| |
Chúa
Nhật 4 Mùa Chay năm A 2008
(nhiều tác giả)
ĐÔI MẮT MỚI
(CN IV MÙA CHAY - NĂM A)
Trong bài viết “Đôi mắt”, Linh mục Nguyễn Tầm Thường đã suy niệm về đôi mắt mù lòa của Nguyên Tổ đã đưa tội lỗi vào trần thế. Chúa Ki-tô đã chữa lành và trao ban cho nhân loại đôi mắt mới: Mắt Đức tin. Xin được mượn tư tưởng của Ngài để suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật IV Mùa Chay: Chúa Giê-su chữa người mù từ thuở mới sinh.
“Mắt em là một dòng sông,
Thuyền ta bơi lặng trong dòng mắt em...”
(Lưu Trọng Lư)
Mắt là cảm hứng cho thi sĩ, nhạc sĩ. Mắt là hồn cho thơ, là sóng cho nhạc. Có người nhìn đôi mắt như mùa thu. Có người nhìn đôi mắt như dòng sông. Trong văn chương, nghệ thuật, cảm hứng về mắt bao giờ cũng là đôi mắt đẹp. Trái lại, khi Thánh Kinh nói về mắt lại nói về đôi mắt mù. Từ những trang đầu của sách Sách Sáng thế đã nói về mắt: “Rắn đã nói với người đàn bà: chẳng chết chóc gì đâu! Quả nhiên Thiên Chúa biết, ngày nào các ngươi ăn nó mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ nên như Thiên Chúa, biết cả tốt xấu. Và người đàn bà đã nhìn; quả là cây ăn phải ngon... mà nhìn thì đã sướng mắt. Nó đáng quý thực, cái cây ấy để được tinh khôn. Và bà đã ăn... Và mắt cả hai người đã mở ra. Và chúng biết là chúng trần truồng.” (St 3,4 –7). (Nước mắt và hạnh phúc tr. 69 – 71)
Đoạn Thánh Kinh nói về lịch sử sa ngã của loài người đã đề cập đến đôi mắt qua 3 tiến trình:
- Rắn hứa là mắt hai ông bà sẽ mở ra
- E-và nhìn trái táo và thấy sướng mắt
- Mắt hai người mở ra và thấy mình trần truồng.
Rắn hứa là mắt hai người sẽ mở ra để nhìn thấy mọi sự như Thiên Chúa, nhưng mắt đức tin đã nhắm lại nên không nhìn thấy điều mình muốn thấy. Họ không thấy mùa hoa nở rộ, những đồi cỏ bình yên, những dãi nắng hiền, những dòng suối êm ả. (sđd. tr. 72). “Mà nhìn thì đã sướng mắt”, cái nhìn ấy phải là đắm đuối, bằng cái nhìn đam mê đó, tội lỗi, khổ đau và sự chết đã vào trần thế.
Lời hứa của con rắn đã hiệu nghiệm: mắt cả hai người đã mở ra. Nhưng không phải mở ra để nhìn thấy vẻ đẹp mà nhìn thấy mình trần truồng. Mắt hai người đã mở ra. Câu Thánh kinh thật ngắn ngủi diễn tả cách tinh tế sự đau thương: mở ra cũng là lúc đóng lại. A-đam – E-và đã mở mắt, nhưng họ lẫn trốn không dám nhìn Thiên Chúa. Cả hai đã mở mắt nhưng để tìm lá che thân, không dám nhìn nhau. Khởi đầu lịch sử nhân loại là đôi mắt mù và sự mù lòa chảy dọc theo thời gian mang tối tăm vào trong trần thế.
Chúa Ki-tô đã đến chữa lành sự mù lòa ấy, hàn gắn lại vết thương thuở sa ngã của Nguyên Tổ.
Khi liên kết phép lạ Chúa Giê-su chữa người mù từ thưở mới sinh với sự mù lòa của Nguyên tổ ta mới thấy ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Con Thiên Chúa đến trong thế gian. “Mù từ thưở mới sinh” là mù từ xa xưa, thuở địa đàng. Chúa Ki-tô đã mang ánh sáng cho thế gian, Ngài ban cho nhân loại đôi mắt mới: Mắt Đức Tin. Từ tiến trình đến ánh sáng tự nhiên, người mù có một hành trình tiếp cận ánh sáng đức tin.
Chúa Giê-su chữa lành đôi mắt thể lý và mắt tâm hồn của người mù. Chúa đã mở mắt đức tin để anh ta tin vào Chúa. Anh ta tin vào lời Chúa là đi rửa mắt ở hồ Si-lô-ác và đã công khai nói lên sự thật ca ngợi Chúa trước mặt những người Pha-ri-siêu đang tra vấn, khủng bố anh: Chính tôi đây đã được người mà thiên hạ gọi là Giê-su lấy bùn xức mắt tôi và bảo tôi hãy đi rửa ở hồ Si-lô-ác Tôi đã đi, đã rửa và đã trông thấy. Lòng bắt đầu rộng mở nên anh ta nhận ra: Nếu người đó không phải bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì.
Bởi đó, khi gặp lại Chúa Giê-su và được hỏi: “Anh có tin Con Người không?” thì anh đáp lại ngay: “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?” Chúa Giê-su tỏ mình ra cho anh: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây”. Anh liền đáp: “Lạy Thầy, tôi tin”. Bước nhảy của niềm tin được kết tinh nơi thái độ quỳ xuống bái lạy.
Qua việc chữa lành đôi mắt thể lý, Chúa Giê-su trao ban ánh sáng đức tin cho đôi mắt tâm hồn. Thoát khỏi bóng tối triền miên của cuộc đời, bát ngát một bầu trời mới khi anh được sáng đôi mắt. Lớn lao hơn nữa là tâm hồn anh thênh thang chứa chan lòng mến, anh đã quỳ bái lạy với tất cả lòng tin. Phép lạ chữa người mù thuở mới sinh là một dấu chỉ minh chứng: Đức Giê-su là sự sáng thế gian, đã chữa lành sự mù lòa của nhân loại với điều kiện: Tin vào Ngài.
Chúa Giê-su cũng chữa nhiều người mù lòa tâm hồn. Người mở mắt cho Da-kêu thấy được sự nguy hiểm của tiền tài đối với phần rỗi (Lc 9, 1 – 10). Người mở mắt cho người đàn bà ngoại tình, giúp chị từ bỏ quá khứ lỗi lầm (Lc 7, 36 – 50). Người mở mắt cho người trộm lành giúp nhận ra lòng Chúa xót thương (Lc 23, 32 – 43)...
Mỗi người chúng ta có lẽ không hoàn toàn mù tối tâm hồn, nhưng có những điểm tối mà ta thấy được. Chẳng hạn như những đam mê, tham vọng, hận thù, ghen ghét, kiêu căng, có thể làm ta mù tối không nhìn thấy sự tốt lành nơi tha nhân. Có một số người chỉ nhìn thấy điểm tối của người khác, chỉ nhìn thấy những lỗi lầm, những khuyết điểm mà không nhận ra những gì là xinh đẹp, những gì là cao quý, thánh thiện nơi họ. Cứ tiếp tục xét mình, ta sẽ thấy có nhiều điểm tối, sự mù tối của tâm hồn rất nguy hại. Chỉ có ánh sáng của Đức Ki-tô soi chiếu, chỉ có cái nhìn của Đấng tình yêu, mỗi người mới xóa tan những điểm tối đó. Chỉ có sự cầu nguyện và tin tưởng vào Đấng là ánh sáng thế gian, chúng ta mới có thể xua đuổi bóng tối ra khỏi tâm hồn và nhìn mọi sự trong ánh sáng Tin Mừng Đức Ki-tô. <LM. Giuse Nguyễn Hữu An>
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY
Ánh sáng từ trái tim
Chúa Giêsu chữa một người mù từ khi mới sinh và cho biết Chúa là ánh sáng chiếu soi trần gian.
1. Một cụ già trong một làng quê một hôm đặt câu hỏi cho các thanh niên: “Làm sao biết được trời còn tối hay đã sáng?” Một người trả lời:
- Khi ở tận chân trời có con trâu với con bò mà phân biệt được thì trời đã sáng; nếu không phân biệt được thì trời còn tối.
- Chưa đúng hẳn!
Một người khác:
- Khi ở mãi chân trời có cây dừa với cây chuối mà phân biệt được thì trời đã sáng; nếu không phân biệt được thì trời còn tối.
- Chưa đúng hẳn!
- Vậy cụ dạy thế nào ạ?
- Khi có một người đến với chúng ta, bất kể tuổi tác, màu da, tiếng nói, tôn giáo, học vấn, tính tình, quá khứ... mà chúng ta nhận ra đó là một người anh em, thì trời đã sáng; nếu không thì trời còn tối.
2. Một vị Nhật hoàng sau khi làm việc căng thẳng muốn thư giãn, nên xin các quan tìm cho một người biết nói đùa. Người ta dẫn đến cho ông một thiền sư.
Nhật hoàng:
- Ta muốn nhà ngươi nói đùa cho ta nghe.
- Tâu bệ hạ, xin bệ hạ nói trước để hạ thần nói đùa theo.
- Ta thấy nhà ngươi giống y hệt một con lợn!
- Tâu bệ hạ, còn hạ thần thì thấy bệ hạ giống y hệt Đức Phật!
- Tại sao ta bảo nhà ngươi là con lợn mà nhà ngươi lại bảo ta là Đức Phật?
- Tâu bệ hạ, dễ hiểu lắm ạ: ai có tâm của Phật thì nhìn vào đâu cũng thấy Đức Phật; còn ai có tâm của lợn thì nhìn vào đâu cũng thấy lợn!
3. Lạy Chúa Giêsu, xin cho con trái tim của Chúa, để con nhận thấy mọi người đều là anh em, và nhận thấy mọi anh em đều là hiện thân của Chúa. <Lm Cosma Hoàng Văn Đạt SJ>
Chúa Nhật IV Mùa Chay/A
Người mù và người sáng mắt !
(Ep. 5,8-14; Ga 9,1-38)
Chúng ta đã nghe bài tường thuật của Tin Mừng: Một người thanh niên bị mù từ khi mới sinh nay lại nhìn thấy được. Và không những anh ta đã nhìn thấy nước trong hồ Si-lô-am và những cây cối mọc chung quanh anh ta, không những anh ta đã nhìn thấy thành đô Giê-ru-sa-lem và các tường vách đền thờ, và không những anh ta đã nhìn thấy những người đang đứng chung quanh anh ta: các ông Pha-ri-sêu với nét mặt hậm hực và cha mẹ anh ta đang trong cảnh nửa khóc nửa cười, cũng như đám dân chúng tò mò, nhưng anh đã nhìn thấy trước hết Ðức Giêsu, Ðấng đã cho đôi mắt anh nhìn thấy ánh sáng và chính trong Người anh đã nhận ra được «ánh sáng thế gian». Bởi vậy, anh không chỉ là một người nhìn thấy được, nhưng anh đã trở nên người có đức tin, đã trở nên người tín hữu, một người đã nhận biết được «sự vinh quang Thiên Chúa chiếu tỏa trên gương mặt Ðức Giêsu»(2 Cr 4,6). Ðiều trọng yếu có tính các quyết định trong câu chuyện không phải là: «Anh ta ao ước và anh ta đã có thể nhìn thấy», nhưng như anh ta đã nói: «Tôi tin, và anh sấp mình xuống dưới chân Người». Chính câu nói thứ hai này mới thực sự là động lực chữa lành bệnh mù cho anh, và sự chữa lành đó bây giờ cũng cần được thể hiện nơi chúng ta. Bởi vậy, dù đã xảy ra cách đây trên 2000 năm rồi, câu chuyện này vẫn phải được nhắc đi nhắc lại cho con cái loài người chúng ta.
Ðể hiểu ý nghĩa của câu chuyện một cách đúng đắn, chúng ta còn phải lắng nghe lời dạy của Giáo Hội trong Kinh Tiền Tụng hôm nay (về người mù từ khi mới sinh): «Người dùng mầu nhiệm nhập thể mà dẫn đưa nhân loại đang đi trong tối tăm đến ánh sáng đức tin, và nhờ sự tái sinh trong giếng nước rửa tội, Người đã thâu nhận những kẻ sinh ra làm nô lệ tội lỗi, được trở nên nghĩa tử của Chúa».
Những gì đã cụ thể xảy ra xưa kia với tính cách tượng trưng hàm ý, thì hôm nay cần phải thực sự xảy ra nơi chúng ta: Xin Chúa chữa lành bệnh mù tinh thần của chúng ta! Xin Chúa làm cho đôi mắt đức tin của chúng ta được nhìn thấy! Xin Chúa làm cho chúng ta thành những người biết nhận ra Chúa trong mọi sự và cảm nhận được rằng Người là ánh sáng, là sự sống và là sự cứu rỗi.
Ðể điều đó có thể xảy ra nơi chúng ta, Ðức Giêsu đã đến trong thế gian như «ánh sáng soi chiếu thế gian»! Người, Ðấng từng ở nơi Chúa Cha và nhìn thấu suốt mầu nhiệm Thiên Chúa, nói cho chúng ta biết Thiên Chúa là ai; vâng, Người nói cho chúng ta, những kẻ không nhìn thấy Thiên Chúa, hầu để chúng ta trở thành những người nhìn thấy.
Những người mù không nhìn thấy gì cả, nên phải nhờ người khác nói cho nghe về vũ trụ, về thế giới, về con người như thế nào! Cũng vậy, theo bản chất tự nhiên, người phàm chúng ta mù lòa về Thiên Chúa, chúng ta không thể nào nhìn thấy Thiên Chúa được. Vì thế, chúng ta nhờ Ðức Giêsu kể cho nghe Thiên Chúa như thế nào, Người muốn gì nơi ta và làm thế nào để chúng ta có thể đến được với Người. Như vậy, người sáng mắt dẫn người mù vào trong vùng ánh sáng.
Một điều minh nhiên là nhờ đức tin, Thiên Chúa dẫn những người mù vào trong ánh sáng.
Trong khi những người mù nhờ Ðức Giêsu đã trở nên người sáng mắt, thì những người tự cho mình là sáng mắt, lại hoàn toàn mù lòa. Bấy giờ «Ðức Giêsu nói: Tôi đến thế gian này là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù» (Ga,9,39).
Quả vậy, những người Pha-ri-sêu tự cho mình là những người sáng mắt duy nhất, nên đã tự giam cầm mình trong sự mù lòa. Ðiều này chúng ta sẽ còn được nghe một lần rõ ràng hơn nữa trong bài Tin Mừng của Chúa Nhật sắp tới: Chúa gọi La-da-rô ra khỏi mồ, Chúa cho La-da-rô được sống lại một cách công khai trước sự chứng kiến của mọi người. Phải chăng những người Pha-ri-sêu sẽ tin? Không, chẳng những họ không tin, mà còn bỏ đi để bàn tính là cần phải làm thế nào để tiêu diệt được Ðức Giêsu! Trong khi người mù nhìn thấy được và người chết được sống lại, thì họ lại tìm cách thoái thác, không muốn trở nên người sáng mắt! Ðiều đó tố cáo rằng không phải mắt họ bị mù hòa, nhưng là tâm hồn họ bị mù lòa, lòng trí họ bị bóng đêm phủ lấp, đến nỗi họ không thể và không muốn nhìn thấy được các dấu chỉ của Thiên Chúa. Sự can thiệp đầy yêu thương của Thiên Chúa được cụ thể hóa trong Ðức Giêsu, đã làm cho họ bất mãn, đã làm cho họ càng lao mình vào trong bóng đêm của sự vô tri. Ðiều đó đưa đến kết luận là điều gì họ không muốn là không ai được phép đả động tới!
Người mù đã để cho Ðức Giêsu dẫn tới hồ Si-lô-am, tới sự được chữa lành và tới đức tin. Trong khi đó những người sáng mắt lại tự giam hãm mình lại phía sau bốn bức tường của những định kiến, của sự tự mãn và trong những cái lô-cốt khép kín của sự tự cao tự đại và của sự tự cô lập.
Nếu bài Tin Mừng hôm nay đã nêu ra cho chúng ta câu hỏi: Qúi ông bà thuộc về những người nào: những người tự cho mình là những người sáng mắt, và như thế tự cảm thấy là không cần đến ánh sáng của Thiên Chúa nữa, hay quí ông bà thuộc về những người – như người mù từ bẩm sinh được nói đến trong Phúc Âm – đã biết để cho Thiên Chúa và Giáo Hội Người hướng dẫn, đưa đường, vì họ hiểu được rằng nếu họ không được ánh sáng ơn thánh của Người soi chiếu, họ mãi mãi vẫn ở trong bóng tối của sự vô tri?
Mỗi người chỉ có thể đưa ra được câu trả lời chính xác, khi người đó thực sự thành tâm và khiêm tốn nhìn lại toàn diện cuộc sống của mình! <Lm Nguyễn Hữu Thy >
CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY
Mù lòa và mù quáng (Ga 9,1.6-9.13-16.34-38)
1 Đi ngang qua, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 6 Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta: "Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa". Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.
8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói: "Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?" 9 Có người nói: "Chính hắn đó!" Kẻ khác lại rằng: "Không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi!" Còn anh ta thì quả quyết: "Chính tôi đây".
13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. 14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời: "Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy". 16Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói: "Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát"; kẻ thì bảo: "Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?" Thế là họ đâm ra chia rẽ. 33 Anh ta nói: "Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì. 34"Họ đối lại: "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?" Rồi họ trục xuất anh.
35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi: "Anh có tin vào Con Người không?" 36 Anh đáp: "Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?" 37 Đức Giê-su trả lời: "Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây. 38"Anh nói: "Thưa Ngài, tôi tin". Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.
Mù loà và mù quáng
Ngày xưa ở Ấn- độ, có một vị vua muốn tìm trò tiêu khiển, bèn nảy ra ý tưởng như sau: Vua cho quân lính đi lùng kiếm năm người mù bẩm sinh chưa hề biết con voi là gì để đưa về triều làm trò tiêu khiển. Rồi vua cho đưa đến một con voi khổng lồ và bảo năm anh mù:
Các ngươi chưa hề biết voi là gì thì hôm nay Trẫm sẽ cho các ngươi được biết. Các ngươi hãy tiến lại sờ voi rồi mô tả cho Trẫm và quần thần quanh đây biết hình hài con voi ra sao. Ai mô tả đúng nhất sẽ được trọng thưởng.
Sau một hồi sờ voi, anh thứ nhất tâu:
-Tâu bệ hạ! Con voi giống y như cột nhà! Đó là người sờ trúng chân voi.
Anh thứ hai thưa:
-Voi giống như cái quạt lớn. Đó là người sờ trúng tai voi.
-Voi giống như một khúc rễ cây ngoằn ngoèo! (đó là mô tả của anh sờ trúng vòi voi).
- Voi giống như một tảng đá lớn, tròn tròn! (đó là phát biểu của người sờ trúng bụng voi)
Anh thứ năm cho rằng bốn anh kia đều sai bét, và phần thưởng chắc chắn thuộc về mình. Anh đắc chí tâu:
-Lâu nay hạ thần tưởng rằng voi là con vật to ghê lắm. Nào ngờ giờ đây chính tay hạ thần sờ thấy voi chỉ giống như cái chổi cùn! (vì anh sờ trúng đuôi voi).
Anh nào cũng hăng say và quyết liệt bênh vực ý kiến của mình, cho rằng duy chỉ có mình là đúng và những người khác đều sai. Họ tranh cãi nhau kịch liệt. Người nầy chê trách người khác là ngu, là mù, là dốt nát! Rốt cuộc, chẳng ai chịu thua ai, cả năm người nổi khùng lên, xông vào đấm đá nhau hung tợn, máu mồm máu mũi trào ra thảm hại …
Trong khi đó nhà vua và triều thần ôm bụng cười ngặt nghẽo! Cười cho sự mù quáng đáng thương.
Cả năm anh mù nầy đều thuộc diện mù loà bẩm sinh, nhưng đồng thời cũng là những người mù quáng nặng nề.
Người mù quáng chỉ biết một phần mà cứ tưởng rằng mình biết toàn bộ, chỉ mới am tường một khía cạnh mà cho là mình đã quán triệt hoàn toàn… và cho rằng những ai không suy nghĩ như mình, không cùng quan điểm với mình, không phát biểu như mình là sai lạc. Họ không hề chấp nhận ý kiến người khác, hoặc tìm cách triệt hạ người bất đồng quan điểm với mình.
Đây là căn bệnh tinh thần rất phổ biến trong xã hội loài người suốt dòng lịch sử và đã gây nhiều đổ vỡ đau thương cho nhân loại.
Những người biệt phái được đề cập trong bài Tin Mừng hôm nay cũng thuộc hạng người mù quáng. Mắt các ông tuy sáng nhưng tâm hồn hoàn toàn mù tối. Các ông đã từng nghe lời Chúa Giê-su dạy, từng thấy phép lạ Chúa Giê-su làm và một trong các phép lạ ấy là việc chữa lành người mù bẩm sinh đang xảy ra sờ sờ trước mắt. Vậy mà các ông vẫn không nhìn nhận Ngài do Thiên Chúa mà đến, lại còn nhẫn tâm trục xuất người mù vừa được Chúa Giê-su chữa lành ra khỏi cộng đồng chỉ vì người nầy không cùng quan điểm với các ông, không chối bỏ sự thật như các ông…
Đọc kinh thánh, ta thấy lòng ghen tị của Ca-in đã làm cho anh trở nên mù quáng, mù quáng đến độ ra tay giết hại A-ben là đứa em hoàn toàn vô tội chỉ vì lễ vật của A-ben đẹp lòng Thiên Chúa.
Lòng ghen tị cũng đã làm cho vua Sao-lê trở thành mù quáng. Ban đầu vua rất yêu thương Đa-vít, xem Đa-vít như con. Nhưng khi Đa-vít giết được tướng giặc khổng lồ Gô-li-át, dân chúng hoan hô ca ngợi Đa-vít còn hơn vua, nên vua đâm ra ghen tức, lòng trí hoá ra mù quáng khiến vua săn lùng Đa-vít như một ác thú tận thâm sơn cùng cốc, tìm mọi cách giết hại vị anh hùng tài ba dũng cảm nầy.
Đến lượt Đa-vít, khi được lên ngôi vua, cũng trở nên mù quáng vì tình dục. Do say đắm sắc đẹp của bà Bát-sa-bê, vợ của U-ri-a, nhà vua đã sa ngã phạm tội với bà, sau đó lại tìm cách giết U-ri-a chồng bà và rồi chính thức cưới bà ấy làm vợ. Mù quáng đến thế thì thật là khủng khiếp!
Như thế, người mù quáng tự làm cho mình bị suy thoái nghiêm trọng, trở thành người xấu xa và gây thiệt hại khôn lường cho người khác.
Ngoài ra, điều tệ hại nhất là người mù quáng ít khi tự thấy được sự mù quáng của mình, không nhận ra lầm lỗi của mình, kể cả những tội tày trời, nên ngày càng lún sâu trong tội, vô phương cứu chữa!
Lạy Chúa Giê-su, như những người biệt phái xưa, con là người mù quáng cần được Chúa xót thương.
Xin thương mở mắt tâm hồn con như Chúa đã mở mắt người mù bẩm sinh được thuật lại trong Tin Mừng hôm nay để con được thoát khỏi tối tăm lầm lạc và được hoan hỉ bước đi trong ánh sáng Tin Mừng. <LM Inhaxiô Trần Ngà>
NHÓM TÁC GIẢ
|
|