Năm

Suy niệm Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu

+*+

Trái Tim Tình Yêu

SUY NIỆM LỄ TRÁI TIM CỰC THÁNH CHÚA GIÊSU
Đúng 19 ngày sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, ngày thứ Sáu sau lễ Mình Máu Thánh Chúa, ngày Chúa tỏ Trái Tim Tình Yêu của Người ra cho thánh nữ Maria Margarita Alacoque (16/6/1675), phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta cử hành với lòng biết ơn lễ Trái Tim Cực Thánh Đức Chúa Giêsu rất hay thương « dịu hiền và khiêm nhường » trong lòng.

Trái Tim Chúa đã yêu loài người ta quá bội
Trái Tim của Thiên Chúa rung động vì cảm thương loài người luôn đổ tràn tình thương xuống cho nhân loại. Trái Tim ấy không đầu hàng trước sự vô ơn bạc nghĩa, từ chối của con người. Vì yêu, Thiên Chúa đã muốn tên lính đâm thấu và mở cạnh sườn ; máu cùng nước chảy ra (x. Ga 19, 34). Từ nguồn suối thẳm sâu của trái tim mình, Chúa Giêsu đã ban cho Giáo hội các bí tích để có thể trao ban hồng ân sự sống… ; để ai uống nước này « thì từ họ sẽ vọt lên sự sống đời đời » (Ga 4,14).
Từ Trái Tim Chúa bị đâm thủng vì tội lỗi chúng ta, đã tuôn trào nguồn ơn cứu độ đời đời cho nhân loại. Trái Tim đó không đơn giản là trái tim bình thường mà là Tình Yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Trái Tim « yêu thương » dân, « Quả tim Ta thổn thức trong Ta … vì Ta là Thiên Chúa » (x. Hs 11, 1b, 3-4, 8c-9 ). Quả Tim ấy được cụ thể nơi Trái Tim Chúa Giêsu vượt quá sự hiểu biết của con người (x. Ep  3,8-12.14-19). Ấy vậy mà con người vẫn vô ơn bạc nghĩa trước sự hy sinh cao cả của Chúa Giêsu. Chẳng những thế, con người còn xúc phạm đến Trái Tim nhân lành của Chúa. Nhưng vì là Trái Tim Tình Yêu nên : « Đời nọ tới đời kia, Thánh Tâm Chúa vẫn hằng nuôi dưỡng ý định cứu dân Người khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn » (Ca nhập lễ). Lời thánh Gioan Maria Vianey là bằng chứng : « Linh mục là hồng ân của Thánh Tâm Chúa ban cho loại người » (GLHTCG số 1589). Làm sao ta không cảm động nhớ lại rằng chính từ Trái Tim Chúa đã trực tiếp nảy sinh hồng ân linh mục. Hôm nay chúng ta đừng quên cầu cùng Thiên Chúa Ba Ngôi cho các linh mục nhân ngày thánh hóa, để Giáo hội có được những cái máng tốt như lòng Chúa mong ước, thông chuyển tình yêu của Thiên Chúa cho thế gian.

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là mạch đầy mọi nhân đức
Những lời Kinh Cầu vang lên trong suốt tháng Sáu như muốn nói với chúng ta rằng, tất cả những gì Thiên Chúa muốn làm cho nhân loại, đều được gửi gắm và thể hiện nơi Trái Tim Chúa Giêsu, Con yêu dấu của Thiên Chúa. Qua Trái Tim Chúa Giêsu, chúng ta thấy được sự quan phòng tình yêu từ đời đời của Thiên Chúa nhằm cứu độ thế gian. Đúng là mầu nhiệm tình yêu khôn hiểu thấu, nên chúng ta « hãy ca tụng Chúa và kêu cầu danh Người » (Tv 12, 5).
Nhìn ngắm Trái Tim Tình Yêu của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha, trong sự viên mãn của Chúa Thánh Thần, chúng ta khám phá ra lòng nhân lành của Chúa Giêsu luôn yêu thương, ấp ủ chúng nhân, chứng tỏ Trái Tim Người là mạch đầy dẫy hằng sống và thánh thiện, là nguồn suối cứu chuộc chúng ta. Để hiểu sâu xa hơn, chúng ta phải trở về với cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với người phụ nữ xứ Samaria thành Sykar thuộc xứ Samaria. Cô ta đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: « Xin bà cho tôi uống nước ». Người đàn bà Samaria thưa lại: « Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria? » Thánh sử sau đó thêm rằng : (Vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Sa-maria). Sau đó, cô nhận được phản ứng của Chúa Giêsu: « Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: « Xin cho tôi uống nước », thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống [...]vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời » (Ga 4, 1-14). Đây là những lời nói bí ẩn.
Chúa Giêsu là nguồn suối; từ Người vọt lên sự sống thần linh. Gần Chúa, ở lại trong Chúa, chúng ta sẽ có sự sống. Nguồn suối ấy đem tưới vào đời mình ta sẽ có được sự bình an sâu thẳm và niềm hạnh phúc đích thực ở nơi Trái Tim Giêsu yêu thương.

Sùng kính Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu
Thế giới ngày hôm nay xảy ra biết bao cuộc xung đột cam go đẫm máu, rất cần sứ điệp phát xuất từ Trái Tim Chúa, nguồn mạch duy nhất, nhân loại có thể múc lấy sự khiêm nhường và lòng tha thứ để chữa lành những thương tích. Lòng sùng kính Trái Tim Chúa Giêsu có thể là nguồn mạch mọi ơn phúc cho thế giới này như lời Đức Piô X viết khi ban lệnh thi hành việc tôn sùng Trái Tim Chúa : « Việc tôn thờ Trái Tim cực thánh Chúa Giêsu là trường học hữu hiệu nhất về Tình Yêu Thiên Chúa, bởi vì Tình Yêu, vốn là nền tảng của Nước Trời, phải được xây dựng trong các linh hồn, các gia đình và các quốc gia ». Đức Piô XI nhận định: « Lòng sùng kính Thánh Tâm là một phương dược phi thường cho những nhu cầu ngoại thường của thời đại chúng ta »(Caritate Christi compulsi). Trong tông huấn Tôn Sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu, Chân phước Phaolô VI viết: « Sự tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu là phương thế hữu hiệu nhất để đóng góp vào việc canh tân tâm linh và luân lý của thế giới ». Thánh Gioan Phaolô II Giáo hoàng nói : « Lòng sùng kính Thánh Tâm phù hợp hơn bao giờ hết với những mong đợi của thời đại chúng ta » (Diễn văn với Dòng Thừa Sai Thánh Tâm, 5-10-1987).

Nên giống Trái Tim Chúa
Người kitô hữu không chỉ được mời gọi chiêm ngắm, sùng kính, mà còn phải sống tình yêu ấy nữa. Chúa Giêsu đã nói, « Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hãy giữ các điều răn của Thầy » (Ga 14, 15). Như thế, Người mời gọi chúng ta kèm theo điều kiện : nếu ta yêu mến Chúa, thì ta phải giữ các điều răn của Chúa, tuân giữ thánh chỉ của Chúa, và thực hành các giới răn mà Thiên Chúa đã chỉ cho ta, để chứng tỏ rằng ta yêu Chúa.
Chúa muốn chúng ta giữ các điều răn đã được Chúa ban cho Israel trên núi Sinai qua trung gian Môisen, nhiều người trong chúng ta lặp lại mỗi ngày trong kinh nguyện, một tập quán tốt đẹp và ngoan đạo. Chúng ta lặp lại những điều đã được viết trong Sách Xuất Hành, để tin nhận và làm mới lại những gì chúng ta nhớ.
Lạy Chúa Giêsu, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

 Suy Niệm Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu – Năm A
Lm. Anthony Trung Thành6/20/2017
Suy Niệm Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu – Năm A

Một câu chuyện tình có thật đã được dựng thành phim và được chiếu trên đài truyền hình Pháp năm 1996, câu chuyện có nội dung như sau:

Có một chàng trai tên là Antôn người Phi châu, mồ côi mẹ, sống với cha trên đất Pháp. Không giấy tờ cũng chẳng có việc làm, nơi ở chỉ là một góc tối trên căn gác chật hẹp. Điều trớ trêu là Antôn lại yêu Valery, một cô gái người pháp thuộc gia đình giàu có, nặng óc kỳ thị. Tình yêu của hai người rất bấp bênh vì màu da chủng tộc. Nhiều lần cha mẹ của Valery đã đến nói rõ với cha của Antôn rằng, họ không bao giờ để cho con gái của họ sống chung với người da đen.

Đau khổ và tuyệt vọng, hai người đành quyết định đi tìm khung trời riêng cho chính họ. Thế là cô gái lấy cắp tiền của cha mẹ và lên đường đi xa, nhưng họ đã bị cảnh sát bắt ngay trong chính đêm họ muốn trốn đi. Quá xúc động bởi nhiều biến cố dồn dập, Valery bị nhồi máu cơ tim phải vào bệnh viện. Gia đình cô lợi dụng cơ hội này để cắt đứt mối liên lạc giữa hai người, và để ngăn ngừa hậu hoạ, cha mẹ Valery đã báo cho cảnh sát biết về tình trạng cư trú bất hợp pháp của hai cha con Antôn, nhưng cảnh sát đã không bắt được Antôn, vì hôm ấy chàng trai thất tình còn mãi lang thang ngoài đường phố. Nhiều tuần lễ sau, các bác sĩ cho biết Valery phải được thay tim mới có hy vọng sống còn. Tình cờ biết được tin này, Antôn đã ghé thăm người yêu đang đau nặng.

Trở về căn nhà của anh, vắng bóng cha chàng trai đau khổ khóc suốt đêm cho đến khi cảnh sát ập đến để bắt chàng, họ thấy chàng mê man bất tỉnh, thay vì đưa chàng vào nhà tù, họ đã chở chàng đến bệnh viện và chỉ vài tiếng sau Antôn tắt thở, trong túi áo của chàng người ta chỉ tìm thấy vỏn vẹn một tờ di chúc với dòng chữ: “Xin được trao tặng trái tim này cho Valery, người yêu của tôi” và Valery đã được cứu sống nhờ trái tim của người tình da đen bất hạnh và đau khổ ấy (nguồn: Internet).

Tình yêu của Antôn dành cho Valery trong câu chuyện trên đây phần nào phản ánh tình yêu của Đức Giêsu đối với nhân loại. Hôm nay, cùng với Giáo Hội chúng ta mừng lễ trọng thể Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Thánh Tâm Chúa Giêsu là nguồn mạch của tình yêu. Tình yêu của Ngài được khởi đi từ việc vâng lời Đức Chúa Cha để sinh xuống làm người, sống cuộc đời ẩn dật đơn hèn ở Nazareth trong suốt 30 năm. Sau thời gian sống ẩn dật đó, Ngài bắt đầu ra đi thi thố tình yêu của mình cho nhân loại. Ngài rao truyền giáo huấn tình yêu của Ngài cho mọi người không phân biệt màu da chủng tộc. Ngài gặp gỡ hết mọi hạng người trong xã hội. Ai gặp được Ngài cũng được biến đổi, được chữa lành hay lãnh nhận một điều gì đó. Ngài hóa bánh ra nhiều cho dân chúng đang đói được ăn no nê. Ngài chữa lành người đàn bà bị bệnh loạn huyết đã 12 năm. Ngài chữa lành người bất toại. Ngài chữa lành cho người bị câm, bị điếc, bị mù, bị què quặt...Người gặp gỡ và biến đổi những người tội lỗi như Lê-vi, Gia-kêu, Maria Madalena... Ngài tha thứ cho ông Phê-rô, kẻ trộm lành, ông Saolô...Vì yêu nhân loại nên Ngài đã lập các Bí tích, nhất là Bí tích Truyền chức và Bí tích Thánh Thể để ở lại cùng nhân loại mọi ngày cho đến tận thế. Đúng như lời Thánh Gioan nói: “Ngài yêu thương họ cho đến cùng” (x. Ga 13,1), và chóp đỉnh của tình yêu đó là cái chết trên thập giá.

Khi cảm nghiệm được tình yêu của Thánh Tâm Đức Giêsu đối với nhân loại như thế, mỗi chúng ta được mời gọi đến với Ngài, nhất là những lúc gánh gồng của cuộc sống đè nặng, để múc lấy sức mạnh nơi suối nguồn yêu thương: “Hãy đến với Ta tất cả, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30). Đồng thời, chúng ta cũng được mời gọi trở nên chứng nhân tình yêu của Thánh Tâm Chúa trong thế giới hôm nay. Trong bài đọc II, Thánh Gioan Tông đồ đã nhắc nhở chúng ta rằng: “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,7-8). Chính Đức Giêsu cũng đã dạy: Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (x.Ga 15, 12). Để yêu thương, chúng ta hãy lấy lòng nhân từ biến đổi những người tội lỗi giúp họ trở về nẻo chính đường ngay. Để yêu thương chúng ta hãy tha thứ, làm ơn và cầu nguyện cho kẻ làm hại chúng ta. Để yêu thương, chúng ta hãy đóng góp phần mình để cứu chữa, hoặc làm giảm bớt những cơn đau của những người bệnh tật. Để yêu thương, chúng ta hãy sẵn sàng săn sóc và đóng góp công, của để cứu chữa những người gặp nạn như người Samaritanô nhân hậu.

Trong thực tế cuộc sống hôm nay, vẫn còn rất nhiều người sống thiếu yêu thương. Hằng ngày, chúng ta chứng kiến biết bao cảnh bạo lực xảy ra trong gia đình, nơi học đường, ngoài xã hội. Từ cảnh học sinh đánh nhau trước sự chứng kiến của bạn bè, thầy cô, đến cảnh vợ chồng “hạ cẳng tay, thượng cẳng chân” trước sự khóc lóc kêu la của con cái. Rồi, những cảnh bạo lực xảy ra nơi đường xá, chợ búa, thậm chí tại các cơ quan công quyền. Gần đây, theo dõi báo chí chúng ta biết, nhiều nạn nhân chết một cách đầy bí ẩn tại các trụ sở công an.

Bên cạnh đó, biết bao cảnh đời bất hạnh diễn ra hằng ngày trước mắt chúng ta: nghèo đói, bệnh tật, áp bức, tù tội, các nạn nhân của thảm họa môi trường, của bão lụt do thiên tai và nhân tai... Có thể người ta vẫn biết, vẫn thấy, vẫn nghe tiếng kêu gào đau đớn của họ. Nhưng người ta cứ làm ngơ, hoặc vì người ta bất lực, hoặc vì người ta sống vô cảm sợ liên lụy đến sự an toàn của bản thân. Như thế, người ta đang tiếp tay cho kẻ xấu, cấu kết và đồng lòng với họ như lời vua Napoleon I đã nói: “Thế giới phải chìm đắm trong đau khổ không chỉ vì tội ác của những kẻ xấu, mà còn là vì sự im lặng của những người tốt”. Vì vô cảm nên người ta vẫn chứng kiến cảnh đánh nhau nhưng không can ngăn. Vì vô cảm nên người ta vẫn thấy cảnh đói nghèo, bệnh tật nhưng không cứu giúp. Đó là hành động đi ngược lại với tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu. Xét mình lại, có lẽ nhiều lần chúng ta cũng đã trở thành những con người vô cảm như thế. Vì vậy, chúng ta hãy xin Thánh Tâm Chúa thứ tha và xin Ngài ban cho chúng ta một quả tim mới, một quả tim biết yêu thương, biết thổn thức, biết rung động, biết đập với nhịp đập của Thánh Tâm Chúa.

Hôm nay cũng là ngày xin ơn thánh hóa các linh mục: Linh mục là hiện thân của Đức Kitô, là Alter Christus (Đức Kitô thứ hai hay Đức Kitô khác). Nên Linh mục phải có lòng thương xót như Đức Giêsu. Lòng thương xót đó được thể hiện qua việc rao giảng, qua việc cử hành các Bí tích nhất là Bí tích Giao Hòa. Lòng thương xót đó còn được thể hiện qua việc thăm viếng mục vụ, quan tâm đến những người nghèo khổ về vật chất cũng như tinh thần. Linh mục phải như chủ chiên đi tìm con chiên lạc, như người đàn bà tìm kiếm đồng tiền bị đánh mất, như người cha chờ đợi đứa con đi hoang trở về. Nhưng vì linh mục cũng là một con người với những yếu đuối, lầm lỗi và thiếu xót. Để thực hiện được vai trò “Kitô thứ hai”, và trở nên mục tử nhân lành, bản thân linh mục cần phải cố gắng không ngừng, đồng thời cần lời cầu nguyện của cộng đoàn dân Chúa. Cần sự cố gắng của bản thân để linh mục hoàn thiện mình, cần lời cầu nguyện của giáo dân để Chúa thánh hóa linh mục. Ước mong rằng, tất cả các linh mục trong Giáo Hội thực sự trở nên những linh mục như lòng Chúa mong muốn.

Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu, xin uốn lòng chúng con nên giống Trái Tim Chúa. Amen.

Lm. Anthony Trung Thành

 

Lễ Thánh Tâm
(Đnl 7,6-11; 1Ga 4,7-16; Mt 11,25-30)
23-6-2017

Lễ Thánh Tâm ngày 27/06/2006, Đức Giáo hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI đã nói : “Lễ trọng Thánh Tâm Chúa Giê-su cũng là Ngày Thế Giới Cầu Nguyện cho sự Thánh Hoá các Linh Mục. Tôi lợi dụng dịp thuận tiện này để mời tất cả anh chị em, hỡi những Anh Chị Em yêu dấu, luôn cầu nguyện cho các linh mục ngõ hầu các ngài có thể nên những chứng nhân tình yêu của Chúa Ki-tô.

Hôm nay là ngày cầu nguyện cho các linh mục. Chúng ta đọc lại cuộc đời của cha Alexandre de Rhodes, tên Việt Nam là Đắc Lộ, một trong những nhà truyền giáo đầu tiên và nhiệt thành của Giáo Hội Việt Nam, để “luôn cầu nguyện cho các linh mục, ngõ hầu các ngài có thể nên những chứng nhân tình yêu của Chúa Ki-tô“.
Cha Đắc Lộ sinh ngày 15-3-1593 tại Avignon (A-vi-nhông), nước Pháp. Năm 18 tuổi cha đi tu dòng Tên. Năm 25t cha chịu chức linh mục. Năm sau, 26t, cha được sai sang Nhật truyền giáo. Cha  đến  Goa, Ấn Độ và chờ ngày vào nước Nhật. Vì Nhật Bản bắt đạo gay gắt, bề trên sai cha vào Trung Quốc truyền giáo. Cuối cùng bề trên sai cha tới Đàng Trong (Miền Nam) Việt Nam.

Ngày 7-12-1624 cha đặt chân lên đất Hội An. Lúc đó đã có cha Buzomi và cha Pina. Cha Pina nói sỏi tiếng Việt. Khi nghe người Việt nói như chim hót, cha thất vọng. Cha nghĩ là không thể tập nói được. Cha học tiếng Việt với cha Pina và một cậu bé độ 10,12 tuổi tại Thanh Chiêm (Phước Kiều).
Về cậu bé, cha Đắc Lộ kể lại như sau : “Chỉ trong 3 tuần lễ, cậu bé đã dạy tôi biết tất cả những cung giọng khác nhau của tiếng Việt và cách phát âm của từng chữ. Cậu không hề có một kiến thức gì về ngôn ngữ Âu châu, thế mà cũng trong 3 tuần lễ này, cậu đã có thể hiểu được tất cả những gì tôi muốn diễn tả và muốn nói với cậu. Đồng thời cậu học đọc, học viết tiếng Latinh và  có thể giúp lễ. Tôi hết sức ngạc nhiên trước trí khôn minh mẫn và trí nhớ dẻo dai của cậu. Sau đó cậu trở thành Thày Giảng giúp việc các cha truyền giáo, và là một dụng cụ tông đồ hữu hiệu trong việc loan báo Tin Mừng nơi quê hương Việt Nam thân yêu của Thày và nơi Vương quốc Lào láng giềng” (Internet Yahoo “Cha Đắc Lộ”).

Cậu bé dạy tiếng Việt cho cha Đắc Lộ sinh năm 1612 tại Cây Trâm, giáo xứ Tam Kỳ, Quảng Nam ngày nay. Tên Việt Nam của cậu có thể là Trang. Nhưng cậu nhớ ơn cha, lấy tên Rhodes của cha đặt tên cho mình, còn tên thánh của cậu là Ra-pha-el. Ông Raphael Rhodes xuất tu, làm thông dịch viên cho các thương gia Hòa Lan, Bồ tại Thăng Long và Phố Hiến. Ông có nhà tại Thăng Long và Phố Hiến. Năm 1670 đi thăm giáo phận Đàng Ngoài (Miền Bắc) lần đầu tiên, Đức cha Lambert de La Motte lúc ở trên tầu, lúc ở trong nhà ông. Ông có công xây dựng Nhà Thờ Chính Tòa Hà Nội. Ông  giúp đỡ các thừa sai về tinh thần và vật chất. Sau 7 năm bệnh tật liệt giường, ông qua đời ngày 29-6-1687, thọ 75 tuổi. Đức cha Bourges hiện diện trong giờ chết của ông (Đỗ Quang Chính, Dòng Mến Thánh Giá, trang 7-8).

Ở Hội An được 3 năm, năm 1627, cha Đắc Lộ được sai ra Miền Bắc truyền giáo. Ngày lễ thánh Giuse 19-3-1627 thuyền của cha tới Cửa Bạng, Thanh Hóa. Ngày 2-7-1627 cha tới Thăng Long. Trịnh Tráng xây nhà xứ nhà thờ cho cha. Theo cha Dỗ Quang Chính, địa điểm đó sát đền Bà Kiệu cạnh hồ Hoàn Kiếm (Tản Mạn LSGHVN, trang 279).  Cha giảng đạo một ngày 4,6 lớp. Mỗi lớp 3 đến 5 chục người. Cuối năm cha rửa tội được 1200 người. Đặc biệt có công chúa Catarina. Công chúa làm thơ về công trình cứu độ của Thiên Chúa từ tạo thiên lập địa cho đến Chúa Giê-su ra đời.

Các quan và nhà giầu thời đó có nhiều vợ. Thấy đạo dạy một vợ một chồng, các quan đề nghị Trịnh Tráng cấm đạo và trục xuất cha ra khỏi xứ Bắc  Năm 1630 cha ra đi, giã từ hơn 7000 giáo dân mà cha đã rửa tội trong ba năm.

Cha về Macao dạy học 10 năm. Đầu tháng 2 năm 1640 bề trên sai cha trở lại Đàng Trong. Cha không dám công khai, phải ẩn lánh nhà ông trưởng khu phố Nhật Bản ở Hội An. Nhờ ông, cha đem lễ vật ra Huế dâng cho chúa Nguyễn Phúc Lan. Cha ở nhà bà Minh Đức giảng đạo được 35 ngày, rửa tội được 92 người. Trở lại Hội An, cha bị quan trấn Vĩnh Điện Quảng Nam phát giác. Ngày 20-9-1640 ông đuổi cha ra khỏi nước.
Chỉ ba tháng sau, lễ Giáng sinh năm 1640, cha Đắc Lộ trở lại  Hội An lần II. Lợi dụng tầu buôn người Bồ trao đổi hàng hóa, cha lén lút đi giảng đạo xuống phía nam là Quảng Ngãi, Qui Nhơn và Phú Yên. Sáu tháng cha rửa tội được 1305 người, trong đó có thày Anrê-Phú Yên. Tầu nhổ neo, cha theo tầu về lại Macao ngày 2-7-1641.

Đến cuối tháng 1-1642 cha Đắc Lộ trở lại Hội An lần III. Cha dâng cho quan trấn Quảng Nam lễ vật quí báu, trong đó có chiếc đồng hồ. Quan làm ngơ cho cha ở lại. Cha chọn được 10 thày giảng. Ngày 31-7-1642 cha tổ chức lễ khấn cho 10 thày tại nhà thờ Hội An.

Đầu năm 1644 cha Đắc Lộ trở lại Hội An lần IV. Cha ra Huế dâng lễ vật cho chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn làm ngơ cho cha ở lại. Ban đêm cha gặp giáo dân ở nhà bà Minh Đức, ban ngày cha trốn xuống thuyền. Cha vào Hội An tổ chức Tuần Thánh. Rồi cha ra Quảng Bình thăm giáo dân. Cha trở lại Hội An. Quan Quảng Nam ra lệnh bắt thày Anrê. Ngày 26-7-1644, thày bị chém đầu. Cha tắm rửa và ướp muối thi hài thày. Gần một năm sau, ngày 3-7-1645, cha bị trục xuất. Cha rời VN đem theo thi hài thày Anrê về Macao.

Vĩnh viễn ra đi  không bao giờ trở lại, nhưng trong lòng cha Đắc Lộ không bao giờ quên 300.000 giáo dân và hàng trăm thày giảng Việt Nam. Ngày 20-12-1645 cha xuống tàu về Rôma, để xin Đức giáo hoàng sai 12 giám mục cho GHVN. Cha đem theo sọ thày Anrê. Ngày 30-7-1652 Đức giáo hoàng đề nghị cha làm giám mục. Cha khiêm nhường từ chối. Cha về Pháp vận động. Đức giáo hoàng Alexandre VII chọn hai cha Francois Pallu và Lambert de la Motte làm giám mục đầu tiên cho hai giáo phận Đàng Ngoài và Đàng Trong được thiết lập ngày 9-9-1659.

Năm  1654 cha Đắc Lộ được sai đi giảng đạo ở nước Iran. Cha qua đời ngày 5-11-1660, thọ 67 tuổi. Cha qua đời trước 1 năm thiết lập hai giáo phận Đàng Ngoài và Đàng Trong. Song đường xá xa xôi, có lẽ cha không biết tin vui này. Cha giảng đạo ở Iran 5 năm; ở VN 11 năm.
Tinh tình cha dịu dàng Cha luôn cư xử như con chiên giữa bày sói. Đức khiêm nhường và vâng lời của cha tuyệt vời. Cha hạ mình làm những công việc thấp hèn nhất, những việc càng khó, cha càng tin tưởng vào Chúa. Đức trong sạch của cha không thể chê được. Cha thận trọng trong việc nhìn xem. Cha yêu mến Chúa Giê-su Thánh Thể và Đức Mẹ. Cha viếng Chúa và lần chuỗi hằng ngày. Người ta coi cha là thánh. Nhiều người viếng mộ cha.

Cha Đắc Lộ quả đúng là “chứng nhân tình yêu của Chúa Ki-tô“, của Thánh Tâm Chúa, mà Giáo Hội tôn kính hôm nay.
——————————————————–

Lễ Thánh Tâm
Chúa nhật tuần trước chúng ta mừng lễ Mình Thánh Chúa. Chúa đã muốn cử hành lễ Mình Thánh với một nữ tu nghèo khổ Giu-li-a-na ở nước Bỉ năm 1209.

Lễ Thánh Tâm hôm nay, Chúa cũng hiện ra tỏ bày ước nguyện với chị nữ tu nghèo khổ Ma-ga-ri-ta Ma-ri-a nước Pháp năm 1675.

Thánh nữ là con thứ 5 trong số 7 người con của ông bà A-la-cốc ở Gia-nô (Janots). Cha là một viên chức chính phủ và gia đình sống trong một ngôi nhà lớn. Dân làng làm đất của hai ông bà ở quây quần chung quanh. Bà A-la-cốc là một người mẹ đạo đức. Bà xác quyết rằng cầu nguyện và Kinh Thánh là điều đầu tiên con cái phải học. Gia đình đã gặp thảm cảnh khi ông A-la-cốc qua đời vì tai nạn. Bà buồn bã sinh bệnh tật, không thể nuôi dạy con cái. Năm 8 tuổi thánh nữ được gửi vào trường nội trú của các sơ dòng Cla-ra.
Ở trường nội trú thánh nữ thích dậy sớm vào nhà thờ nghe các nữ tu hát Thánh Vịnh. Và tối thánh nữ cũng thường có mặt để lần chuỗi. Thánh nữ thích cầu nguyện và yêu Chúa Giê-su, đến nỗi được rước lễ lần đầu khi mới 9 tuổi.

Thánh nữ thích nhìn các nữ tu và trong thâm tâm  thường hứa với Chúa rằng : khi đủ tuổi sẽ đi tu dâng mình cho Chúa. Nhưng khi lên 11 tuổi, thánh nữ bị bệnh thấp khớp và phải từ giã ngôi trường nội trú. Một trong những bà con đem thánh nữ về Gia-nô.

Thánh nữ sửng sốt khi thấy ông cậu cướp hết tài sản tiền bạc của gia đình, chiếm đoạt cả nhà cửa nữa. Mẹ và anh chị em thánh nữ bị hành hạ như những đầy tớ trong nhà. Thánh nữ xin phép ông cậu tới nhà thờ cầu nguyện, khi được phép, khi không được phép.

Má nói với thánh nữ : “Bổn phận của con là lập gia đình !” Thánh nữ không biết nói làm sao, vì thánh nữ không muốn lập gia đình. Má lại thúc giục : “Hãy chọn lấy một chàng trai, chứ không được chọn ai khác !
Vì má, thánh nữ thay đổi nếp sống. Thánh nữ làm bạn với một vài người trẻ cả nam lẫn nữ thường đến dự tiệc do ông cậu khoan đãi. Chẳng bao lâu ông cậu và má khuyên thánh nữ chọn lấy một người làm bạn đời. Nhiều người trai quí mến, thánh nữ có thể chọn ai tùy ý.

Tuy nhiên, thánh nữ nhớ lại lời hứa với Chúa Giê-su là thánh nữ đi tu dâng mình cho Chúa. Một ngày kia sau khi rước lễ, thánh nữ cầu nguyện xin Chúa giúp cho biết chọn đàng nào : đi tu hay lập gia đình. Chúa Giê-su hiện ra đứng bên phải trước mặt thánh nữ. Chúa quyền năng và đẹp biết dường nào, nhưng mặt Chúa buồn. Chúa nói : “Cha đã chọn con làm người riêng của Cha. Khi con còn rất trẻ, con đã chọn Cha rồi !

Thánh nữ đã khóc. Thánh nữ đang nghĩ từ bỏ lời hứa, mà lấy chồng. Thánh nữ thấy mình ngu đần làm sao. Và thánh nữ hứa với Chúa : “Lạy Chúa, dù con có giá đến bạc tỷ cũng chẳng là gì cả, chỉ trừ là nữ tu của Chúa.
Thánh nữ nói với gia đình : “Xin gia đình thương từ bỏ ý định bắt con lập gia đình !”. Thánh nữ vào dòng Thăm Viếng và nhà dòng đặt tên cho thánh nữ là Ma-ga-ri-ta Ma-ri-a.
Tình yêu Chúa của nữ tu Ma-ga-ri-ta Ma-ri-a mỗi ngày thêm sâu đậm. Thánh nữ trải qua nhiều giờ thờ phượng Chúa Thánh Thể. Thánh nữ nói : “Ôi lạy Chúa của con, con yêu Chúa đến nỗi con muốn tình yêu Chúa đốt cháy con, giống như cây nến bị ngọn lửa đốt cháy !

 Chúa Giê-su hiện ra tỏ Trái Tim Chúa cho thánh nữ 3 lần :

Lần I : Ngày 27-12-1673, Chúa hiện ra lần thứ I, tỏ cho thánh nữ thấy Trái Tim Chúa. Thánh nữ kể : “Chúa cho tôi tựa vào ngực Chúa một lúc lâu… Chúa mở Trái Tim cho tôi thấy… Chúa nói : “Trái Tim Cha yêu thương loài người đến nỗi không thể giữ trong Trái Tim Cha những ngọn lửa yêu thương nồng cháy…

Lần II : Gần nửa năm sau, vào ngày thứ sáu trong Tuần Bát Nhật lễ Mình Thánh Chúa, tháng 6 năm 1674, Chúa hiện ra lần thứ hai, tỏ Trái Tim Chúa cho thánh nữ. Thánh nữ kể : “Khi Mình Thánh Chúa được đặt ra bàn thờ để chầu, tâm hồn tôi ngây ngất, vì Chúa Giê-su, Thầy chí thánh dịu ngọt, hiện ra với tôi. Chúa rực sáng đầy vinh quang. Năm dấu đanh của Chúa sáng như năm mặt trời. Những ngọn lửa phát ra khắp người Chúa, đặc biệt nơi trái tim, trông giống như lò lửa. Chúa mở ngực cho tôi thấy Trái Tim rất yêu thương của Chúa. Trái Tim là nguồn của mọi tia lửa.

Chúa xin thánh nữ hai điều :

1/ làm việc đền tội vào mỗi ngày thứ sáu đầu tháng

2/ làm một giờ thánh từ 11g đến 12 đêm thứ năm đầu tháng để đền tội người ta đã xúc phạm đến Chúa.

Lần III : Một năm sau, ngày 16-6-1675 Chúa hiện ra tỏ Trái Tim Chúa lần thứ ba. Chúa nói : “Đây là Trái Tim Cha yêu thương loài người không dành lại một sự gì, đến nỗi bị thiêu đốt, để biểu lộ tình thương của Trái Tim Cha. Thế mà Cha chỉ nhận phần nhiều sự vô ơn, bất kính và phạm thánh, và người ta đã lạnh nhạt và thách thức Cha trong bí tích yêu thương. Đó là nỗi khổ đau dường nào của Cha !

Lần hiện ra thứ ba này Chúa Giê-su xin hằng năm tổ chức một ngày lễ kính Thánh Tâm Chúa.
10 năm sau, tháng 6-1686 lễ Trái Tim được cử hành lần đầu tiên tại nhà nguyện của dòng Thăm Viếng. 90 năm sau lễ Trái Tim mới được Đức Giáo hoàng Clêmentê XIII  cho cử hành trên toàn thế giới (11-6-2010).

Linh mục Giuse Nguyễn Trung Thành

 

HIỆP SỐNG TIN MỪNG
LỄ THÁNH TÂM A
Đnl 7,6-11; 1 Ga 4,7-16; Mt 11,25-30
YÊU THƯƠNG NHƯ GIÊ-SU

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Mt 11,25-30
(25) Vào lúc ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất. Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. (26) Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha. (27) Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha. Cũng như không ai  biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho. (28) Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. (29) Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. (30) Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.

2. Ý CHÍNH:
Bài Tin Mừng hôm nay gồm mấy ý tưởng chính sau đây:
Đức Giê-su nói mấy lời ngợi khen cảm tạ Chúa Cha, vì Người đã giấu không cho những kẻ học thức quyền thế biết chân lý, nhưng lại tỏ mình ra cho những người nghèo khó, yếu đuối và tội lỗi (25-26). Tiếp đến, Đức Giê-su bày tỏ về bản tính Thiên Chúa của Người ngang hàng với Chúa Cha (27), và mời gọi chúng ta hãy sống theo Luật tình yêu của Người, vừa nhẹ nhàng lại vừa mang lại sự sống muôn đời (28-30).

3. CHÚ THÍCH:
- C 25: + Lạy Cha: Khi cầu nguyện, Đức Giê-su thường xưng tụng Thiên Chúa là “Cha”, một tiếng gọi thân thương mới lạ đối với người Do thái, vì họ không bao giờ dám gọi Thiên Chúa là Cha. + “Chúa Tể trời đất”: là một lời xưng hô có tính trang trọng. + Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn: “Giấu” ở đây không phải vì Chúa Cha không muốn mặc khải, nhưng vì những người kia có thái độ tự mãn, cho mình là khôn ngoan thông thái, nên không muốn đón nhận chân lý mặc khải. Trái lại, những người bé mọn vì có tinh thần khó nghèo, nên được Thiên Chúa tỏ mình ra để họ biết Người, như Đức Giê-su đã nói: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !” (Ga 9,39). Câu này gợi lại câu chuyện về các thiếu niên Do thái trong sách Đa-ni-en: Tất cả các bậc khôn ngoan thông thái Ba-by-lon không ai hiểu được mầu nhiệm của Thiên Chúa. Chỉ có các thiếu niên Do thái là được Thiên Chúa mặc khải cho (x. Đn 2,27.30). Cũng vậy, Đức Giê-su ngợi khen Thiên Chúa vì Người đã tỏ mầu nhiệm Nước trời cho những người bé mọn, tức là những kẻ tin cậy phó thác vào sự phù trì của Thiên Chúa.

- C 26-27: + Đó là điều đẹp ý Cha: Đức Giê-su luôn làm đẹp lòng Cha (x. Mt 3,17 ; 26,42 ; Ga 4,34). + Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi: Ngôn sứ Đa-ni-en được mặc khải cho biết chuyện Con Người được Đấng Cao Niên (Thiên Chúa) ban tặng tất cả mọi sự (x. Đn 7,14). Ở đây, Đức Giê-su cũng cho thấy Thiên Chúa đã giao phó mọi sự cho Người (x. Mt 28,18 ; Ga 5,22 ; 13,3). Nhất là cho Người biết rõ Cha để mặc khải cho lòai người, hầu ban cho lòai người được sống đời đời (x. Ga 17,2-3). + Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha. Cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho: “Biết” ở đây không phải là sự hiểu biết tri thức thông thường, nhưng là một sự hiểu biết thâm sâu. Là tình yêu bao gồm cả tâm hồn và thể xác.

- C 28: + Tất cả hãy đến với tôi: Đức Giê-su mời gọi mọi người hãy theo làm môn đệ của Người, tức là vâng nghe lời Người dạy và sống theo gương mẫu tốt lành của Người. + Những ai đang vất vả mang gánh nặng nề: Chính Đức Giê-su là Con Người được đề cập trong sách Đa-ni-en, ở đây lại xuất hiện dưới danh xưng Con Thiên Chúa, là Vua và là Đấng mặc khải Nước Trời cho những người bé mọn. Họ là những kẻ vất vả và mang gánh nặng nề mà Người kêu gọi hãy đến với Người. Đó là những người Do thái sống dưới ách của Luật cũ, và nhiều tập tục nặng nề (x. Mt 23,4). Đó còn là mọi người đang sống trên trần gian gặp nhiều gian nan thử thách.

- C 29-30: + Hãy mang lấy ách của tôi: “Ách” hay “gánh” của Đức Giê-su chính là đạo lý Tin Mừng mà Người rao giảng. + Vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường: Đạo lý của Đức Giê-su được tóm lại trong ba điều chính sau: Một là Tin, nghĩa là trở thành môn đệ của Người. Hai là khiêm nhường, nghĩa là hạ mình xuống trước mặt Thiên Chúa. Ba là hiền lành, nghĩa là đối xử khoan dung nhân hậu đối với tha nhân. + Vì ách tôi êm ái: Câu này cho thấy Đức Giê-su đòi môn đệ phải giữ luật theo tinh thần Tám Mối Phúc Thật (x. Mt 5,17.20), thay cho thái độ vụ Lề Luật, và nặng hình thức (x. Mt 5,21-22 ; 6,1-18). Đức Giê-su cũng dạy môn đệ đừng bắt chước các đầu mục Do thái là các kinh sư và người Pha-ri-sêu, vì họ chỉ nói mà không làm (x. Mt 23,2-7). + Và gánh tôi nhẹ nhàng: Khi tuân giữ các điều Luật dạy với lòng yêu mến, thì bất cứ điều khoản nào dù khó giữ đến đâu đi nữa, cũng sẽ hóa nên nhẹ nhàng êm ái đối với những ai có lòng mến Chúa.

II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).

2. CÂU CHUYỆN:
- LUÔN VUI TƯƠI VÌ CÓ TÂM HỒN HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG:
Nhà văn TÔN-TOI (Tolstoi) đã kể một câu chuyện sau để khuyên người ta phải sống lạc quan:
Một hôm, một con chó sói kia gặp thấy con sóc có bộ lông màu nâu đang nhởn nhơ gặm củ cà rốt trên một cành cây gần mặt đất, sói liền nhe hàm răng nhọn hoắc ra, gầm gừ đe dọa và hỏi sóc nâu rằng: “Này tên sóc nâu khốn kiếp kia. Tại sao tao thấy họ hàng sóc bọn bay lúc nào cũng vui vẻ nhảy nhót ăn uống như thế ? Bộ chúng bay không thấy ông nội của chúng bay đang rầu thúi ruột ra đây hay sao ?” Bấy giờ chú sóc nâu kia vội leo lên cành cao hơn để đề phòng bất trắc. Sau khi ngồi an toàn trên cành, sóc nâu mới trả lời chó sói rằng: “Thưa ông sói. Sở dĩ ông luôn cảm thấy buồn thúi ruột vì ông là kẻ gian ác, lúc nào cũng để lòng giận hờn, luôn tìm cách bắt nạt và giết hại những kẻ yếu đuối hơn mình. Còn họ sóc nhà chúng tôi luôn cảm thấy vui tươi và nhảy nhót suốt ngày, vì chúng tôi sống hiền lành, hòa thuận với mọi loài vật khác và không làm hại bất cứ ai”.

Câu trả lời của chú sóc nâu rất phù hợp với bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su là một con người lạc quan. Dù vừa gặp phải thất bại ở các thành ven Biển Hồ (x. Mt 11,20-24), nhưng Người vẫn nhận ra thánh ý Chúa Cha: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho các bậc khôn ngoan thông thái biết những điều mầu nhiệm này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha (Mt 11,25-26).

Còn chúng ta, sau khi gặp một vài sự chống đối hay thất bại trong việc truyền giáo, chúng ta thường cảm thấy chán nản và muốn buông xuôi. Chúng ta hãy xin Chúa ban tinh thần lạc quan của Đức Giê-su, để dù gặp phải đau khổ thất bại, vẫn dâng lời ngợi khen cảm tạ, vì biết rằng sự thất bại chỉ là nhất thời, là dịp để chúng ta học tập rút kinh nghiệm. Hy vọng sẽ tới ngày chúng ta sẽ trở thành thợ gặt mùa lúa bội thu của Thiên Chúa như lời Đức Giê-su tiên báo hôm nay.

- KINH NGHIỆM CỦA MỘT NGƯỜI GẶP CHÚA:
Một cô sinh viên Công giáo kia vừa bắt gặp quả tang người yêu lừa dối phản bội mình thì cảm thấy rất buồn chán. Rồi khi về đến nhà, cô lại bị mẹ rầy la vị sự ngây thơ khờ dại của mình. Cô chạy xe đến tìm mấy người bạn thân, để chia sẻ tâm sự mong được an ủi. Nhưng thật không may: đứa thì đi học, đứa thì đi làm, đứa khác đang đi chơi với bạn trai… Trời đã về chiều và đường phố đang giờ tan tầm, cô chạy lòng vòng ngoài đường đông đúc xe và bị mắc kẹt tại giao lộ, phải chịu đựng những tiếng ồn ào và hít mùi khói xăng mù mịt khó chịu. Gần đó có một thánh đường đang mở cửa, cô liền đem xe vào chỗ gửi và vào nhà thờ. Bầu khí nơi đây thật trang nghiêm yên tĩnh. Cô đến quỳ ở hàng ghế đầu sát gian cung thánh nhìn lên Chúa Giê-su và thầm thì kể lể tâm sự với Người. Nói đến đâu nước mắt tuôn trào đến đó. Sau một hồi lâu, cô cảm thấy tâm hồn thật nhẹ nhàng thanh thản. Hình như tâm tư của cô đã được Chúa nghe và cảm thông rồi. Cô đã tìm thấy bình an trong tâm hồn và sẵn sàng quên đi tất cả những gì đã gây ra đau khổ cho mình. Cô hy vọng một tương lai tốt đẹp đang chờ đón mình. Rồi cô ra lấy xe về nhà như không có chuyện gì xảy ra trước đó.
Thật đúng như lời Đức Giê-su kêu gọi trong Tin Mừng hôm nay: “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi. Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28). Lạy Chúa, xin cho con cảm nghiệm được rằng: Chỉ nơi Chúa con mới được niềm vui và sự bình an.

- SỐNG VÌ YÊU THƯƠNG:
Trong quyển nhật ký, mục sư MÁC-TIN LU-THƠ KINH (Martin Luther King), người đã hy sinh mạng sống để đấu tranh cho quyền bình đẳng của người da đen có đoạn viết như sau:
“Tôi rất hãnh diện nếu ngày tôi chết, được ai đó kể lại rằng: Lu-thơ Kinh là người đã cố gắng sống vì yêu thương. Ngày đó tôi mong các bạn có thể nói rằng: tôi đã cố gắng sống cho công lý, rằng tôi đã đồng hành với những ai thực thi công bình, rằng tôi đã dấn thân để đem lại cơm bánh cho những người đói ăn, và kẻ rách rưới có đồ mặc. Tôi mong rằng ngày đó các bạn sẽ nói rằng: Lu-thơ Kinh đã xả thân để thăm viếng những người tù tội, và yêu thương phục vụ hết mọi người, nhất là những nạn nhân của sự kỳ thị chủng tộc… Còn tất cả những thứ khác, như giải No-bel Hòa Bình 1964 không quan trọng nên chẳng cần phải nhắc lại…”
Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên con giống hình ảnh yêu thương của Chúa. Chúa đã phú ban cho con một trái tim biết yêu thương. Xin cho con biết luôn tìm kiếm hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống trong sự hòa thuận tha thứ và khiêm nhường phục vụ. Nhất là xin cho con biết yêu thương những người nghèo khổ đang sống bên con, vì họ là hiện thân của Chúa.

- LỊCH SỬ LỄ THÁNH TÂM:
Khi Chúa Giê-su bị treo trên thập giá, thánh sử Gio-an đã nhấn mạnh tới vết thương ở cạnh sườn Người: “Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,33-34).
Trước thế kỷ 12, Hội Thánh có thói quen tôn kính các vết thương của Chúa Giê-su. Nhưng từ thế kỷ 13, Hội Thánh bắt đầu tôn kính Trái tim Chúa, là cơ quan biểu tượng cho Tình yêu của Người. Đến năm 1695, nữ tu Mác-ga-ri-ta thuộc dòng Đức Mẹ Thăm Viếng ở Pháp, đã được Chúa Giê-su hiện ra phán bảo rằng: “Đây là Trái Tim đã yêu mến loài người quá bội, mà loài người vô tình tệ bạc, lại còn khinh mạn dể duôi”. Rồi Chúa truyền phải phổ biến lòng tôn sùng Trái Tim Chúa trên khắp thế giới. Giáo Hội cổ động việc tôn sùng này như một phương tiện để chống lý thuyết sai lầm lan tràn vào thời đó, chủ trương Thiên Chúa là Đấng nghiêm minh công thẳng, không xót thương và sẽ trừng phạt các tội nhân. Vì thế Giáo Hội thấy càng phải đề cao lòng thương xót của Chúa. Nên đến cuối thế kỷ thứ 18, Giáo Hội đã thiết lập lễ Thánh Tâm Chúa Giê-su.
Phương thế để tôn sùng Trái Tim Chúa Giê-su là siêng năng làm việc đền tạ. Việc đền tạ gồm hai phần chính: Một là giục lòng kính mến Chúa, thay cho những kẻ đã vô tình bạc nghĩa với Người. Hai là dâng những lời ngợi khen, ăn năn và cầu xin ơn tha thứ thay cho những kẻ đã dám cả lòng xúc phạm đến Thánh Tâm Chúa.

3. SUY NIỆM:
- Đức Giê-su mời gọi chúng ta đến với Người: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi. Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28). Gánh nặng ở đây là gánh nặng của đau khổ, hậu quả của những lần vấp ngã, của trách nhiệm, của sự chịu đựng tha nhân… Tất cả những ai bị căng thẳng và lo âu, chán chường và mệt mỏi, hãy đến với Đức Giê-su. Nhờ được gặp Người, họ sẽ tìm lại được sự bình an cho tâm hồn.

- Đức Giê-su còn nói: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,29). Đức Giê-su không ngần ngại nói đến ách của Người, mà những ai đến với Người phải mang. Người không giấu ta về những đòi hỏi nghiêm túc, về con đường chật hẹp leo dốc mà ít người muốn đi, về thập giá mà ta phải vác hàng ngày theo sau Người. Như thế, sự an bình thư thái Người hứa ban, không phải là thứ bình an dễ dãi, nhưng là bình an ngay khi đang chịu đau khổ, vì biết mình được Chúa yêu thương và xác tín mình đang làm theo thánh ý Chúa.
- Đức Giê-su cũng nói: “Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,30). Sở dĩ ách của Đức Giê-su êm ái và gánh của Người nhẹ nhàng, là do chúng được đón nhận trong tình yêu. Tình yêu làm cho mọi sự trở nên êm nhẹ. Thánh Au-gút-ti-nô nói: “Nơi đâu có tình yêu, thì sẽ không có vất vả. Mà giả như có vất vả, thì người ta cũng thích sự vất vả đó”.

- Hãy học với tôi: Đức Giê-su kêu gọi chúng ta trở thành môn đệ của Người, học bài học yêu thương trong trái tim khiêm nhu hiền hòa của Người. Khi mang trong mình những tâm tình của Đức Giê-su, thì tâm hồn chúng ta sẽ được bình an. Cần từ bỏ những tự mãn về sự khôn ngoan của mình, cần sống khiêm nhu nhỏ bé như một trẻ thơ. Khi ấy chúng ta mới được Đức Giê-su mặc khải cho và  sau này sẽ được hưởng Thánh Nhan Thiên Chúa.

4. THẢO LUẬN:
Theo bạn, ngày nay chúng ta thường mang những gánh nặng nào ? Luật đạo có phải là cái ách nặng đè lên chúng ta không ? Các việc bổn phận như dự lễ cầu nguyện sớm tối có phải là gánh nặng không ? Làm thế nào để các việc ấy trở thành ách êm ái và gánh nhẹ nhàng như lời Chúa hứa hôm nay ?

5.  NGUYỆN CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Chúa đã đến và ban cho con muôn ngàn hồng ân cả về thể xác cũng như tâm hồn. Chúa lại muốn cho con quảng đại chia sẻ cho tha nhân những hồng ân ấy. LẠY CHÚA. Này thân xác con với đôi mắt, tay chân, tài năng, sắc đẹp… Này tâm hồn con với trí khôn hiểu biết, tình cảm yêu thương, ý muốn tự do… Con xin dâng tất cả cho Chúa. Nhiều khi con gặp thất bại là do lỗi của con thế mà con hay than thân trách phận, có khi còn xúc phạm khi đổ lỗi tại Chúa. Giờ đây, con xin lỗi Chúa và quyết tâm chỉ yêu mến và phụng sự một mình Chúa mà thôi. LẠY CHÚA. Đời con được bao phủ bằng biết bao hồng ân của Chúa. Cuộc đời con luôn có bàn tay Chúa dìu dắt hướng dẫn. Có Chúa đi với con, con nào có sợ chi ai ? Xin giúp con khám phá nơi con những khả năng Chúa ban, biết trân trọng những thứ của cải vật chất Chúa trao cho con quản lý, và xin cho con biết tận dụng những cơ hội, để làm sáng danh Chúa và mưu ích cho phần rỗi các linh hồn.

- LẠY CHÚA. Xin cho con trở nên đơn sơ bé nhỏ, để con có thể nghe được tiếng Chúa phán dạy, để thấy Chúa đang hiện diện và hoạt động nơi con. Con đang sống giữa một thế giới đầy những cạm bẫy và gian dối lừa lọc, xin cho trái tim con đừng hóa sơ cứng như đá, ích kỷ khép kín và nghi ngờ mọi người đến với con. Xin dạy con sống hiền hòa như Chúa, để con biết cảm thông nỗi đau của người khác và sẵn sàng bao dung tha thứ những xúc phạm của tha nhân. Xin dạy con sống khiêm nhu để luôn vâng theo ý Chúa qua ý bề trên và những góp ý xây dựng của những người chung quanh. Cuối cùng, xin giúp con tìm thấy sự bình an trong tâm hồn, và luôn vui vẻ dấn thân trên con đường chật hẹp, lên dốc với Chúa, chấp nhận những đau khổ thử thách với lòng tin cậy phó thác. Nhờ đó, con hy vọng sẽ được Chúa ban thưởng hạnh phúc Thiên Đàng đới sau.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

 LM ĐAN VINH -  HHTM

 

TÌNH THA THIẾT

(Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, năm A)

THÁNH TÂM CHÚA – CÕI AN BÌNH MIÊN VIỄN
LÒNG XÓT THƯƠNG – NƠI TÍN THÁC SUỐT ĐỜI

Thiên Chúa mời gọi và hứa: “Ai khát, hãy đến; ai muốn, hãy đến lãnh nước trường sinh mà không phải trả tiền” (Kh 22:17). Chúa Giêsu cũng nhắn nhủ và động viên: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:28). Phàm nhân thật là hạnh phúc, bởi vì thân phận bụi tro chẳng đáng gì mà vẫn được Thiên Chúa ưu ái quá đỗi!

Thánh Tâm và Lòng Thương Xót không thể tách rời, vĩnh viễn chỉ là MỘT. Thánh Tâm chứa đựng Lòng Thương Xót, và Lòng Thương Xót là nhịp đập yêu thương của Thánh Tâm. Trái tim nằm trong cơ thể, vì thế mà Thánh Tâm cũng bất khả phân ly đối với Thánh Thể. Đó là mối liên kết mầu nhiệm trong mối tình tha thiết của Chúa Giêsu.

Cơ thể con người là một kỳ công của Thiên Chúa. Cả cơ thể con người là một khối tổng hòa kỳ diệu. Mỗi cơ phận đều là một thế giới diệu kỳ, nhưng trái tim là cơ phận đặc biệt nhất. Tim có nhiệm vụ phân phối máu đi khắp các mạch máu, kể cả trung tâm não bộ. Nếu mắc nối tiếp các mạch máu trong cơ thể sẽ thành một đường dài 96.559 km. Tim còn có điểm đặc biệt là tự đập nhịp, không nhờ sự giúp đỡ của não hoặc cột sống, vì khi lấy tim ra thì nó vẫn “nhảy nhịp”. Và mỗi cơ tim đều tự đập được.

Tim điều phối máu. Trong máu có sự sống. Máu còn được chia thành nhiều nhóm – dựa theo một số chất cacbohydrat và protein đặc thù trên hồng cầu. Có khoảng 46 nhóm khác nhau, nhưng các nhóm chính là O, A, B và yếu tố Rhesus (Rh). Máu của mỗi nhóm có thể có kháng thể chống lại những nhóm kia. Do đó, khi truyền máu khác nhóm vào, kháng thể của người nhận có thể phá hủy máu, gây tác hại cho cơ thể. Đặc biệt máu O có thể nhận thêm nhóm máu hiếm 2 là OA. Nghiên cứu thấy có 1-7 người trong nhóm này thuộc hệ nhóm máu người được ghi nhận bởi Tổ chức Quốc tế về Truyền máu (ISBT – International Society of Blood Transfusion, thành lập năm 1935, có khoảng 1700 thành viên ở 97 quốc gia).

Trái tim đặc biệt cả về lý tính và hóa tính. Không chỉ vậy, tim còn là “trung tâm tình cảm” (đầy đủ thất tình của con người). Tim là trung tâm sự sống, tim chết thì người ta chết. Não chỉ là trung tâm điều khiển. Vì thế, tim rất quan trọng, nó cần duy trì khỏe mạnh ổn định chứ không thể yếu hoặc thất thường. Tim mà đau thì cả thân xác rời rã. Cơn đau tim có thể xảy ra với bất kỳ ai, dù già hay trẻ, dù nam hay nữ, và cơn đau tim thường xảy ra vào buổi sáng (từ khoảng 6 giờ tới trưa). Khi lên cơn đau tim, người ta có thể tử vong trong vòng bốn giờ.

Người ta thường dùng hình trái tim có lưỡi gươm đâm thâu để diễn tả tình yêu. Điều đó cho thấy “yêu là khổ”, vì yêu phải CHO nhiều hơn NHẬN. Như vậy, yêu không chỉ “khổ” mà còn “lỗ” to! Thế nhưng không ai lại không thích yêu. Đó là loại thuốc “đắng” vô cùng mà ai cũng thích sử dụng. Tim có lý lẽ riêng mà chính lý lẽ cũng không thể lý giải. Lạ quá chừng! Và quả thật, Chúa Cha đã yêu thương chúng ta đến nỗi ban chính Con yêu dấu của Ngài là Đức Kitô (Ga 3:16), chính Chúa Giêsu cũng yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân (Rm 5:8), Ngài còn si tình đến mức chịu khổ nạn và chịu chết để chứng minh tình yêu Ngài dành trọn cho chúng ta.

Thế kỷ XVII, khi mặc khải Thánh Tâm cho Thánh nữ Margaritta Maria Alacoque, một nữ tu khiêm nhường của Dòng Thăm Viếng ở Paray-le-Monial, Chúa Giêsu đã cho thánh nữ thấy Thánh Tâm Ngài có lửa cháy, bị vòng gai quấn quanh, và bị lưỡi gươm đâm thâu. Lần hiện ra quan trọng xảy ra trong tuần bát nhật lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu (Corpus Christi) năm 1675, có thể vào ngày 16 tháng 6, Chúa Giêsu nói: “Hãy ngắm nhìn Thánh Tâm Ta yêu thương nhân loại biết bao… Nhưng thay vì được biết ơn, Ta chỉ nhận được sự vô ơn…”. Ngài yêu cầu Thánh nữ vận động thành lập lễ kính Thánh Tâm vào Thứ Sáu sau lễ kính Mình Máu Thánh. Và ngày 11-6-1899, theo lệnh của ĐGH Lêô XIII, cả thế giới đã được tận hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Thánh Tâm Chúa Giêsu là Trung Tâm Tình Thương Tha Thiết, nơi tuôn chảy Nguồn Tình với hai dòng Máu và Nước. Dù chỉ là tội nhân, nhưng chúng ta được diễm phúc trở thành con cái của Thiên Chúa, là “dân riêng” của Ngài: “Anh em là một dân thánh hiến cho Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em. Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã chọn anh em từ giữa muôn dân trên mặt đất, làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người” (Đnl 7:6).

Chăc chắn nhân loại không thể nào hiểu thấu Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Đúng là Ngài si tình thực sự. Tại sao? Đây là lý do: “Đức Chúa đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân. Nhưng chính vì yêu thương anh em, và để giữ lời thề hứa với cha ông anh em, mà Đức Chúa đã ra tay uy quyền đưa anh em ra và giải thoát anh em khỏi cảnh nô lệ, khỏi tay Pharaô, vua Ai Cập” (Đnl 7:7-8). Thánh Vịnh gia đã cảm nghiệm: “Thân phận con khốn khổ nghèo hèn, nhưng Chúa hằng nghĩ tới” (Tv 40:18). Còn chúng ta quá tệ bạc, vẫn không ngừng vô ơn bội nghĩa!

Phân tích tỉ mỉ hơn, Kinh Thánh nhắc nhở: “Anh em phải biết rằng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thật là Thiên Chúa, là Thiên Chúa trung thành: cho đến muôn ngàn thế hệ, Người vẫn giữ giao ước và tình thương đối với những ai yêu mến Người và giữ các mệnh lệnh của Người. Còn ai thù ghét Người thì Người nhằm chính bản thân nó mà trả đũa, khiến nó phải chết; với kẻ thù ghét Người, Người không trì hoãn, Người nhằm chính bản thân nó mà trả đũa” (Đnl 7:9-10). Có lẽ chúng ta cảm thấy cách nói của Cựu Ước có “tính hù dọa”, nhưng thời đó là thời “mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, chỗ gãy đền chỗ gãy” (Xh 21:24; Lv 24:20; Đnl 19:21), nên ngôn ngữ diễn tả “thô” và thẳng thắn như vậy thôi. Ông Mô-sê kết luận rạch ròi: “Vậy anh em phải tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định mà hôm nay tôi truyền cho anh em đem ra thực hành” (Đnl 7:11). Và chắc chắn chúng ta không thể không thực hiện. Cựu Ước vẫn luôn cần cho thời đại ngày nay. Chúa Giêsu cũng không hủy bỏ luật Mô-sê, mà Ngài kiện toàn lề luật (Mt 5:17).

Được làm người, bổn phận của chúng ta không chỉ có vậy, một trong các bổn phận quan trọng khác là chúc tụng và tạ ơn Chúa. Thánh Vịnh gia tự nhủ: “Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi, toàn thân tôi, hãy chúc tụng Thánh Danh! Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi, chớ khá quên mọi ân huệ của Người” (Tv 103:1-2). Đó cũng là lời nhắc nhở chúng ta, nghĩa là chúng ta phải làm vậy vì nhiều lý do: “Chúa tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi, thương chữa lành các bệnh tật ngươi. Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà, ban cho đời ngươi chứa chan hạnh phúc, khiến tuổi xuân ngươi mạnh mẽ tựa chim bằng. Chúa phân xử công minh,bênh quyền lợi những ai bị áp bức, mặc khải cho Mô-sê biết đường lối của Người, cho con cái nhà Ít-ra-en thấy những kỳ công Người thực hiện” (Tv 103:3-7). Chúng ta được chữa lành quá nhiều, thế thì lẽ nào lại vô ơn bạc nghĩa? Chắc chắn không tạ ơn là không thể được!

Tình yêu là bản chất Thiên Chúa. Ngài cũng là hiện thân của lòng thương xót, luôn chạnh lòng và động lòng trắc ẩn với những kẻ khốn cùng: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương, chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi. Người không cứ tội ta mà xét xử, không trả báo ta xứng với lỗi lầm” (Tv 103:8 và 10). Kẻ khốn cùng đó là ai? Còn ai trồng khoai đất này ngoài chúng ta? Và rồi Ngài còn “chắc cú” để chúng ta được an toàn bằng cách “ném tội lỗi thật xa chúng ta” (x. Tv 103:12). Chúng ta sướng rơn rồi còn gì!

Bởi vì Thiên Chúa là tình yêu, Ngài không chỉ mong muốn mà còn bắt buộc chúng ta phải yêu thương nhau. Cũng là điều hoàn toàn hợp lý thôi. Tông đồ Tình yêu Gioan lý luận: “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai KHÔNG yêu thương thì KHÔNG biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:7-8). Rất rõ ràng, rất rạch ròi!

Còn nữa, người-môn-đệ-Chúa-yêu giải thích: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4:9-10).

Và chính vị tông đồ trẻ này đã đưa ra cái “nếu” khiến chúng ta phải “đâu cái điền”, nhưng đây cũng là lời mời gọi: “Anh em thân mến, nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau. Thiên Chúa chưa ai được chiêm ngưỡng bao giờ. NẾU chúng ta yêu thương nhau thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta mới nên hoàn hảo. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được rằng chúng ta ở lại trong Người và Người ở lại trong chúng ta: đó là Người đã ban Thần Khí của Người cho chúng ta. Phần chúng tôi, chúng tôi đã chiêm ngưỡng và làm chứng rằng: Chúa Cha đã sai Con của Người đến làm Đấng cứu độ thế gian” (1 Ga 4:11-14).

Thật là chí lý với hệ lụy lô-gích và minh nhiên: “Hễ ai tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa thì Thiên Chúa ở lại trong người ấy, và người ấy ở lại trong Thiên Chúa. Còn chúng ta, chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó. Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4:15-16). Tin vào tình yêu Thiên Chúa là tín thác vào lòng thương xót của Ngài, tin bằng cả con người của chúng ta chứ không bằng môi miệng hoặc theo phong trào – qua việc tham gia các hội đoàn.

Sau khi quở trách các thành đã chứng kiến phần lớn các phép lạ Ngài đã làm mà không sám hối, Chúa Giêsu thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 11:25). Và Ngài nói với họ: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho” (Mt 11:27). Họ là ai? Là những người “chứng kiến phép lạ mà không sám hối”. Và họ cũng chính là chúng ta, vì chúng ta cũng đã chứng kiến nhiều phép lạ trong đời thường mà đức tin vẫn xơ cứng, tệ hơn nữa là lại cứ “đua nhau” tìm kiếm các “sự lạ” ở nơi kia hoặc nơi nọ, còn chính mình hàng ngày vẫn nhận lãnh phép lạ mà lại coi như là chuyện tất nhiên. Hãy cẩn trọng!

Kiên trì, nhẫn nại và mong chờ mòn mỏi, Chúa Giêsu vẫn không ngừng mời gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11:28-30). Hiền hậu và khiêm nhường liên quan chặt chẽ với nhau, êm ái và nhẹ nhàng cũng có liên quan lẫn nhau. Lời mời gọi đó không chỉ dành cho ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu hoặc tháng Sáu, mà dành cho mọi lúc với tần suất 24/7.

Thật vậy, từng giây từng phút, Chúa Giêsu vẫn tha thiết mời gọi mỗi chúng ta: “Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15:9). Về “tình trạng” ở-lại-trong-tình-thương đó, chính Ngài cũng đã giải thích: “Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người” (Ga 15:10). Không còn mơ hồ, và cũng không thể hiểu theo cách khác. Yêu ai thì “chiều” theo người đó, muốn làm vừa lòng người đó và muốn nên giống người đó.

Trong cuộc sống đời thường, chúng ta thấy có nhiều loại trung tâm để cứu vớt người ta về thể lý hoặc tinh thần. Các trung tâm đó được thành lập để “cấp cứu”. Nhưng có lẽ Trung Tâm Cấp Cứu thể lý được chú ý nhiều. Mỗi khi nghe tiếng còi hú của xe cứu thương, chúng ta cảm thấy có điều gì đó sâu lắng. Tuy nhiên, có một Trung Tâm Cấp Cứu quan trọng nhất và cần thiết nhất, độc nhất vô nhị, đó chính là Trung Tâm Thương Xót: Thánh Tâm Chúa Giêsu. Đến bất cứ trung tâm nào thì người ta cũng phải trả phí, nhưng người ta vẫn phải đến, còn ai đến Trung Tâm Thương Xót của Siêu Bác Sĩ Giêsu thì đều được miễn phí hoàn toàn – dù bệnh nhân giàu hay nghèo, già hay trẻ. Thế mà tại sao chúng ta lại ngại đến?

Ngày xưa, Thiên Chúa đã phải thốt lên: “Dân Ta cứ miệt mài buông theo bội tín, chúng được kêu mời hãy vươn lên, mà chẳng một ai ngóc đầu dậy!” (Hs 11:7). Ôi, tình thương thật tha thiết. Và ngày nay, Ngài cũng vẫn đang nói với những con người của thế kỷ XXI như vậy.

Kính lạy Thiên Chúa Tình Yêu, Thánh Tâm Chúa Giêsu đã yêu thương chúng con đến cùng, được minh chứng qua hai Dòng Tình là Máu và Nước tuôn trào từ vết thương nơi Thánh Tâm Ngài. Đó là vết đâm của lưỡi giáo, nhưng vết thương đó đã hóa nên Dấu Tình và Cửa Lòng Thương Xót dành cho chúng con. Xin giúp chúng con biết vào Cửa Lòng Thương Xót để được đóng Dấu Tình của Ngài, nhờ đó chúng con được sống dồi dào trong tình yêu vĩnh hằng. Ngài là Đấng cứu độ chúng con, là Đấng hằng sinh và hiển trị với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

DỊ NHI

(Lễ Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả – 24 tháng 6)

Sinh nhật là ngày kỷ niệm một sinh vật ra đời làm người – với đầy đủ nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, đặc biệt là được làm con cái của Thiên Chúa. Sinh nhật là một ngày đáng nhớ, dù số phận có thế nào, không ai giống ai. Giáo Hội xác định: “Mọi người đều có quyền hưởng một nền giáo dục đầy đủ và xứng hợp với thiên chức làm người của mình, mỗi ngày một tham gia vào đời sống xã hội, nhất là về kinh tế và chính trị, một cách tích cực hơn, hầu có thể hưởng dụng di sản văn hóa thiêng liêng của nhân loại một cách dễ dàng hơn, hợp với chức vị là người con của Thiên Chúa” (Tuyên Ngôn Giáo Dục, Công đồng Vatican II).

Đa số người ta sinh ra đều rất bình thường, nhưng có một số người khá đặc biệt ngay từ khi lọt lòng mẹ, bằng cách này hay cách nọ, theo Thánh Ý của Thiên Chúa quan phòng và tiền định từ thuở đời đời, mỗi người có một danh phận và được đặt ở một vị trí theo ý muốn của Thiên Chúa, chúng ta có muốn khác cũng không được.

Thời Cựu Ước, Thiên Chúa phán với ông Giêrêmia: “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân” (Gr 1:5). Ông lo sợ không biết ăn nói, nhưng Thiên Chúa bảo ông đừng sợ, rồi Ngài chạm vào miệng ông và đặt lời Ngài vào miệng ông (Gr 1:8-9). Thời Tân Ước, khi thấy những điều lạ ở ông bà Dacaria và hài nhi Gioan, người ta thắc mắc: “Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây?” (Lc 1:66). Quả thật, bé Gioan là một dị nhi, được Thiên Chúa tác tạo để làm người tiền phong cho Đấng Cứu Thế.

Kinh Thánh cho biết lời kêu gọi của ngôn sứ Isaia: Hỡi các đảo, hãy nghe tôi đây, hỡi các dân tộc miền xa xăm, hãy chú ý: Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi. Người đã làm cho miệng lưỡi tôi nên như gươm sắc bén, giấu tôi dưới bàn tay của Người. Người đã biến tôi thành mũi tên nhọn, cất tôi trong ống tên của Người” (Is 49:1-2). Ông Isaia xác định về ơn gọi của ông được Thiên Chúa tiền định từ khi ông chưa ra đời.

Thiên Chúa nói với ông rằng ông là người tôi trung, và Ngài dùng ông để “biểu lộ vinh quang của Ngài” (Is 49:3), còn ông cho biết rằng ông đã “vất vả luống công, phí sức mà chẳng được gì” (Is 49:4a). Qua những gì đã xảy ra, ông xác tín: “Nhưng sự thật, đã có Đức Chúa minh xét cho tôi, Người dành sẵn cho tôi phần thưởng” (Is 49:4b). Hạnh phúc đó ông xứng đáng được tận hưởng vì vinh danh Thiên Chúa.

Ông cho biết thêm: “Giờ đây Đức Chúa lại lên tiếng. Người là Đấng nhào nặn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ để tôi trở thành người tôi trung, đem nhà Gia-cóp về cho Người và quy tụ dân Israel chung quanh Người. Thế nên tôi được Đức Chúa trân trọng, và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi” (Is 49:5). Thiên Chúa thấu suốt mọi sự từ đời đời, và Ngài cũng quan phòng và tiền định mọi thứ từ đời đời. Chính vị Thiên Chúa toàn năng đó đã trao thêm trọng trách cho ông: “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta để tái lập các chi tộc Gia-cóp, để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về thì vẫn còn quá ít. Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49:6).

Thật vậy, Thánh Vịnh gia đã thân thưa: “Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả” (Tv 139:1-3). Ngài không biết rõ sao được, bởi vì Ngài là Đấng tạo dựng nên chúng ta kia mà!

Tất cả mọi sự, cả vô hình và hữu hình, cả điều lớn lẫn điều nhỏ nhất, Thiên Chúa đều biết rõ mười mươi: “Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con. Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu! Hồn con đây biết rõ mười mươi. Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì, khi con được thành hình trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu” (Tv 139:13-15). Ai đau xác hoặc khổ hồn thì Thiên Chúa đều thấu suốt, Ngài có để cho chúng ta chịu đau khổ là vì lợi ích của chúng ta. Thật vậy, Thomas Carlyle (1795-1881 – triết gia, nhà văn châm biếm, nhà viết luận, sử gia và nhà giáo người Tô Cách Lan) đã nhận định: “Tai ương là bụi kim cương mà Thiên Đàng dùng để đánh bóng châu báu”. Ý Chúa nhiệm mầu, chúng ta không thể nào hiểu nổi!

Đau khổ là một mầu nhiệm. Chúa Giêsu vẫn nhắc nhở mọi người về việc chịu đau khổ: Vác Thập Giá hằng ngày. Và “cửa hẹp” là một phần trong hành trình đức tin mà ai cũng phải cố gắng “đi vào”.

Việc “vào cửa hẹp” đã được Thánh Phaolô nhắc lại lời Chúa Giêsu khi ông rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại: “Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy. Có kẻ hỏi Người: “Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?”. Người bảo họ: “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được. Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khoá cửa lại, mà anh em còn đứng ở ngoài, bắt đầu gõ cửa và nói: “Thưa ngài, xin mở cho chúng tôi vào!” thì ông sẽ bảo anh em: “Các anh đấy ư? Ta không biết các anh từ đâu đến!” (Cv 13:25-26).

Cửa hẹp chẳng bao giờ dễ vào, đau khổ luôn gây khó chịu. Ai chịu được đau khổ và vào được cửa hẹp thì sẽ trở nên mạnh mẽ và chiến thắng. Những người sống khắc khổ như vậy thường bị người ta cho là dại dột hoặc ngu xuẩn, thế nhưng chính những người can đảm đó lại trở thành các “dị nhân” của Thiên Chúa. Các Kitô hữu là những người có lối sống “không giống ai” nên ở đâu họ cũng bị bách hại, đủ kiểu và đủ mức. Khổ vô tận!

Trình thuật Lc 1:57-66. 80) cho biết sự kiện “dị nhi” Gioan Tẩy Giả ra đời, láng giềng chia vui nhưng cũng vô cùng ngạc nhiên. Tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà Êlidabét sinh hạ một con trai. Nghe biết Chúa đã quá thương bà như vậy, láng giềng và thân thích đều chia vui với bà.

Tám ngày sau, lúc con trẻ chịu phép cắt bì theo tục lệ. Người ta tính lấy tên cha là Dacaria mà đặt cho “thằng cu”, nhưng bà mẹ liền phản đối, bắt phải đặt tên con là Gioan. Lại kỳ dữ nghen! Thế nên họ bảo rằng trong họ hàng chẳng ai có tên như vậy cả. Người ta làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em bé là gì. Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết: “Tên cháu là Gioan”. Ái chà, vợ chồng “ăn ý” ghê ta! Ai nấy đều bỡ ngỡ, tròn mắt nhìn nhau mà chả hiểu gì ráo trọi.

Và rồi ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông lại mở ra và chúc tụng Thiên Chúa. Tự dưng “ông câm” Dacaria lại nói được bình thường. Ái chà, cái vụ này càng lạ dữ nghen! Láng giềng ai nấy đều kinh sợ, chuyện lạ về gia đình ông Dacaria được đồn ra khắp miền núi Giuđê rất nhanh. Ai nghe cũng trợn mắt chữ O và tròn miện chữ A, nhưng rồi chỉ biết để bụng, suy nghĩ và tự hỏi: “Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây?”. Và quả thật, đó là tác động của bàn tay Thiên Chúa, “dị nhi” Gioan được Ngài phù hộ để chuẩn bị theo kế hoạch của Ngài.

Thánh Luca cho biết rằng Cậu Bé Gioan “càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh” và “sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Israel” (Lc 1:80). Lối sống của Chàng Gioan cũng rất khác người, phong cách rất “bụi đời”. Người đơn giản là người sống sâu sắc, sống khác người, thế nên thường bị ghét. Gioan cũng thế đấy!

Lạy Thiên Chúa toàn năng, cảm tạ Ngài đã cho con được làm người và được tái sinh làm con cái Ngài qua bí tích Thánh Tẩy, xin nâng đỡ và che chở con trong ân sủng của Ngài. Xin Thánh Gioan Tẩy Giả đồng hành với con, giúp con dám sống “bụi đời” như ngài, luôn biết thu mình nhỏ lại để Thiên Chúa được lớn mạnh, và xin luôn cầu giúp nguyện thay. Con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

NHƯ THẾ NÀO HẠNH PHÚC ?

Có một phú ông vô cùng giàu có. Hễ thứ gì có thể dùng tiền mua được là ông mua về để hưởng thụ. Tuy nhiên, bản thân ông lại cảm thấy không vui, không hề hạnh phúc.

Một hôm, ông ta nảy ra một ý tưởng kỳ quặc, đem tất cả những đồ vật quý giá, vàng bạc, châu báu cho vào một cái bao lớn rồi đi chu du. Ông ta quyết định chỉ cần ai có thể nói cho ông làm
nào để hạnh phúc thì ông sẽ tặng cả bat của cải cho người đó.

Ông ta đi đến đâu cũng tìm và hỏi, rồi đến một ngôi làng có một người nông dân nói với ông rằng nên đi gặp một vị Đại sư, nếu như Đại sư cũng không có cách nào thì dù có đi khắp chân trời góc bể cũng không ai có thể giúp ông được.

Cuối cùng cũng tìm gặp được vị Đại sư đang ngồi thiền, ông ta vui mừng khôn xiết nói với Đại sư: “Tôi chỉ có một mục đích, tài sản cả đời tôi đều ở trong cái bao này. Chỉ cần ngài nói cho tôi cách nào để được hạnh phúc thì cái bao này sẽ là của ngài”.

Lúc ấy trời đã tối, màn đêm sắp buông xuống, vị Đại sư nhân lúc ấy liền tóm lấy cái túi chạy đi. Phú ông sợ quá, vừa khóc vừa gọi đuổi theo: “Tôi bị lừa rồi, tâm huyết của cả đời tôi”.

Sau đó vị Đại sư đã quay lại, trả cái bao lại cho phú ông. Phú ông vừa nhìn thấy cái bao tưởng đã mất quay về thì lập tức ôm nó vào lòng mà nói: “Tốt quá rồi!”. Vị Đại sư điềm tĩnh đứng trước mặt ông ta hỏi: “Ông cảm thấy thế nào? Có hạnh phúc không?” – “Hạnh phúc! Tôi cảm thấy mình quá hạnh phúc rồi!”.
Lúc này, vị Đại sư cười và nói: “Đây cũng không phải là phương pháp gì đặc biệt, chỉ là con người đối với tất cả những thứ mình có đều cho rằng sự tồn tại của nó là đương nhiên cho nên không cảm thấy hạnh phúc, cái mà ông thiếu chính là một cơ hội mất đi. Ông đã biết thứ mình đang có quan trọng thế nào chưa? Kỳ thực cái bao ông đang ôm trong lòng với cái bao trước đó là một, bây giờ ông có còn muốn đem tặng nó cho tôi nữa không?”.

Câu chuyện thú vị này đã khiến tôi chợt nhận ra bản thân mình trong đó. Bạn liệu có phát hiện ra rằng, khi mất đi hoặc thiếu thứ gì đó bạn sẽ luôn nhớ về nó, nhưng khi có được rồi thì lại dễ dàng coi nhẹ, thậm chí nhìn mà dường như cũng không thấy nó?

Tuệ mẫn

June 21, 2017