Trời nắng pha lê trong trẻo mơ ước
Mùa Xuân về đất trời ấm áp
Nảy lộc biếc đầu cành tháng Giêng

Men thơ làm tâm hồn chợt chao nghiêng
Ai say men tình khi mùa tới?
Phố phường nhộn nhịp khiến con tim đắm đuối
Cảm ơn tháng Giêng ngồn ngộn tứ thơ

Miền-Tháng-Giêng lênh láng ước mơ
Ước mơ tâm linh, ước mơ trần tục
Nguyện xin Chúa cho chúng con hạnh phúc
Hạnh phúc trần gian và hạnh phúc Thiên Đường

Cảm tạ Chúa luôn giàu lòng xót thương
Đã ban bình an suốt năm cũ
Xin cho năm mới đẹp như Mai nở
Rạng rỡ Tình Chúa và thắm đẹp tình người

TRẦM THIÊN THU

 

TÂM TÌNH TẾT

Tân niên ai cũng chúc nhau
Giàu sang, phú quý, thoát bao ưu phiền
Nhân gian thao thức vì tiền
Giàu rồi chẳng nhớ bạn hiền là ai!
Ước mơ giàu chẳng hề sai
Nhưng đầy nguy hiểm cho ngày trần gian
Người ta mù quáng vì ham
Sinh ra mọi thứ ác gian trên đời (*)
Sống nghèo mà vẫn biết cười
Còn hơn giàu có khinh người, ghét ghen
Tiền đâu có phải là tiên
Mà là quỷ dữ sớm hôm hại người
Đức tin cũng sẽ đánh rơi
Làm sao tìm lại giữa đời gian ngoa?
Lạy Ngài Thánh Tử Giêsu
Cứu con thoát khỏi lọc lừa nhân gian
Dẫu nghèo nhưng vẫn bình an
Chuyên cần kính Chúa, ái nhân, lạy Thầy!
Bao người còn khổ đời này
Xin Thầy thương xót, xin Thầy đỡ nâng

TRẦM THIÊN THU
Tân Niên Đinh Dậu, 1-1-2017

(*) 1 Tm 6:10 – “Cội rễ sinh ra mọi điều áclòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé”.

GIA ĐÌNH THƯƠNG XÓT

Tân niên sum họp gia đình
Dạt dào Tình Chúa, đẹp tình thân nhân
Mùa Xuân mới đượm Hồng Ân
Thiên Chúa ban tràn, hồn xác không ngơi
Tạ ơn Thiên Chúa muôn đời
Gia đình là cõi mọi người lớn khôn
Bên nhau thương xót luôn luôn
Để đem hạnh phúc ra muôn nẻo đời
Đầu năm khởi sắc nụ cười
Cả năm tốt đẹp tình người với nhau

TRẦM THIÊN THU
Tân Niên, 1-1-2017

SỨ ĐIỆP TÂN NIÊN

Con Khỉ đã đi. Con Gà đã tới. Cuộc giao ban đã hoàn tất. Năm mới đã khởi đầu. Những cái khởi sự mới cũng đang bắt đầu: canh tân, chấn chỉnh, ước mơ, quyết tâm,...

Đây là 10 sứ điệp của các danh nhân nhắn nhủ với chúng ta trong năm mới này... Phải hành động ngay thôi!

ĐAM MÊ

Anthony Robbins nói: “Không có sự vĩ đại nếu không có niềm đam mê lớn, niềm đam mê đó tạo nên tên tuổi các nghệ sĩ, vận động viên, khoa học gia, người cha, người mẹ, doanh nhân,...”. Thật vậy, muốn đạt tới sự vĩ đại, bạn phải yêu thích chính những gì bạn làm. Ngay cả thập giá cũng vậy, không đam mê không vác nổi đâu!

MƠ ƯỚC

Johann Wolfgang von Goethe nói: “Bất cứ điều gì bạn có thể làm hoặc muốn làm, hãy bắt đầu ngay. Can đảm có tố chất thiên tài, sự kỳ diệu và sức mạnh”. Cứ ngại, cứ sợ, chẳng bao giờ làm được gì. Dám làm là tự tin, dám làm là yếu tố dẫn tới thành công, hãy dám làm những gì bạn mơ ước và phải khéo léo vận dụng.

HÀNH TRÌNH

Henry Boyle nói: “Hành trình quan trọng nhất trong đời bạn là gặp gỡ người khác trên đường đi”. Gặp gỡ thân mật với nụ cười chứ không chỉ nhìn nhau rồi thôi. Yêu thương khởi đầu từ nụ cười, ánh mắt, rồi mới có thể hành động cụ thể. Cảm thông và hiểu người khác có thể tạo nên sự khác biệt.

TÌM QUÊN

Og Mandino nói: “Khi bạn sai lầm hoặc thất vọng, đừng quay lại nhìn nó quá lâu. Lỗi lầm là cách cuộc đời dạy chúng ta. Việc phạm sai lầm khác với việc đạt mục đích. Không ai hoàn toàn chiến thắng, thất bại là mẹ thành công, thất bại chỉ là một phần trong quá trình phát triển. Hãy quên đi các lỗi lầm. Làm sao bạn biết mình hữu hạn? Hãy đứng dậy và bước tới!”. Nhân vô thập toàn, không ai không sai lầm, chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng chí thiện. Biết vậy không phải để ỷ lại mà để cố gắng sống tốt. Sai thì sửa, té ngã thì đứng dậy, đừng nằm lì ra đó!

TÔI LÀ TÔI

Steve Jobs nói: “Thời giờ có hạn, đừng lãng phí thời gian mà sống bằng cuộc đời của người khác. Đừng sập bẫy giáo điều – tức là sống theo suy nghĩ của người khác mà không dám là chính mình. Đừng lệ thuộc ý kiến của người khác mà đánh mất chính mình. Quan trọng nhất là hãy can đảm theo con tim mình và trực giác của mình. Đó là cách bạn thực sự muốn cho mình, mọi thứ khác là thứ cấp”. Dĩ nhiên chúng ta không bảo thủ hoặc coi thường ý kiến của người khác, nhưng đừng lệ thuộc người khác. Ý kiến của người khác cũng đa dạng, cần biết minh định rạch ròi, nếu yếu bóng vía thì bạn sẽ “qụy ngã” vì các tin đồn của các “bà tám” hoặc “ông tám”.

TIN TƯỞNG

Marie Curie nói: “Cuộc sống không dễ dàng đối với bất cứ ai. Vậy là sao? Chúng ta phải kiên trì và tự tin. Chúng ta phải tin rằng mình có tài về lĩnh vực nào đó, và chúng ta sẽ đạt được như lòng mong ước”. Cuộc đời không như tấm thảm êm đềm, mà luôn gập gềnh, khúc khuỷu. Đôi khi chúng ta cảm thấy mệt mỏi vì số kiếp lận đận. Nhưg không phải vậy, vì cụ Phan Bội Châu đã nói: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Những người có tên tuổi đều là những người đã chịu nhiều thất bại, đau khổ, họ hơn chúng ta vì họ có ý chí sắt thép. Thánh Phaolô đã chịu nhiều thử thách nhưng vẫn không đầu hàng trước số phận, lại còn “tự hào về những yếu đuối của mình” (2 Cr 11:1-33). Lòng tự tin của Thánh Phaolô là niềm tín thác vào Đức Giêsu Kitô.

CƠ HỘI

Oprah Winfrey nói: “Cuối năm không là kết thúc cũng không là khởi đầu, mà là tiếp tục với sự khôn ngoan từ kinh nghiệm thấm nhuần trong chúng ta. Chào đón năm mới, đó là cơ hội mới để chúng ta phấn đấu”. Hãy rút lấy các bài học quý giá từ kinh nghiệm, và hãy áp dụng các bài học “xương máu” đó trong năm mới này. Rút ra rồi đừng để đó hoặc than thân trách phận, hãy quyết tâm cố gắng làm tốt hơn năm cũ.

KHỞI ĐẦU

Mẹ Teresa Calcutta nói: “Hôm qua đã qua. Ngày mai chưa tới. Chúng ta chỉ có hôm nay. Hãy bắt đầu từ hôm nay”. Thời gian là của Chúa. Chúng ta không làm chủ thời gian nhưng được quyền quản lý thời gian. Thời gian hiện tại rất quý. Hãy tập trung vào hôm nay, đừng ủ rũ vì quá khứ và mơ mộng với tương lai. Có hôm qua mới có hôm nay, có hôm nay mới có ngày mai.

NÊN MỚI

Lão Tử nói: “Khi tôi cởi bỏ chính tôi, tôi trở nên cái tôi phải là”. Hãy tập trung vào con người mà bạn muốn trở nên, cứ trở nên dần dần, cứ từ từ, từng chút một. Đường gần hoặc xa không thành vấn đề, mà vấn đề là bạn có bước từng bước hay không. Chẳng ai có thể nhảy một cái là tới ngay nơi mình muốn đến. Chính những bước nhỏ lại có thể tạo nên hành trình dài. Kỳ lạ thật!

THỰC HIỆN

Mae Jemison nói: “Vị trí của bạn trong thế giới này là chính cuộc đời bạn. Hãy bước đi và làm những gì bạn có thể, hãy làm cho cuộc đời mình như bạn muốn”. Mỗi người phải chịu trách nhiệm về cuộc đời mình, chính cha mẹ hoặc người thân cũng không ai có thể giúp gì hơn. Dám làm thì dám chịu. Vả lại, Thánh Phêrô đã nói rõ: “Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử” (1 Pr 1:17).

Theo ngũ hành, năm 2017 là năm Đinh Dậu, thuộc mệnh Hỏa. Nam là cung Khẩn Thủy, nữ là cung Cấn Thổ. Người tuổi Dậu thường cũng chính là con người thật của họ. Không có quá nhiều điều bí ẩn trong tính cách của con giáp này: họ không quá phức tạp, cũng chẳng quá sâu xa; nói đúng hơn họ rất thẳng thắn và cởi mở.

Đấy là nói theo quan niệm phàm nhân cho biết, cho vui thôi, đừng “nặng lòng” vì những điều vừa vớ vẩn vừa dớ dẩn. Khởi đầu năm mới, hãy ghi nhớ: “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13:8).

Cung Chúc Tân Xuân – Happy New Year. Cung Chúc Tân Nhân – Happy New You.

TRẦM THIÊN THU
Tết Dương Lịch 2017

TÌNH HIỆP NHẤT

Hiệp Nhất Kitô Giáo là ân sủng cần thiết trong đời sống Kitô hữu, Giáo Hội mời gọi chúng ta tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban hồng ân này để tất cả mọi Kitô hữu biết sống trung thành với giáo huấn của Chúa, bằng nỗ lực cầu nguyện không ngừng và thể hiện tình bác ái huynh đệ, nhờ đó mà phục hồi mối hiệp
hông của Giáo Hội, cũng như bằng việc hợp tác để có thể đối đầu với các thách đố mà nhân loại đang gặp phải – nhất là trong thời đại ngày nay có nhiều mối chia rẽ.

Thánh Phaolô đã kêu gọi mọi người hiệp nhất: “Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau. Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4:3-6). Lời kêu gọi này cần để thức tỉnh người xưa, nhưng ngày nay vẫn thực sự cần lời mời gọi này – thậm chí còn cần hơn ngày xưa nữa.

HIỆP NHẤT THIÊN CHÚA

Trang All-About-The-Virgin-Mary.com có đề cập vấn đề Hiệp Nhất Bản Thể (Hypostatic Union). Đó là sự kết hợp của nhân tính và thần tính trong Ngôi Lời – Thiên Chúa Ngôi Hai, Đức Giêsu Kitô. Tính từ “hypotatic” có nguồn gốc từ Hy ngữ là “hupóstasis”, nghĩa đen là “nền tảng”. Các triết gia Hy Lạp dùng thuật ngữ này để diễn tả thực tế khi đối nghịch với bề ngoài. Hiệp nhất bản thể là thuật ngữ thần học dùng để định nghĩa Mầu Nhiệm Nhập Thể. Giáo Hội xác định niềm tin vào sự Nhập Thể là nền tảng Giáo lý Công giáo: Thần tính và Nhân tính của Đức Kitô được kết hợp về bản thể, kết hợp với Con Người Thiên Chúa (Divine Person, De Fide). Thánh Phaolô nói: “Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa” (Dt 1:3a).

Do đó, Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và Con Người thật. Khoảnh khắc này trong lịch sử của con người xảy ra trong khi Truyền Tin, Sứ thần Gabriel giới thiệu Kế Hoạch của Thiên Chúa cho Trinh Nữ Maria. Khi Đức Mẹ nói lời “xin vâng” (fiat) với những từ mang tính quyết định: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1:38), qua tác động siêu nhiên của Chúa Thánh Thần, Con Thiên Chúa đã ngự vào cung lòng Trinh Nữ. Như vậy là hoàn tất lời tiên tri của Ngôn sứ Isaia về việc thụ thai mà vẫn đồng trinh và sinh con được gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.

Khi Chúa Giêsu ngự vào cung lòng Trinh Nữ, có vài điều xảy ra ngay lập tức và cùng một lúc: Linh hồn con người của Đức Kitô được Chúa Cha tác thành; linh hồn con người đó được truyền vào và kết hợp với thân thể đã được chuẩn bị đặc biệt cho sự kết hiệp đó bằng tác động siêu nhiên của Chúa Thánh Thần; và nhân tính được nhận lấy nơi Ngôi Hai, Ngôi Lời của Thiên Chúa.

Lưu ý động thái NGAY LẬP TỨC và CÙNG MỘT LÚC. Mọi hành động xảy ra đồng thời, không hành động nào trước hoặc sau. Thánh Grêgôriô viết: “Nhân tính của Đức Kitô không có trước rồi sau đó Ngôi Lời mới nhận lãnh, nhưng được tạo tác ngay khi được nhận lãnh”.

Đức Giêsu Kitô là thiên chúa hoàn hảo và Con Người hoàn hảo. Vì Ngôi Lời là Thiên Chúa hoàn hảo, tiếp theo là nhân tính của chúa giêsu cũng hoàn hảo. Khi bùng nổ tranh luận trong Giáo Hội thời sơ khai vì giáo huấn sai lệch của Nestorius (1), Công đồng Êphêsô (năm 431) tuyên bố Đức Trinh Nữ Maria là Theotókos (Θεοτόκος – Người mang Thiên Chúa, Mẹ Thiên Chúa), chứ không chỉ là Christokos (ξριστοκος – Người mang Đức Kitô, Mẹ của Đức Kitô). Tà thuyết của Nestorius là sai lầm vì khái niệm về sự hiệp nhất bản thể và giải thích rằng Đức Mẹ chỉ mang nhân tính của Ngôi Lời trong cung lòng chứ không mang toàn bộ Ngôi Lời có hai bản tính.

Về bản chất, tà thuyết Nestorius cho rằng có hai con người riêng biệt để diễn tả Ngôi Lời. Họ tin một cách sai lầm rằng có một Thiên Chúa là Con Thiên Chúa và một con người khác là Con Người, con của Đức Maria. Với họ, hai con người này chỉ kết hợp về luân lý, và vai trò của Đấng Cứu Độ là phù hợp với Con Người của Đức Kitô!

Sau đó, một người tên là Eutyches lo sợ với niềm tin lệch lạc này của tà thuyết Nestorius và quy định cách hiểu riêng, cho rằng Ngôi Lời chỉ gồm một người nhưng cũng có một bản tính, một bản tính kết hợp cả yếu tố thần linh và phàm nhân. Đó là tà thuyết Monophysitism (2), do chữ monophysis – nghĩa là một người và một bản tính. Như vậy, Ngôi Lời không hoàn toàn là Thiên Chúa và cũng không hoàn toàn là Con Người, mà là nửa này nửa kia.

Đối với họ, nhân tính của Đức Kitô được thần tính biến đổi hoặc thu hút. Có lầm lẫn chăng? Một số người đi xa hơn và nói rằng sự kết hợp hai bản tính thành một sẽ tạo nên bản tính thứ ba! Các tà thuyết này hoàn toàn bị Giáo Hội Công giáo bác bỏ tại Công đồng Chalcedon (năm 451) và dẫn đến việc hình thành Tín Điều Chalcedon.

Các tà thuyết lớn này đặt vấn đề về sự kết hợp thần tính và nhân tính trong Ngôi Lời và có nhiều cách diễn tả khác nhau. Tà thuyết Kitô giáo này nổi tiếng trong là tà thuyết Arian (3). Constantine là một người theo tà thuyết Arian, như đa số quân đội La Mã – mặc dù ông ta vẫn ủng hộ Kitô giáo cùng với nỗ lực của người mẹ (Thánh Helena) thu gom và duy trì nhiều thánh tích, kể cả thánh tích Thánh Giá thật – và gia nhập Công giáo trước khi chết. Thánh Athanasiô đã dành nhiều thời gian giảng thuyết chống lại tà thuyết Arian, có lúc có lời thề hứa trung tín của hơn một nửa thế giới Kitô giáo.

Khi còn tại thế, Chúa Giêsu đã chịu đựng những điều như nhân loại phải chịu. Ngài đã chịu sinh ra trong hoàn cảnh nghèo nàn, nhận sự bảo bọc của Thánh Gia. Ngài lao động, cầu nguyện, ăn uống, sinh hoạt bình thường như chúng ta… và cũng học hỏi Kinh Thánh. Ngài trở thành thợ mộc theo cách hướng dẫn và sự giám hộ của Dưỡng Phụ là Đức Thánh Giuse. Qua động thái bí nhiệm, thần tính của Ngài có thể “bị đè nén” đến nỗi Ngài chỉ biết Chúa Cha đã chọn cách mặc khải cho Ngài trong những hoàn cảnh riêng.

Chúa Giêsu cũng mỏi mệt (Ga 4:6), cũng bật khóc vì thương Ladarô (Ga 11:35), rồi mới cho Ladarô sống lại, Ngài cũng nếm trải sự rùng mình vì bị Satan cám dỗ (trước khi Ngài rao giảng công khai) để cho chúng ta thấy cách chiến đấu trong những tình huống tương tự. Đặc biệt là Ngài đã chịu cuộc khổ nạn và đau khổ dữ dội cho đến chết. Chỉ sau khi chịu khổ nạn và chịu chết, Chúa Giêsu mới được lãnh nhận vinh quang.

Sự hiệp nhất bản thể sẽ kéo dài đời đời. Đó không là điều được “thiết kế” chỉ cho thời đại mà Đức Kitô – khi còn trên thế gian – để Ngài gánh tội của chúng ta và làm cho Mình, Máu, Linh hồn, và Thần tính nguôi ngoai nhu cầu về Công lý Thiên Chúa (Divine Justice). Như vậy, Thiên Chúa Giêsu có thể làm mọi thứ, Ngài cũng thể hiện về bản thể – Mình, Máu, Linh hồn và Thần tính – trong mọi của lễ được thánh hóa và trong mọi Nhà Tạm trên khắp thế giới, nơi Ngài luôn chờ đợi chúng ta kết hiệp với Ngài.

HIỆP NHẤT DÂN CHÚA

Trong Thánh Lễ kính Thánh Danh Đức Maria năm 2016, ĐGH Phanxicô đã nói: “Sự chia rẽ đã phá hoại Hội Thánh và ma quỷ nỗ lực tấn công vào gốc rễ của sự hiệp nhất, gốc rễ của sự hiệp nhất là việc cử hành Thánh Lễ. Tôi nài xin anh chị em hãy làm tất cả những gì có thể để đừng phá hoại Hội Thánh với những chia rẽ về tư tưởng, tham vọng… Trên tất cả, hãy cầu nguyện và bảo vệ cội rễ hiệp nhất của Hội Thánh là thân thể Đức Kitô. Đó là, hàng ngày chúng ta cùng nhau hiệp dâng lễ hy sinh của Chúa Kitô trong Thánh Lễ”. Sống hiệp nhất là sống chứng nhân, rất cần thể hiện mỗi ngày đối với mọi Kitô hữu.

Đề cập “Bữa Tiệc của Chúa”, Thánh Phaolô nói: “Nhân lúc đưa ra các chỉ thị này, tôi chẳng khen anh em đâu, vì những buổi họp của anh em không đem lại lợi ích gì, mà chỉ gây hại. Thật thế, trước tiên tôi nghe rằng khi họp cộng đoàn, anh em chia rẽ nhau, và tôi tin là điều ấy có phần nào đúng. Những sự chia rẽ giữa anh em, thế nào cũng có, nhưng nhờ vậy mới rõ ai là người đạo đức chắc chắn” (1 Cr 11:17-19 – x. Mt 26: 26-29; Mc 14:22-25; Lc 22:14-20).

Ngày nay cũng vẫn có những mối chia rẽ tinh vi trong các cộng đoàn, với danh nghĩa tốt lành nhưng bên trong đôi khi lại không hẳn như vậy, vì có những rạn nứt hoặc bè phái. Nói chung, “cái tôi” vẫn lớn quá, thế nên nó muốn “nổi trội” hơn và muốn “đè bẹp” người khác.

Ngày 21-11-1964, ĐGH Phaolô VI đã ban hành Sắc Lệnh về Hiệp Nhất – “Unitatis Redintegratio” (Phục Hồi Hiệp Nhất). Ngay đầu Chương I, Các Nguyên Tắc Công Giáo về Hiệp Nhất, sắc lệnh này nói về Giáo Hội hiệp nhất và duy nhất: “Tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta đã hiển hiện trong việc Con Một Thiên Chúa đã được Chúa Cha sai đến thế gian, để một khi hóa thân làm người, Người tái sinh toàn thể nhân loại bằng cách cứu chuộc họ và đoàn tụ họ nên một. Trước khi tự hiến làm lễ vật tinh tuyền trên thánh giá, Người đã cầu cùng Chúa Cha cho các tín hữu rằng: ‘Xin cho hết thảy được hiệp nhất như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha vậy, để chính họ cũng được nên một trong Ta và cho thế gian tin rằng Cha đã sai Con’ (Ga 17:21). Người đã thiết lập trong Giáo Hội của Người nhiệm tích Thánh Thể kỳ diệu, vừa là dấu chỉ vừa thể hiện sự hiệp nhất của Giáo Hội. Người ban cho các môn đệ Người một giới răn mới là tình yêu thương nhau, và hứa ban Thánh Thần an ủi, Ðấng vừa là Chúa vừa ban sự sống để ở với họ mãi mãi”.

Kinh Thánh cho biết: “Giêrusalem khác nào đô thị được xây nên một khối vẹn toàn. Từng chi tộc, chi tộc của Chúa, trẩy hội lên đền ở nơi đây, để danh Chúa, họ cùng xưng tụng” (Tv 122:3). Nói về Đền Thờ Giêrusalem, tòa nhà vật chất, nhưng ám chỉ sự hiệp nhất của Giáo Hội – duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền. Sự hiệp nhất không chỉ là tình trạng cần thiết mà còn là một mối phúc, như Kinh Thánh ca tụng về sự hòa thuận – tức là một dạng hiệp nhất: “Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau” (Tv 133:1).

TRẦM THIÊN THU

CHÚ THÍCH:

(1) NESTORIUS (Nestorian Church): một Giáo Hội Kitô giáo xuất hiện sau khi Nestorius bị lên án tại Công đồng chung Êphêsô năm 431. Nhờ nỗ lực của Ibas, Giám mục thành Êphêsô từ năm 435, và Barsumas, Giám mục thành Nisibis từ năm 457, học thuyết Nestorius hay học thuyết cảnh giáo được phát triển thành một thần học đầy đủ và chuyển đến Persia và Tiểu Á, nơi một giáo phái nhỏ nhưng có ảnh hưởng được thành lập. Giáo Hội Nestorius vẫn tồn tại ngày nay với tên gọi là Kitô hữu Assyria.

(2) MONOPHYSITISM: Nhất tính thuyết, Kitô nhất tính luận. Hệ thống (tư tưởng) có tính lịch sử nổi lên vào thế kỷ thứ năm, chủ trương rằng nơi Chúa Kitô chỉ có một bản tính. Đó là một cách phản ứng lại Cảnh Giáo (Giáo thuyết Nestorius), một chủ thuyết cho rằng Chúa Kitô có hai ngôi vị. Một trong những nhà Nhất Tính Thuyết sơ khởi là Eutyches (378-454), đan viện trưởng một đan viện gần Constantinople.

Trong nỗ lực để bảo vệ duy nhất tính của Ngôi Lời Nhập Thể, ông đã chủ trương bác bỏ nhân tính của Chúa Kitô. Những nhà nhất tính thuyết khác đề cập đến một bản tính duy nhất kết hợp cả nhân tính và thần tính. Bị kết án bởi Công Đồng Chalcedon năm 451, nhất tính thuyết vẫn còn thịnh hành ở Đông phương, nhất là những người thuộc nghi lễ Copt và những người thuộc phái Jacobite ở Syria. Nguyên ngữ Hy Lạp, monos: đơn nhất, chỉ một + physis: bản tính.

(3) ARIANISM: Thuyết của Arius, thế kỷ IV, cho rằng chỉ có Thiên Chúa là bất biến và tự hữu, nhưng Ngôi Con không là Thiên Chúa mà chỉ là phàm nhân. Thuyết này từ chối thiên tính của Chúa Giêsu. Công đồng Nicaea (AD 325) đã kết án Arius và tuyên bố “Ngôi Con đồng bản thể với Đức Chúa Cha”. Thuyết Arian được nhiều người bảo vệ tiếp 50 năm sau, nhưng cuối cùng cũng sụp đổ khi các hoàng đế Kitô giáo của Rome Gratian và Theodosius lên ngôi.

Công đồng Constantinople đầu tiên (năm 381) đã phê chuẩn Tín điều của Công đồng Nicê và cấm tà thuyết Arian. Nhưng tà thuyết này vẫn tiếp tục trong các bộ lạc ở Đức suốt thế kỷ VII, và các niềm tin tương tự được duy trì đến ngày nay bởi tổ chức Nhân chứng của Giavê (Jehovah's Witnesses) và bởi một số người theo thuyết Nhất Vi Luận (Unitarianism), tương tự Tam Vị Nhất Thể – Một Chúa Ba Ngôi.

XUÂN MẸ

Đón Xuân Đinh Dậu, quyết tâm mến Chúa, “xin vâng” với Đức Mẹ
Mừng Tết Gia Đình, thành thật yêu người, tín thác vào Chúa Trời

***

Năm cũ qua, năm mới đến; mùa Đông đi, mùa Xuân về. Xuân là Tết. Mọi thứ đều khác lạ, có nhiều cảm xúc và có nhiều điều để nói – cả đời thường và tâm linh…

Không biết ngẫu nhiên hay cố ý mà khi kết thúc ca khúc “Mùa Xuân Của Mẹ”, NS Trịnh Lâm Ngân đã xác định: “Chỉ bên Mẹ là Mùa Xuân thôi!”. Một cảm nhận thật chính xác và khôn tả. Xuân Mẹ thật tuyệt vời! Vâng, Mẹ rất diệu kỳ, Mẹ không nói, nhưng ánh mắt Mẹ thăm thẳm vẫn luôn chứa đựng nhiều thứ mà con cái không bao giờ hiểu hết. Khi con cái hiểu được thì… đã muộn rồi!

Người đời cảm nhận được Tình Mẫu Tử tuyệt vời, có Mẹ là có Mùa Xuân nên vẫn ca tụng Mẹ là Mùa Xuân. Với người Công giáo, chúng ta có một Người-Mẹ-của-các-người-mẹ là Đức Maria, một trinh nữ tuyệt vời với biết bao danh xưng cao trọng.

Với tâm tình của người con dành cho Mẹ trong ngày Xuân, cố Nhạc sư Hùng Lân đã bày tỏ lòng hiếu thảo thánh đức qua bài Thánh ca “Mẹ Là Mùa Xuân”. Ông sáng tác bài Thánh ca này năm 1946, cấu trúc là hai phần đơn giản. Phần 1 được viết ở âm thể Thứ để nói lên lòng tha thiết tôn kính dành cho Đức Mẹ, nhưng giai điệu không sầu thảm mà vẫn “sáng”; phần 2 được viết ở âm thể Trưởng thể hiện niềm hy vọng ngời sáng.

Ông là người chủ trương viết giản dị để mang tính cộng đồng, thế nhưng ca từ của ông luôn đầy chất thơ rất “đắt” và vần điệu rất chỉnh, cả tiết tấu và giai điệu đều đơn giản nhưng luôn mượt mà. Ông quả là bậc thầy về cả ca từ và giai điệu. Tôi thấy mình có chút may mắn được thụ giáo ông một thời gian, dù tôi chỉ là một trong vài học trò cuối cùng của cuộc đời ông – một người âm thầm theo Chúa và phục vụ Giáo hội bằng con đường âm nhạc.

Mở đầu, ông ca tụng Đức Mẹ là những gì tốt lành nhất: “Ôi Maria! Mẹ là Mùa Xuân Ánh Sáng, Mẹ là Cửa Son Đền Vàng, Bến Lành vào Quê Bình An”. Rồi ông chân nhận thân phận phàm nhân: “Ôi Maria! Dẫu rằng đời con lầm than, bóng tội mờ che trần gian, sức hèn con ngã nhiều phen”. Kiếp người lận đận sớm chiều, tội lỗi ngập đầu, hèn yếu vô cùng. Muốn vươn lên mà cứ xập xụi mãi, Mẹ ơi!

Thân phận con người là thế, nhưng không vì vậy mà thất vọng, ngược lại vẫn một lòng tin tưởng và trông cậy và cố gắng hướng thượng: “Nhưng con luôn trông đến ngày tàn phai mùa Đông, ánh vàng Sự Rỗi reo mừng, hoa trái đau thương lựng hương. Ban ơn cho con, biết tìm ngọt trong sầu than, biết tìm mạnh trong nguy nàn, biết có Xuân trên Đông tàn”.

Ca từ đầy chất cầu nguyện và tích cực: Tìm NGỌT trong SẦU THAN, tìm MẠNH trong NGUY NÀN (nguy nan), vì biết chắc có mùa Xuân tươi đẹp trên mùa Đông tàn tạ. Hy vọng là đó, mong sống trọn kiếp nhân sinh cho hết cuộc lữ hành trần gian này.

Đức tin bừng sáng, đức Cậy vững vàng, và đức Mến nồng nàn. Có Chúa là có Mẹ, có Mẹ là có Chúa. Đó là Mùa Xuân tuyệt diệu, ai cũng khao khát khôn nguôi, hy vọng dạt dào: “Mẹ là Mùa Xuân đem sức thiêng cho cõi lòng, Mẹ là Mùa Xuân muôn kiếp muôn dân đợi trông, Mẹ là Mùa Xuân bất diệt trên cõi hằng sống, giúp con vượt đời, trông về cõi phúc vô song”.

Vâng, Mẹ ơi, chúng con chỉ mong có vậy thôi: Cõi Phúc Vô Song. Mẹ là nguồn cậy trông, Mẹ tuyệt mỹ, chúng con nhờ Mẹ để đến với Chúa Giêsu Con yêu Dấu của mẹ, và là Đấng Cứu Độ của chúng ta. Những sự hy sinh, những sự chịu đựng, và cả những lỗi lầm khốn nạn của chúng ta nữa, đó là Quà Xuân chúng ta có thể chân thành Tết Mẹ. Xin Mẹ thương nhận mà tha thứ và che chở chúng ta hôm nay và suốt đời.

Và còn rất nhiều “món quà” khác chúng ta cũng phải tết Mẹ hôm nay và suốt cuộc sống trần gian này…

Đức Mẹ Maria là Người Nữ Can Trường (Cn 31), là Người Nữ trong sách Khải Huyền (Kh 12) tiến vào cuộc chiến vĩ đại chống con rồng hoả ngục, là người không sợ hãi gì, như đạo quân sắp hàng vào trận, mang hàng ngàn thuẫn chắn (Dc 4:4; Dc 6:4).

Trong lời nguyện tại lễ bế mạc Năm Thánh kính Đức Mẹ, ngày 15-8-1988, Thánh GH Gioan Phaolô II đã nói: “Đức Mẹ là Người Nữ mảnh khảnh mà bền vững vô cùng làm cho lòng chúng ta vui mừng vững vàng vì chắc chắn rằng Con Rồng ấy không mạnh hơn Bà Đẹp tuyệt vời. Chúng ta hãy luôn bám chặt lấy Mẹ”.

Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu nói với Thánh Gioan: “Đây là Mẹ con” (Ga 19:27). Điều đó xác định Đức Mẹ là Mẹ của Giáo hội, Mẹ của chúng ta. Quả thật, chúng ta vô cùng hạnh phúc, vì được làm con Mẹ và được Tết Mẹ trong ngày tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam, và tin tưởng sẽ được sum họp với Chúa và Mẹ trên Cõi Trường Sinh.

Chắc chắn rằng chẳng có mùa Xuân nào tuyệt vời bằng Mùa Xuân Mẹ. Vâng Xuân Mẹ vô cùng kỳ diệu!

Lạy Mẹ là Mùa Xuân Ánh Sáng, xin giúp chúng con mến Chúa và yêu người, đồng thời luôn biết “xin vâng” như Mẹ trong mọi hoàn cảnh. Xin cảm tạ Mẹ đã ban bao ơn lành hồn xác cho chúng con trong năm qua, xin tha thứ những thiếu sót của chúng con. Xin giúp chúng con biết siêng năng lần hạt Mân Côi hằng ngày, luôn thể hiện yêu thương và khiêm nhường ngay từ trong ý nghĩ, đúng như Con Chúa đã truyền dạy. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU (Học trò của Nhạc sư Hùng Lân)

(*) Hùng Lân (1922-1986) là tác giả những ca khúc nổi tiếng như Hè Về, Khỏe Vì Nước, Việt Nam Minh Châu Trời Đông (đảng ca của Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng), Hận Trương Chi, Xóm Nghèo, Non Nước, Em Yêu Ai?, Thằng Tí Sún, Rước Đèn Trung Thu, Ông Ninh Ông Nang,… Ông là giáo sư giảng dạy âm nhạc uy tín và là người khởi xướng dùng Việt ngữ để hát Thánh ca, ông cũng là tác giả đặt lời Việt cho bài “Stille Nacht, Heilige Nacht” (nguyên gốc Đức ngữ, bản Anh ngữ là “Silent Night, Holy Night”) nổi tiếng với tựa đề “Đêm Thánh Vô Cùng”, và nhiều bài Thánh ca phổ biến như Lên Núi Sion, Con Nay Trở Về, Thắp Ngọn nến Hồng, Bài Ca Vạn Vật, Trường Ca Phục Sinh (7 đoạn), Tôi Không Còn Cô Đơn, Dâng Hồn Xác, Một Sợi Tơ Vàng,…

+ Thưởng thức các ca khúc:

1. Mùa Xuân của Mẹ : https://www.youtube.com/watch?v=c2yNtHzS8AI
2. Mẹ Là Mùa Xuân : http://www.youtube.com/watch?v=szQoTkYzNsU

TIẾNG GÁY YÊU THƯƠNG

Con Gà gáy tiếng yêu thương
Gọi người thức giấc lên nương, ra đồng
Chuyên cần lao động không ngừng
Gia đình hạnh phúc, vui mừng sớm khuya

Con Gà gáy ó ò o…
Bảo người đừng quá lắng lo chuyện đời
Chúa Trời tiền định rạch ròi
Chim kia vẫn cứ thảnh thơi no lòng (1)
Tóc kia Chúa định rõ ràng
Khi đen, khi trắng, nhẹ nhàng rụng rơi (2)

Tiếng Gà nhắn nhủ yêu đời
Yêu hết mọi người như Chúa truyền ban
Nhưng đừng bới chuyện thế gian
Mừng Xuân, vui Tết, cả năm đầy tình

TRẦM THIÊN THU
Đón Xuân Đinh Dậu – 2017

(1) Mt 6:26 – “Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao?”.

(2) Mt 10:30; Lc 12:7 – “Ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi”. [2 Sm 14:11 – “Không một sợi tóc nào của con trai ngươi sẽ rơi xuống đất!”].

 

ĐOẢN XUÂN CA

Xuân dài hay ngắn? Chẳng ai biết. Dài cũng là mùa Xuân, ngắn cũng là mùa Xuân. Khoảng thời gian vẫn thế, chẳng ai là phàm nhân có thể thay đổi được.

Mùa Xuân dài hay ngắn, tùy theo cách cảm nhận của con người. Người vui thấy mùa Xuân dài, người buồn thấy mùa Xuân ngắn. Nhưng ngắn hay dài cũng không phải là “thước đo” nỗi vui hay buồn. Dài chưa chắc là vui, và ngược lại. Ngắn chưa chắc là buồn, và ngược lại.

Với NS Thanh Sơn (1), không biết ông vui hay buồn, nhưng cách nhìn của ông là mùa xuân “không dài”, nghĩa là “mùa Xuân ngắn”. Có lẽ vì thế mà ông viết ca khúc “Đoản Xuân Ca”, nghĩa là “bài ca ngắn của mùa Xuân”.

Ca khúc này được viết ở âm thể Trưởng, với nhịp 2/4 và tiết tấu nhanh, nghe thật rộn ràng. Tiết tấu “không lạ”, không hề đảo phách hoặc nghịch phách, nhưng người nghe vẫn cảm thấy có cái gì đó “khác”. Đó là kiểu cách tân của nhạc sĩ. Âm nhạc chỉ có 7 nốt, với các dạng biến tấu là các dấu thăng hoặc dấu giáng, nhưng vẫn chỉ là 7 nốt. Trường độ nốt nhạc cũng chỉ phổ biến là nốt trắng, nốt đen, nốt móc đơn hoặc móc đôi, nhưng cách kết hợp khéo léo có thể chứng tỏ tài năng của nhạc sĩ.

Ông giới thiệu mùa Xuân rất bình thường, hoàn toàn tự nhiên: “Nghe Xuân sang thấy trong lòng mình chứa chan, tiếng pháo vui vang đó đây ôi rộn ràng, kìa mùa Xuân đang đến trước thềm, gần xa điệu nhạc Xuân đến, như bước chân tô đẹp thêm”.

Cái “lạ” là nhạc sĩ “nghe” được mùa Xuân sang và “thấy” mùa Xuân ở ngay trước thềm nhà. Chưa ai “thấy” mùa Xuân thế nào chứ đừng nói “nghe”, thế nhưng điều ông nói ra vẫn rất thật. Thế mới lạ. Thực ra “nghe” hoặc “thấy” cũng chỉ là cảm giác, chứ Xuân vẫn là Xuân, tết vẫn là Tết, không hề khác, khác là do con người mà thôi. Xuân là cái không-mà-có, và là cái có-mà-không. Đó là triết-lý-thật trong cuộc sống loài người.

Có khả năng cảm nhận được mùa Xuân nên ông vừa tâm sự với mùa Xuân vừa mời gọi mọi người mừng Xuân: “Xuân ơi Xuân vẫn muôn đời yêu mến Xuân, nhấp chén vui ta chúc nhau ly rượu mừng”. Mừng nhau bằng những điều rất thực tế: “Ngày đầu năm hạnh phúc phát tài, người người gặp nhiều duyên may, Xuân thắm tươi hương nồng say”. Say men rượu, say men tình nghĩa, say men hạnh phúc. Đó là tận hưởng mùa Xuân, dù giàu hay nghèo cũng như nhau thôi.

Ai cũng phải làm việc để sống, nhưng đáng thương là những người phải tha phương cầu thực: “Ai xuôi ngược trên khắp nẻo quê hương, nhớ quay về vui đón mùa Xuân yêu thương”. Người không đi xa thì cũng khó cảm thấy cảm giác “trở về”, nhưng người đã từng đi xa mới hiểu được thế nào là niềm vui “về sum họp”, nhất là vào những ngày Xuân – những ngày thực sự linh thiêng. Cảm giác đó rất rõ rệt: “Lòng dạt dào hồn Xuân nao nao, thật tuyệt vời mùa Xuân thanh cao, ta chúc nhau những gì đẹp nhất lòng nhau”. Tất nhiên lời chúc nhau an lành vẫn là lời chúc tốt đẹp nhất trong mùa Xuân dành cho nhau.

Không ai nghe được âm thanh mùa Xuân thế nào, chẳng ai thấy được vóc dáng mùa Xuân ra sao, nhưng ai cũng cảm nhận được mùa Xuân. Thế mới lạ. Nhưng điều đó rõ ràng như ban ngày: “Đôi uyên ương sánh vai nhịp nhàng thắm xinh, dưới nắng Xuân trông bướm hoa đang tỏ tình”. Tình yêu không chỉ đơn thuần là tình yêu đôi lứa, mà còn là tình người, tình đồng loại, tình phu thê, tình phụ tử, tình mẫu tử, tình huynh đệ, tình bằng hữu, tình láng giềng, tình xóm làng,…

Cuộc đời tuy nhiều gian khổ nhưng vẫn may mắn. Tại sao? Vì “còn mùa Xuân đem vui đất trời, còn nụ cười nở trên môi”, do đó mà “nhân thế luôn mong đợi Xuân”. Một câu kết thật hay. Đó là sự mong chờ chan chứa niềm hy vọng, nghĩa là còn cảm thấy hạnh phúc đang “chảy” trong châu thân, trong chính huyết quản và tâm hồn mình. Xin cảm ơn cuộc đời, xin cảm ơn con người, xin cảm ơn tất cả!

Dù là “Đoản Ca Xuân” nhưng thực ra có thể nói là “Trường Ca Xuân”, vì mùa Xuân tuy ngắn mà lại rất dài, nếu mùa Xuân không dài thì người ta không thể nào tiếp tục sống được. Cách diễn tả mùa Xuân của NS Thanh Sơn thật khéo léo, và cũng thật khiêm nhường!

Âm nhạc thật kỳ diệu, nó có thể biến người ta đang buồn thành vui, đang vui thành buồn. Âm nhạc là quốc tế ngữ, ai cũng có thể hiểu theo cảm nhận riêng mình, đồng thời cũng có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực (2). Âm nhạc cũng có sứ vụ riêng, như danh nhân Nguyễn Trãi đã xác định: “Dùng nhạc không phải để vui chơi, mà chính là để uốn nắn lòng người và chăm lo đời sống”. Thật vậy, âm nhạc cần lắm, chứ không đơn giản như người ta tưởng!

Mùa Xuân dài hay ngắn cũng vẫn là Xuân, cuộc đời cũng vậy, sống lâu hay mau (đời dài hay ngắn) cũng vẫn là cuộc đời, tức là cuộc sống tùy vào “chiều sâu” chứ không tùy vào “chiều dài”.

Âm nhạc không chỉ quan trọng trong cuộc sống mà còn quan trọng trong các nghi lễ tôn giáo, cách riêng đối với Công giáo. Nhạc Bình Ca được Giáo hội Công giáo đề cao, người tiên phong là ĐGH Grêgôriô. Thánh Phaolô cũng khuyên: “Để tỏ lòng biết ơn, anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa những bài thánh vịnh, thánh thithánh ca do Thần Khí linh hứng” (Cl 3:16).

Nói đến âm nhạc thì không thể không nhắc tới nhạc sĩ, nhưng nhạc sĩ thường là người bị lãng quên. Sách Khải huyền cũng nhắc tới nhạc sĩ 2 lần: “Tôi nghe thấy tiếng từ trời như tiếng nước lũ, như tiếng sấm lớn. Tiếng tôi nghe thấy tựa hồ tiếng những nhạc sĩ vừa gảy đàn vừa hát” (Kh 14:2), và “Trong thành ngươi, sẽ chẳng bao giờ còn nghe tiếng nhạc sĩ gảy đàn, ca hát, thổi sáo và thổi kèn” (Kh 18:22). Như vậy, đâu phải là “xướng ca vô loài” như người ta vẫn “kết tội” cho những người có “máu nhạc”!

Điển hình là xưa nay âm nhạc vẫn luôn được sử dụng trong các giờ phụng vụ, đặc biệt là trong các Thánh lễ. Cuộc đời có thể là đoản ca Xuân hoặc trường ca Xuân, nhưng chắc chắn rằng Thiên Chúa là Trường Ca Xuân.

TRẦM THIÊN THU

(1) NS Thanh Sơn sinh ngày 1-5-1938 tại Sóc Trăng, là con thứ mười trong một gia đình có 12 anh chị em. tên thật Lê Văn Thiện. Ông được biết đến từ thập niên 1960 với những ca khúc trữ tình nói về tuổi học trò, khoảng thời gian sau, ông nổi tiếng là “nhạc sĩ của miền Tây” với những bài nhạc mang âm hưởng dân ca Nam bộ và với dòng nhạc Boléro.

Ông lớn lên ở Sóc Trăng, với một lòng ưa thích ca hát. Ông học nhạc từ hồi tiểu học với thầy NS Võ Đức Phấn (em ruột NS Võ Đức Thu). Năm 1955, thầy Phấn mất, ông lên Saigon học nhạc với thầy NS Lê Thương và nuôi ước mơ trở thành ca sĩ. Tại Saigon, ông đã phải làm nhiều công việc như làm thuê, ở mướn,...

Năm 1959, ông đăng ký tham dự cuộc tuyển lựa ca sĩ của Đài Phát Thanh Saigon và đoạt giải nhất. Ban giám khảo cuộc thi đó có những tên tuổi như Dương Thiệu Tước, Võ Đức Thu, Thẩm Oánh, Nghiêm Phú Thi. Sau khi đoạt giải, ông được mời đi hát trong ban Tiếng Tơ Đồng của NS Hoàng Trọng.

Sau khi đã là ca sĩ, ông mày mò học sáng tác nhạc với cuốn “Để Sáng Tác Một Ca Khúc” của NS Hoàng Thi Thơ. Những người giúp đỡ ông trong giai đoạn này có các NS Hoàng Trọng, Nguyễn Hiền, Văn Phụng,...

Ca khúc đầu tiên của ông là “Tình Học Sinh”, viết năm 1962, tuy nhiên chẳng được lưu ý. Đến năm sau, “Nỗi Buồn Hoa Phượng” ra đời và trở thành một trong những ca khúc nổi tiếng nhất viết về mùa hè thời đó. Tiếp theo là những ca khúc viết về đề tài học sinh: Ba Tháng Tạ Từ, Màu Áo Hoa Phượng, Lưu Bút Ngày Xanh, Hạ Buồn, Phượng buồn, Ve Sầu Mùa Phượng,... Ngoài ra còn có các nhạc phẩm trữ tình: Mùa Hoa Anh Đào, Nhật Ký Đời Tôi, Trả Lại Thời Gian, Thương Ca Mùa Hạ, Thương Về Cố Đô, Vầng Trán Suy Tư, Gởi Cố Nhân Đôi Lời,... Các ca khúc này được nhiều tầng lớp khán giả đón nhận.

Năm 1963, ông bỏ hẳn nghề ca sĩ để chuyên tâm sáng tác. Từ năm 1973, nhạc của ông bắt đầu chuyển hướng sang đề tài quê hương. Từ thập niên 1990, những ca khúc mang âm hưởng dân ca của ông được đón nhận, gợi mở cho ông một hướng sáng tác mới đó là tiếp tục khai thác chất liệu dân ca Nam bộ. Nhạc của ông lúc này chú trọng về ca từ, trong bài có nhiều âm sắc, phương ngữ đặc trưng Nam bộ. Nhiều bài hát trong giai đoạn này trở nên rất nổi tiếng như Hình Bóng Quê Nhà, Hành Trình Trên Đất Phù Sa, Bạc Liêu Hoài Cổ, Áo Trắng Gò Công, Gợi Nhớ Quê Hương, Hương Tóc Mạ Non, Non Nước Hữu Tình,...

Từ năm 2000, ông làm phụ trách biên tập chương trình cho Trung tâm Băng nhạc Rạng Đông. Năm 2007, kỷ niệm sinh nhật 69 của NS Thanh Sơn, Nhà hát TPHCM đã tổ chức đêm nhạc mang tên ông. Năm 2009, ông có sang Hoa Kỳ để thực hiện cuộc phỏng vấn với Thúy Nga Paris By Night. Qua nhiều giai đoạn, ông đã viết trên 500 bài hát với nhiều bài trở nên quen thuộc trong công chúng.
Năm 2011 ông bị tai biến mạch máu não khi đang tham gia cùng trung tâm Thúy Nga thực hiện cuốn Paris By Night với chủ đề “Tình Sử Trong Âm Nhạc Việt Nam”. Sau một thời gian điều trị, ông qua đời lúc 14 giờ 30 ngày 4-4-2012 tại Saigon. Theo ý nguyện của NS Thanh Sơn lúc sinh thời, gia đình cùng thân bằng quyến thuộc đã đưa tiễn linh cữu ông về an táng tại đường nghệ sĩ của Hoa Viên Nghĩa Trang Bình Dương, thuộc xã Chánh Phú Hoà, huyện Bến Cát, Bình Dương, vào sáng ngày 9-4-2012.

(2) Nhạc sĩ Rulance (Pháp) đã sáng tác bản nhạc “Ngày Chủ Nhật Đen” (Black Sunday) vào năm 1932. Sau được đổi tên là “Lời Mời Của Ma Quỷ”. Nó tồn tại 13 năm và đã khiến hơn 100 thính giả tìm đến chốn Tây Thiên (chết, tự tử). Chưa nhà soạn nhạc hoặc chuyên gia tâm lý nào lý giải nổi tại sao ai nghe xong bản nhạc đó đều muốn chết. Các đài phát thanh và truyền hình Anh, Mỹ, Pháp và Tây ban nha đã phải tổ chức hội thảo đặc biệt để kêu gọi các nước Âu Mỹ ngăn chặn sự lan tràn của bản nhạc này. Mãi đến năm 1945, “Lời Mời Gọi Của Quỷ” mới bị hủy. NS Rulance hối hận và nói: “Không ngờ tác phẩm của con lại làm cho đồng loại đau khổ đến thế. Xin Chúa trừng phạt con ở thế giới bên kia”. Dù bản nhạc đó có ma lực kỳ diệu đến thế, nó vẫn là một kiệt tác, và hẳn ai cũng phải công nhận rằng NS Rulance thực sự là một tài năng đặc biệt, vĩ đại, phi thường và xuất chúng.

 

THIỆP XUÂN

Tấm thiệp được sử dụng nhiều trong các dịp lễ hội, đặc biệt là mùa Xuân, thậm chí thời @ còn được người ta dùng e-Card (điện thiệp, tương tự dạng e-Mail hoặc điện thư). Ở gần nhau, người ta trực tiếp chúc nhau. Ở xa nhau, người ta dùng thiệp để chúc nhau những điều tốt lành nhất.

Về tấm thiệp ngày Tết, NS Lê Dinh (*) đã sáng tác ca khúc “Cánh Thiệp Đầu Xuân” (với Ns Minh Kỳ là đồng tác giả). Ca khúc này được viết ở nhịp 4/4, âm thể Trưởng, với cấu trúc quen thuộc thời đó là A – A’ – B – A’’. Tiết tấu không cầu kỳ, chỉ có chút đảo phách như “điểm nhấn” nét vui của mùa Xuân. Giai điệu “sáng” và đẹp.

Ca từ cũng không trau chuốt, rất giản dị và mộc mạc: “Hoa lá nở thắm đẹp làn môi hồng, Xuân đến rồi đây nào ai biết không?”. Chính câu hỏi đó cũng là câu trả lời rồi. Nhưng ông không nhìn mùa Xuân qua dáng vẻ bề ngoài, mà qua nét nội tâm: “Mang những hoài mong đi vào ngày tháng, bao nhiêu mơ ước đến khi mùa Xuân sang”. Chắc chắn ai cũng tràn trề hy vọng và mơ ước cho một năm mới.

Có nhiều lời chúc, tùy người mà dùng lời chúc cho hợp cảnh, hợp tình. Ông cân nhắc: “Tôi chúc gì đây vào mùa Xuân này? Khi nắng vàng tươi nhuộm làn tóc ai, khi gió nhẹ lay hoa đào hồng thắm, trong khi Xuân ấm mới tô đẹp tháng năm”. Cũng dễ mà cũng khó, chúc cầu kỳ thì có vẻ “tiểu thuyết”, chúc thực tế thì có vẻ mất hay. Mỗi người mỗi ý thích, không đơn giản chút nào!

Thôi thì chúc những gì bình thường mà phổ biến, văn vẻ mà không là “sáo ngữ”, thực tế mà vẫn cần: “Tôi chúc muôn người mọi điều ước muốn, non nước vinh quang trong tia nắng thanh bình, để người anh yêu dấu quay về gia đình, tìm vui bên lửa ấm”. Chắc chắn ai cũng có những ước muốn. Và ước muốn thực tế nhất của thời chiến là niềm khao khát hòa bình luôn cháy bỏng trong mọi người – cả nhân dân và cả quân đội. Hòa bình lên ngôi thì mọi người an tâm vui Xuân, ăn Tết.

Chúc điều chung nhất cho mọi người, và điều riêng cho một giới nào đó. Mùa Xuân là mùa yêu thương, “cô gái xuân thì” chính là biểu hiện của mùa Xuân: “Tôi chúc yên lành người người khắp chốn, mong gió đưa duyên cho cô gái xuân thì, ước nguyện sao chóng thành rượu hồng xe duyên”. Đất nước an bình thì cô gái mới tin tưởng “cầu duyên”, và mới có thể hy vọng sớm cho mọi người uống rượu vui ngày vu quy.

Dù thế nào cũng vẫn phải hy vọng – hy vọng cho mình và cho mọi người khác, đơn giản là cho người yêu: “Tôi chúc ngày mai dầu đường xa vời, trai gái bền duyên đẹp tình lứa đôi, cho bướm vàng bay trên nẻo đường mới, vai trên vai những lúc tâm tình bên nhau”. Hạnh phúc lên ngôi và bền vững không chỉ cho cuộc tình riêng, mà còn cho mọi cuộc tình của bất kỳ ai. Tình yêu thắm nở thì lúc nào cuộc đời cũng có mùa Xuân, chứ không chỉ mấy ngày Tết mới có mùa Xuân.

Chúc cho người vui rồi thì cũng phải chúc cho người buồn, chúc cho người lớn và người nhỏ, chúc cho người gần và người xa: “Tôi chúc rồi đây người về phương nào, cho dẫu thời gian lạnh lùng lướt mau”. Ai cũng cần vui, ai cũng cần Xuân, ai cũng khát khao hạnh phúc. Không gì hơn là ai cũng được tận hưởng mùa Xuân trọn vẹn, và dù hoàn cảnh có thế nào thì tình nghĩa, dù là loại tình cảm nào, cũng vẫn phải trước sau như một: “Mong ước ngày sau như là ngày trước, tay trong tay nhớ lúc trao thiệp đầu Xuân”.

Thiệp Xuân là niềm mơ ước chân thành, và cũng là lời chúc tốt lành trao nhau ngày Xuân. Đó là niềm hạnh phúc trao nhau với cả tấm lòng, vì hạnh phúc không thể tận hưởng một mình, chí ít cũng phải có hai người, nghĩa là càng nhiều người càng tốt. Hạnh phúc như nước hoa, càng cho đi càng tỏa hương thơm, và hạnh phúc càng được nhân lên gấp bội.

Mùa Xuân đặc biệt lắm, chính Kinh thánh ví phúc lộc như mưa Xuân : “Long nhan rạng rỡ là bầy tôi được sống, ơn vua ban xuống như mây đổ mưa xuân” (Cn 16:15).

Kinh thánh không chú trọng mùa nào, dù là mùa Xuân, nhưng nhiều lần nhắc tới việc chúc phúc, chúc lành, chúc tụng – mà lời chúc có liên quan mùa Xuân. Chúa Giêsu căn dặn: “Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy” (Mt 10:12). Chúa Giêsu còn đòi hỏi gắt gao hơn, như một quy luật bắt buộc phải thi hành: “Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” (Lc 6:28). Thánh Phaolô cũng nói rõ: “Hãy chúc lành cho những người bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa: Vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12:14-15).

Quả thật, lời chúc rất quan trọng trong cuộc sống thường nhật, nhất là khi Tết đến, Xuân về.

Lời chúc còn có nghi thức khi chúc nhau. Chính Thiên Chúa truyền công thức chúc lành cho Môsê: “Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em! Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh (em) và dủ lòng thương anh em! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em!” (Ds 6:24-26). Chúc như thế là đặt con cái Ít-ra-en dưới quyền bảo trợ của Thánh Danh Thiên Chúa, và Thiên Chúa sẽ chúc lành cho dân chúng (x. Ds 6:27).

Ngày nay, các giáo xứ đều có thói quen tốt lành là “hái lộc đầu năm”. Các “lộc” đó là những câu rút ra từ Kinh thánh, gọi là Lộc Thánh. Câu Kinh thánh đó được tin là Ý Chúa, là lời nhắn nhủ của Chúa dành cho người “hái” được Lộc Thánh nào đó. Mà không chỉ mùa Xuân mới có Lộc Thánh, cộng đoàn Lòng Chúa Thương Xót (LCTX) vẫn thường xuyên cho những người tham dự giờ kinh LCTX được nhận Lộc Thánh sau giờ kinh hoặc sau Thánh lễ tôn kính LCTX.

Cánh thiệp đầu Xuân quan trọng lắm, nhưng Cánh Thiệp Lời Chúa mới thực sự quan trọng nhất.

TRẦM THIÊN THU

(*) Ns Lê Dinh tên thật là Lê Văn Dinh, sinh năm 1934 tại làng Vinh Hựu, tỉnh Gò Công (nay là tỉnh Tiền Giang). Ông hoạt động âm nhạc từ giữa thập kỷ 1950, và là một trong 3 thành viên của nhóm Lê Minh Bằng (Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng).
1948-1953, ông học tại Collège Le Myre de Vilers (Mỹ Tho), đồng thời học hàm thụ lớp hòa âm và sáng tác của École Universelle de Paris. Từ 1953-1955, ông học trường Cao đẳng Vô Tuyến Ðiện Saigon (École Supérieure de Radioélectricité de Saigon). Từ 1955-1957, ông dạy Pháp văn và âm nhạc tại Gò Công và Chợ Lớn. Từ 1957-1975, ông làm việc tại Ðài Phát Thanh Saigon, chức vụ là Chủ sự Phòng Sản Xuất, rồi Chủ sự Phòng Ðiều Hợp.

Tháng 8-1978, gia đình ông vượt biên đến Đài Loan, rồi định cư tại Montréal (Canada) từ tháng 10-1978 tới nay. Từ 1979-1999, ông làm việc cho hãng tàu chở hàng quốc tế Federal Navigation (FEDNAV) tại Montréal. Đó là hãng tàu đã cứu vớt 40 người trên chiếc ghe tỵ nạn trên biển Đông năm 1978, trong đó có gia đình Ns Lê Dinh). Từ 1994, ông chủ trương tờ Nguyệt san Nghệ Thuật.

Một số nhạc phẩm khác của ông: Bài Hát Của Người Điên, Cánh Thiệp Hồng, Chiều Lên Bản Thượng, Chữ Tình, Ga Chiều, Hạnh Phúc Đầu Xuân, Huế Buồn, Làng Anh Làng Em (1956, tác phẩm đầu tay, Nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam), Mưa Trên Phố Huế, Nắng Bên Này Sông, Ngang Trái, Ngày Ấy Quen Nhau, Nỗi Buồn Châu Pha, Sao Anh Không Nhớ Gò Công, Thương Đời Hoa, Thương Về Gò Công, Thương Về Gò Công, Tiếng hát Mường Luông, Tình Yêu Trả Lại Trăng Sao, Trở Về Cát Bụi, Xác Pháo Nhà Ai,…

January 10, 2017