July 11, 2018

suy niệm Lời Chúa..by Huệ Minh

 

Chúa nhật XIV TN

Ed 2:2-5; Tv 123:1-2,2,3-4; 2 Cr 12:7-10;

ĐỪNG THÀNH KIẾN

Từ thuở tạo thành, Kinh Thánh đã chứng minh nỗi đau, sự nghiệt ngã do lòng người cao ngạo gây ra: Tổ tông loài người đã cao ngạo đến mức không thể hiểu nổi.

Đang được làm người hạnh phúc, tự do, và thấm đẫm tình yêu Thiên Chúa đã là một ân phúc tuyệt vời, vậy mà tổ tông đã không coi đó làm đủ, lại dám nuôi một giấc mộng tầm cỡ thiên đàng: đòi bằng Thiên Chúa, Đấng mà mình phải phát xuất từ đó. Tổ tông không ngờ giấc mộng của mình lại chính là ảo vọng và tội lỗi.

Bởi cao ngạo quá đỗi, tổ tông đã kéo theo những mất mát cũng lớn không kém: mất Thiên Chúa. Bằng chứng là tổ tông đã tìm cách trốn Thiên Chúa. Mất cả tương quan với đồng loại. Mới ngày nào Ađam còn reo to vui mừng khi được Eva làm bạn: “Đây xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”. Nhưng sau khi phạm tội, tình nghĩa thắm thiết đã không còn. Nguyên tổ bắt đầu đổ lỗi cho nhau: “Người đàn bà Chúa ban cho con đã hại con”. Và trong tội, nguyên tổ đã đánh mất chính mình, trở thành những kẻ vong thân, sống trong lầm lũi, sợ hãi và tủi nhục.

Vì yêu thương con người, Thiên Chúa đã chọn và gọi những sứ giả để nói với con người về tình thương mà Thiên Chúa dành cho con người. Sứ giả là người được chọn lựa và được sai đi để loan truyền Tin Mừng cho muôn dân, là người nói nhân danh Thiên Chúa.

Đức Kitô là vị Thiên Sai đến mạc khải cho chúng ta biết về Thiên Chúa và những ý định của Ngài, nhờ đó chúng ta được cứu độ. Trong đời sống công khai, Ngài đã bị chống đối và khinh miệt, như lời thánh Gioan đã viết: Ngài đã đến nhà Ngài, nhưng gia nhân đã không tiếp nhận Ngài.

Qua trang tin mừng này, ta thấy lòng ghen tị đã làm mù quáng những kẻ mà đáng lẽ có thể tin theo Ngài. Vậy chúng ta có thái độ nào đối với lòng ghen tị. Khi người khác được thành công, được may mắn, được kính nể, chúng ta có biết cảm tạ Chúa cho họ hay không? Còn nếu như chúng ta bị người khác ghen tị, chúng ta có biết xin Chúa giúp họ chế ngự và sửa đổi lầm lỗi ấy hay không? Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho những kẻ chống đối Ngài, thì giờ đây chúng ta hãy xin Ngài giúp đỡ chúng ta biết vượt thắng sự thèm khát và lòng ghen tị nơi bản thân chúng ta, cũng như nơi những người chung quanh chúng ta.

 Đồng hương của Chúa đã sai lầm vì cao ngạo. Chính cái lý lịch xem ra rất tầm thường của Chúa mà họ đã xúc phạm nặng nề với Chúa: “Bởi đâu ông này được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao?”. Cũng chính cái lý lịch ấy, làm cho họ, thay vì được nhiều ơn lành từ Chúa Giêsu, thì ngược lại, họ đánh mất tất cả.

Dân làng Nagiarét mang nặng thành kiến về Đức Giêsu. Dưới mắt họ, Người chỉ là một anh thợ mộc tầm thường, nghèo nàn và chẳng có gì đặc biệt. Người xuất thân trong một gia đình nghèo hèn, không danh giá. Họ biết rõ cha mẹ, họ hàng của Người. Thấy Người làm được những việc kỳ lạ. Nghe miệng Người giảng những điều khôn ngoan. Họ ngạc nhiên, nhưng không tin. Đối với họ, Đấng Cứu Thế phải là một Đấng phi thường, không ai biết rõ nguồn gốc. Hơn nữa, Đấng Cứu Thế phải oai phong lẫm liệt, đánh đông dẹp bắc rồi lên ngôi vua trị vì thiên hạ. Đàng này, Đức Giêsu thì họ biết rõ nguồn gốc. Người lại quá hiền lành khiêm nhường.

Tướng mạo không giống như hình ảnh Đấng Cứu Thế mà họ nuôi trong đầu óc. Vì thế, họ không tin. Vì họ không tin, nên Đức Giêsu không thể làm phép lạ nào ở đó. Người bỏ họ mà đi. Không bao giờ Người trở lại Nagiarét nữa. Thật là thiệt hại cho làng quê Nagiarét. Họ đã để lỡ cơ hội đón tiếp Đấng Cứu Thế. Họ đã để lỡ cơ hội đón nhận ơn cứu chuộc. Đây là cơ hội ngàn năm một thuở. Chỉ đến một lần trong đời. Rồi thôi. Ai để lỡ sẽ không bao giờ có cơ hội chuộc lại. Thiên kiến đã làm hại họ.

“Người đã không làm phép lạ nào được”. Có Thiên Chúa ở với mình, nhưng không biết đón nhận, vì thế, họ đã đánh mất cả Thiên Chúa: Không những không thể làm phép lạ, Chúa Giêsu còn bỏ ra đi. Người “qua các làng chung quanh mà giảng dạy”. Khi cố tình đẩy Chúa Giêsu ra khỏi cuộc đời mình, những người đồng hương của Chúa đã làm tổn thương mối liên hệ với Chúa Giêsu xét như một con người: tổn thương mối tương quan giữa người với người.

Mãi đến tận bây giờ, vì không nhìn nhận Chúa Kitô là Thiên Chúa, sự cao ngạo quá mức ấy, đã làm cho người Dothái, là những đồng hương của Chúa Giêsu, đã qua hai mươi thế kỷ, vẫn cứ vuột mất ơn cứu độ, vẫn là những người mỏi mòn trông chờ Đấng Cứu Thế của lời hứa. Ngày xưa, vì cao ngạo, tổ tông đã thất bại thảm hại. Bây giờ, cũng vì cao ngạo, quê hương của người Dothái, cũng chính là quê hương của Chúa Giêsu, đã tự mình tách khỏi ơn cứu độ. Đó quả là một thất bại thảm hại còn lớn gấp ngàn lần thất bại của tổ tông.

Dù bị ngược đãi khinh khi, dù phải đối diện với lòng chai dạ đá, Đức Giêsu vẫn không ngã lòng từ bỏ sứ vụ. Thánh kinh ghi nhận: lúc đám đông không tin phục thì Ngài đi đến với “một vài bệnh nhân;” khi thành này từ khước Tin Mừng thì Chúa Giêsu lại đi rao giảng cho “các làng chung quanh.” Đây phải là thái độ không thể thiếu được nơi các ngôn sứ, những người được mời gọi rao truyền Lời Chúa cho muôn dân.

Có nhiều người ở ngoài đời thì nhẹ nhàng, tao nhã, lịch sự, về nhà lại gắt gỏng, chửi chồng đánh con hay đánh vợ chửi con. Có nhiều người thì dễ dàng mở miệng khen ngợi hàng xóm láng giếng, kể cả người dưng nước lã, thế mà, người trong gia đình, lại suốt ngày cau có, phàn nàn. Có nhiều người luôn nghĩ cách làm vui lòng hàng xóm nhưng lại tàn bạo thô thiển với gia đình dòng tộc. Có nhiều người luôn tỏ ra đáng yêu trước người dưng nước lã, nhưng lại đáng ghét với người thân họ hàng.Họ chính là những người dại khờ mà cha ông ta bảo rằng: “khôn nhà dại chợ”, hay “làm phúc nơi nao để cầu cao rách nát”.

Đó cũng là thái độ của những người đồng hương với Chúa Giêsu. Họ đã vấp phạm với Chúa. Vì họ quá biết về gốc gác, gia cảnh của Chúa. Con bác thợ mộc và bà Maria đang chung sống giữa họ. Đầu óc thủ cựu, lại nặng thành kiến nên không thể nhận ra thiên tính nơi con người của Chúa Giêsu. Dù rằng họ thán phục về tài ăn nói lưu loát của Chúa. Dù rằng họ thán phục vì sự hiểu biết Kinh Thánh của Chúa. Dù rằng họ đã chứng kiến biết bao phép lạ mà Chúa đã làm để cứu chữa các bệnh nhân khỏi đau khổ bệnh tật và khỏi cái chết đã định. Nhưng vì sự kiêu ngạo, cố chấp, dân Do Thái đã không chấp nhận một vì Thiên Chúa quá giản dị như Giêsu con của bác thợ mộc thành Nagiarét.

Đối với một dân tộc đã từng tự hào có Thiên Chúa ở cùng. Có cánh tay quyền năng của Chúa đã giúp họ đánh bại quân thù. Tâm trí họ chỉ trông đợi một Đấng Messia oai hùng, Đấng sẽ đến trị vì muôn nước và sẽ giúp họ làm bá chủ hoàn cầu. Chính vì lẽ đó, người đồng hương đã không nhận ra Chúa là Đấng Messia và còn có những lời nói, cử chỉ bất kính. Với thái độ cực đoan đó, Chúa Giêsu đã vạch trần tâm ý của họ với một lời thật xót xa “Không một tiên tri nào được kính trọng tại quê hương mình”.

Rất nhiều khi ta cũng mang nặng thành kiến. Thành kiến đối với anh em. Thành kiến đối với Chúa. Hôm nay, rút kinh nghiệm của những người dân làng Nagiarét, ta hãy tránh thành kiến bằng cách tìm học hỏi để biết Chúa, biết giáo lý của Chúa hơn. Nhất là có tâm hồn mở rộng và khiêm nhường để biết đón nhận Chúa, đón nhận thánh ý Chúa. Nếu ta khiêm tốn đón nhận, Chúa sẽ dạy dỗ ta những chân lý nước trời đem lại hạnh phúc cho ta.

Thành kiến làm chúng ta không thể đối thoại, cởi mở với người khác và không nhìn thấy cái hay cái tốt nơi người. Vì thế, chúng ta phải loại bỏ tất cả những gì là thành kiến về bản thân để khỏi tự ti mặc cảm; cũng như thành kiến về những người chung quanh, để có được một cái nhìn đúng đắn hơn, một nhận xét chân thành hơn, một phán đoán khách quan hơn, và một đời sống yêu thương cởi mở hơn.

 

Thứ Hai tuần XIV TN

  Hs 2:16-18,21-22; Tv 145:2-3,4-5,6-7,8-9; Mt 9:18-26

NIỀM TIN ĐÀO LUYỆN

Đức Giêsu được sai đến trần gian, Ngài thực hiện chương trình của Thiên Chúa là ban sự sống, là cứu chữa và tìm đến với người bất hạnh đang cần sự an ủi, nâng đỡ. Ngài luôn quan tâm đến hoàn cảnh của con người: cụ thể là người phụ nữ bị bệnh băng huyết, và con gái vị kỳ mục. Tất cả những khổ đau của con người đều có âm hưởng mạnh mẽ trong tâm hồn Chúa Giêsu. Ngài cứu chữa người này, bình phục người kia, hồi sinh người khác, đem lại phẩm giá và sự tôn trọng cho những ai đang bị loại trừ, bị coi khinh. Điều duy nhất Ngài đòi hỏi là lòng tin và sự khiêm tốn của chúng ta nơi quyền năng và lòng thương xót của Ngài.

Trang Tin Mừng hôm nay nằm trong một loạt hành động của Chúa Giêsu về việc loan báo Nước Trời. Ngài chữa lành các loại bệnh hoạn tật nguyền cho người cùng khổ, nghèo hèn. Hôm nay, Ngài đến với 2 giai cấp trong xã hội, tuy họ khác nhau về đẳng cấp chức vị : một người đàn bà bệnh tật và một cô gái nhỏ, con của vị thủ lãnh trong xã hội. Nhưng cả hai đều chung một thái độ. Đó là niềm tin vào quyền năng và tình thương của Đức Giêsu sẽ cứu chữa họ. Nhờ thế, mà họ được chữa lành.

         Mở đầu Tin Mừng, Thánh sử giới thiệu con người đến van xin Chúa cứu chữa con gái của ông. Đó là vị thủ lãnh. Chúng ta chú ý đến thái độ của ông ta  “bái lạy” và thưa : “Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng , xin Ngài đến đặt tay lên cháu là nó sẽ sống”. Ông khẳng định mạnh mẽ : Nó chết rồi, nhưng Ngài đặt tay, nó sẽ sống. Cùng với hành vi bái lạy và lời xác tín của ông cho chúng ta thấy đức tin của ông mạnh mẽ dường nào. Trước thái độ nài xin của ông, Chúa Giêsu không đòi hỏi niềm tin nào hơn nữa, thánh sử viết : Ngài đứng dậy đi theo ông.

          Trên đường đến nhà ông, có một người đàn bà bị bệnh băng huyết. Nghĩa là máu trong người bà đã bị mất rất nhiều sau 12 năm bệnh hoạn. Chắc hẳn nhìn vào con người gầy còm, xanh xao ấy mọi người đều biết bà bị mắc bệnh và bệnh này người Do thái coi là ô uế, đối với người nào vô tình chạm vào bà hoặc bà đã đụng đến họ.

         Nhưng bất chấp mọi lời đàm tiếu, những cử chỉ khinh chê của người khác, bà đã tiến đến và chạm vào áo Chúa Giêsu, và bà nghĩ : “ chỉ cần sờ vào tua áo Chúa, là được cứu” (c. 21). Niềm tin mạnh mẽ của bà này còn vượt lên niềm tin của vị thủ lãnh kia. Vì ông ta còn yêu cầu Chúa Giêsu đến dặt tay lên con ông, còn bà này , bà chỉ cần sờ đến tua áo Chúa. Bà tin, quyền năng và tình thương Chúa không chỉ trong con người Chúa Giêsu mà còn trong cả những vật mà Giêsu chạm tới. Một hành vi đơn giản, một suy luận đơn sơ nhưng mang đậm triết lý thần học : Đấng Thánh sẽ thánh hóa mọi vật mà Ngài chạm đến. Một đức tin đơn sơ của bà đã được Chúa Giêsu chính thức khen thưởng : “ Này con cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con” (c.22).

           Hành vi “sờ tua áo” lén lút của bà được Chúa tuyên dương công khai trước mặt mọi người. Ngài nhấn mạnh : lòng tin của con. Như thế chính nhờ lòng tin của bà mà bà được khỏi bệnh. Máu là biểu tượng của sự sống. Sự sống đang lần lượt ra đi khỏi con người bà, nay dừng lại. Sự sống đã trở lại và sẽ hồi sinh trong bà chỉ vì một hành vi đức tin đơn sơ của bà. Thánh sử nói tiếp : Ngay giờ ấy, bà được cứu chữa. Đức tin của bà dẫn đến hành động của Chúa Giêsu ngay tức khắc. Ngay khi bà tuyên xưng niềm tin thì ơn cứu độ đã đến với bà. Bà được cứu cả thể xác lẫn tâm hồn.

          Chúa Giêsu đến nhà viên thủ lãnh thấy quang cảnh nhà ông đã bao phủ màu tang chế. Kèn trống đang thổi inh ỏi... nhưng Ngài vẫn nói : “ Con bé không chết, nó ngủ thôi !”. Mọi người chế nhạo Chúa Giêsu. Vì cho là Người ngớ ngẩn : Đứa bé đã chết và gia đình em đã chuẩn bị cho cuộc tang lễ, bộ đầu óc ông để ở đâu mà lại phát ngôn một câu nghe không có tỉnh táo.

Họ chế nhạo vì sao Chúa quá khờ dại, không nhận ra những dấu hiệu tang tóc, đau thương. Nhưng Chúa không muốn họ ở lại đó, Ngài ra lệnh họ lui ra ngoài và Chúa tiến vào : “cầm lấy tay em bé, nó liền chỗi dậy”. Câu trả lời của Chúa đối với đám đông là ở đây, là thái độ “ cầm tay em bé” . Một cử chỉ thông truyền sự sống. Và đúng thật Đấng ban sự sống đã đến cầm tay và ban truyền sự sống cho em. Đây là đỉnh cao của sứ vụ Đấng Mêsia- Đấng có quyền trên sự chết và sự sống của con người. Đấng ban sự sống cho con người cũng là Đấng sẽ chỗi dậy sau cái chết, để mọi người cũng được sống lại như Ngài.

          Chỉ với 7 câu, Thánh sử Matthêu đã nêu bật sứ vụ của Đấng Mêsia. Đây là cuộc chữa lành không chỉ là bệnh tật mà còn là mạng sống của con người. Chúa Giêsu đã đến để kéo sự sống ra khỏi tay ác thần. Ngài ngăn chặn những tội ác xấu xa của ma quỷ đang thống trị trên thế giới, trong con người. Ngài tỏ lộ uy quyền của Đấng Mêsia- Đấng cứu độ đến từ quyền năng và tình thương của Thiên Chúa. Ngài sẽ cứu những ai đặt tin tưởng nơi Ngài, những ai dám giao phó mạng sống họ trong tay Ngài như bà bị loạn huyết và ông thủ lãnh này.

           Thế giới ngày nay đang bị ác thần thống trị khắp nơi, nhưng con người không nhận ra hoặc thậm chí không cần nhận ra điều đó. Họ sẵn sằng làm nô lệ cho đồng tiền, danh dự, vinh quang, phú quý vinh hoa giả tạo. Lương tâm của họ bị che khuất. Cảm thức về tội lỗi bị chai lỳ, không còn sức hút nhạy cảm.

           Đón nhận sự sống và ơn lành, phục hồi của Chúa, chúng ta có bổn phận tôn trọng sự sống, bảo vệ và phát triển sự sống. Không phải chỉ sự sống thể xác mà cả sự sống tinh thần và sự sống tâm linh nữa. Không chỉ sự sống nơi mình, mà còn sự sống nơi người khác nữa. Chung quanh chúng ta có biết bao con người đang bị xâm phạm, chà đạp, cách này hay cách khác, bao nhiêu trẻ em không được quyền sinh ra hay không có được những điều kiện thiết yếu nhất để sống. Chúa Giêsu đã sinh ra làm người là để cho con người được sống và sống một cách dồi dào. Chúng ta sẽ không sống trọn vẹn ơn gọi Kitô hữu nếu không biết chia sẻ sự sống nhận lãnh từ Chúa cho anh chị em mình.

Niềm tin của chúng ta cần được rèn luyện, để sau những thử thách đau thương, đức tin chúng ta được vững mạnh hơn. Không nhất thiết là được ơn, được phép lạ như người cha hay như người đàn bà bị bệnh băng huyết trong bài tin mừng hôm nay, điều quan trọng là trong mọi biến cố, chúng ta cần nhìn về phía bên kia điều Chúa muốn, để vững tin vào Chúa. Nhờ thế mà chính ta và những người chung quanh ta có thêm lòng tin cũng như gia tăng lòng cậy trông nơi Chúa.

          Ngày hôm nay, hơn bao giờ hết chúng ta bị ma quỷ thống trị mà chúng ta không biết mà còn cho đó là những vị thần cứu tinh của đời mình. Xin Chúa thức tỉnh lương tâm chúng ta. Xin khơi dậy trong tâm hồn chúng ta cái bản chất con người nguyên tuyền ban đầu mà Chúa đã dựng nên. Xin cho chúng ta dám trao cho Chúa cuộc đời của chúng ta. Xin Chúa cho chúng ta có niềm tin “đơn sơ” của người đàn bà băng huyết hay của ông thủ lãnh... để Chúa cứu chúng ta.

 

Thứ Ba tuần XVI TN

Hs 8:4-7,11-13; Tv 115:3-4,5-6,7-8,9-10; Mt 9:32-38

LỜI MỜI GỌI TRUYỀN GIÁO

Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su mời gọi mỗi Ki-tô hữu trở nên những thợ gặt để đi gặt lúa về. Sau khi trừ quỷ cho người câm, Chúa Giê-su đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền trong dân. Người thấy đám đông vất vưởng, lầm than, như bầy chiên không người chăn dắt thì chạnh lòng thương và Người nói với các môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”.

Không quản khó nhọc, vất vả ngược xuôi trên những chặng đường dài khắp xứ Palestina, Chúa Giêsu “rảo khắp các thành phố làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 9, 35). Làm biết bao việc tốt lành như thế, nhưng dường như Chúa Giêsu cảm thấy mình vẫn chưa đáp ứng hết mọi nhu cầu của con người. Chúa Giêsu “động lòng thương xót” đoàn lũ dân chúng đông đảo, vì Người thấy họ “tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn” (Mt 9,36). Tất cả thể hiện tấm lòng của Vị Mục Tử Nhân Lành Giêsu (x. Ga 10,1-30), tấm lòng thương xót của một Vì Thiên Chúa.

Hình ảnh về mùa gặt hái đã được các Tiên tri dùng để chỉ Nước Chúa Cứu thế sau này. Thời kỳ sau cùng là thời kỳ gặt hái thu lượm, nghĩa là lúc Thiên Chúa đến phán xét trong ngày tận thế. Chính Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh này trong dụ ngôn cỏ lùng và lúa. Giai đoạn sau cùng của lịch sử đã bắt đầu với việc Nước Thiên Chúa đến; tất cả đều sẵn sàng, nhưng thiếu thợ gặt. Thế giới ngày nay như một cánh đồng mênh mang, nơi có tất rất nhiều linh hồn sẵn sàng đón nhận Nước Trời nhưng phải có người chỉ đường cho họ. Chúa muốn cứu thế gian và Ngài kêu gọi sự cộng tác của con người. Lời kêu gọi của Ngài vẫn có giá trị và khẩn cấp trong mọi thời đại.

Trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, mục đích của Đức Giê-su Ki-tô, Ngôi Lời xuống thế làm người là để cứu chuộc toàn thể nhân loại. Vì thế, trước khi về trời, Chúa Giê-su đã truyền lệnh cho các tông đồ tiếp tục sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Người. Sứ vụ này được tiếp nối nhờ các giám mục là những người kế nhiệm các tông đồ, và qua các ngài cho mọi thế hệ đến tận thế.

Khi được lãnh nhận Bí tích Rửa tội, Ki-tô hữu trở nên thành phần của dân Thiên Chúa, được tham gia vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương đế của Chúa Ki-tô. Vì thế, họ có bồn phận đem Tin Mừng đến cho mọi người. Năm xưa, để cứu chuộc nhân loại, Chúa Giê-su đã chịu khổ nạn, chịu chết trên cây thập giá và sống lại từ cõi chết. Ngày nay, giáo dân loan báo Tin Mừng cho thế giới bằng chính từ đời sống của họ, cũng như qua lời nói và việc làm.

Theo thống kê của Tòa Thánh Vatican mới đây, người Kitô giáo trên toàn thế giới khoảng hơn 2 tỉ người, trong đó người Công giáo có khoảng 1 tỉ 253 triệu người. Trong khi, tổng dân số thế giới ước tính là 7 tỉ 137 người. Như vậy, chiếu theo thống kê trên, vẫn còn tới hơn 2 phần 3 dân số thế giới chưa nhận biết Tin Mừng của Đức Kitô.

Chúng ta phải truyền giáo vì Thiên Chúa muốn mọi người được hưởng ơn cứu độ. Và như vậy, mọi người đều có quyền được nghe loan báo Tin mừng cứu độ. Chúng ta phải truyền giáo còn vì ơn cứu độ mà chúng ta đã đón nhận là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa, tức là quà tặng không do công phúc của chúng ta nhưng do lòng yêu thương của Thiên Chúa, và đã là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa, thì chúng ta không được giữ lại cho riêng mình nhưng phải được trao ban cho người khác. Và cuối cùng, chúng ta phải truyền giáo vì đó là lệnh truyền giáo của Đức Giêsu, cứu Chúa của chúng ta.

Nhìn vào Giáo hội Á châu, chúng ta sẽ cảm thấy cánh đồng truyền giáo quá mênh mông. Cụ thể là Giáo hội Việt Nam vốn được xếp hàng II sau Giáo hội Philippin. Thế nhưng, trong số gần 80 triệu dân vẫn còn hơn 70 triệu người Việt Nam chưa được nghe loan báo Tin mừng, chưa được nghe biết Chúa Kitô, cứu Chúa của họ. Trách nhiệm đó thuộc về chúng ta vì đó tính khẩn cấp.

Tại Hàn Quốc, số người theo Chúa ngày càng tăng. Có được sự phát triển mạnh mẽ như thế, người giáo dân cũng đóng góp phần không nhỏ. Trở thành Ki-tô hữu cũng có nghĩa là gia nhập một hiệp hội hay phong trào và dấn thân sống đức tin Ki-tô giáo hết mình, theo các điều lệ xác định cung cách sống, đóng góp niên liễm tham dự hằng năm, và hàng ngày phải đọc một số kinh nguyện nào đó. Khi gia nhập Giáo Hội, thì tín hữu chấp nhận tất cả. Và đó là tinh thần sống đạo của người Đại Hàn: hoặc là chấp nhận và dấn thân, hay là không chấp nhận và bỏ đạo.

          Là môn đệ của Chúa Kitô, chúng ta hãy trở nên dấu chứng tình yêu của Thiên Chúa cho con người hôm nay. Tình thương của Thiên Chúa phá vỡ thái độ khép kín chết chóc là sự dửng dưng, tình thương ấy được Giáo Hội trao tặng cho chúng ta qua giáo huấn, và nhất là qua chứng tá của Giáo Hội. Nhưng chúng ta chỉ có thể làm chứng về điều mà trước đó chúng ta cảm nghiệm. Kitô hữu là người để Thiên Chúa mặc cho chiếc áo lòng từ nhân và thương xót của Ngài, mặc lấy Chúa Kitô, để trở nên giống Chúa, là Tôi Tớ của Thiên Chúa và loài người.

Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta suy nghĩ về bổn phận truyền giáo của chúng ta. Nếu như mọi lời nói, hành động của chúng ta đều có ảnh hưởng đến người khác, thì mỗi người hãy tự hỏi lòng mình, qua những gì chúng ta nói, những gì chúng ta làm và nhất là qua đời sống cụ thể của chúng ta, chúng ta có đưa người khác đến với Chúa Kitô hay chúng ta làm cho người ta xa Chúa.

 

THỨ TƯ TUẦN XIV THƯỜNG NIÊN,

Hs 10:1-3,7-8,12; Tv 105:2-3,4-5,6-7; Mt 10:1-7

CHỌN LỰA CỦA CHÚA

Thánh Bênêđictô sinh tại Norcia năm 480 trong một gia đình giàu sang quý tộc.

Khi nhỏ, cha mẹ cho ngài được ăn học ở địa phương, để gần gũi với gia đình, dễ bề đào tạo tính tình đức hạnh.

Năm 14 tuổi, thánh nhân được gởi đến học ở Rôma. Học ở Rôma được một thời gian, ngài thấy Rôma không phù hợp với mình vì cuộc sống ở Rôma lúc đó rất suy đồi trụy lạc. Để giữ gìn linh hồn mình được luôn trong sạch. Ngài đã trốn khỏi kinh thành, muốn tìm đến một nơi thanh vắng, sống đời ẩn tu tịch mạc. Ý muốn của Ngài đã được Chúa ưng thuận. Miền hoang địa cách Rôma 40 dặm là nơi Ngài đã dừng chân để được sống cuộc đời tịch liêu thân mật với Chúa.

Trong khi còn đi lang thang tìm một hang trú ẩn, Bênêđictô gặp được thầy Rômanô, một tu sĩ cùng chí hướng với mình. Tình yêu và lý tưởng đã kết hợp hai người thành đôi bạn chí thiết. Rômanô chỉ cho Bênêđictô một hang rất kín chưa hề có một vết chân người lui tới. Bênêđictô sống ở đó ba năm. Hằng ngày thầy Rômanô mang bánh cho Ngài. Sau thời gian vắn vỏi sống đời ẩn dật hoàn toàn, Chúa muốn đặt ngọn đèn thánh thiện của Bênêđictô lên nơi cao để soi dẫn cho nhiều người.

Ma quỷ thấy nhân đức của ngài thì luôn tìm đủ cách quấy phá. Đứng trước những cám dỗ của ma quỷ, Ngài luôn làm dấu Thánh giá xua đuổi chúng. Còn những người muốn sống đời nhân đức trọn lành tìm đến, thì Ngài luôn sẵn sàng hướng dẫn giúp đỡ, dạy bảo. Nhờ đó mà danh thơm thánh thiện của ngài lan rộng khắp nơi. Cả những người quý phái ở Rôma cũng đến xin làm môn đệ ngài. Ngài thành lập 12 tu viện nhỏ, để tiếp nhận họ và giúp họ tập rèn nhân đức.

Số người muốn tu luyện theo đường lối thánh nhân mỗi ngày một đông, nên năm 520, ngài phải dời về Montô Cátsinô, thành lập tu viện. Đây là tu viện đầu tiên của thánh Bênêđictô. Chính Ngài soạn tu luật cho tu viện. Sau này tu luật mang tên người được phổ biến khắp châu Âu, nên người được mệnh danh là “Tổ phụ của nếp sống đan tu ở phương Tây”.

Ngày nay hầu như tất cả các nước trên thế giới đã có sự hiện diện của các đan viện sống theo lý tưởng của Ngài. Các tu sĩ của Ngài đã hết lòng yêu mến và tuân giữ ba đặc điểm như ba cột  trụ chi phối và nâng đỡ đời sống của mình. Ba cột trụ đó là cầu nguyện, học hành và lao động. Người tu sĩ hằng ngày chuyên cần cầu nguyện, siêng năng học hỏi Lời Chúa và làm việc chân tay để tự nuôi sống.

Bênêdictô qua đời ngày 21 tháng 3 năm 547. Từ cuối thế kỷ VIII, Ngài đã được kính nhớ vào ngày 11 tháng 7. Ngày 24 tháng 10 năm 1964, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ra tông thư “Sứ giả hoà bình” (Pacis nuntius), đặt người làm bổn mạng toàn châu Âu.

Thánh Bênêđictô nhắc nhớ chúng ta rằng có một nhu cầu sâu xa nhất của con người là trải nghiệm những giờ cầu nguyện bên Thiên Chúa. Nhưng chúng ta không phải đi vào một hang động, mà có thể lưu lại ngay bên nhà thờ và viếng Chúa Giêsu Thánh Thể. Chúng ta cũng có thể tạo một góc cầu nguyện trong căn phòng của chúng ta. Chúng ta sẽ sống mật thiết hơn với Thiên Chúa nhờ những lời cầu nguyện hàng ngày với Chúa Giêsu.

Và rồi hôm nay Tin mừng kể về việc Chúa Giêsu gọi các môn đệ.

Chúa Giêsu chọn Nhóm 12 tông đồ. Đây là một biến cố rất quan trọng trong lịch sử cứu độ và trong việc thành lập Dân Thiên Chúa của Giao ước mới. Nhóm Mười hai là đại diện của Dân Israel mới. Mỗi vị được chọn bằng tên gọi riêng để làm thành một cộng đoàn các tông đồ gọi là Nhóm Mười hai trong Tân ước.

Họ không có của cải, không có học thức cao, không có địa vị trong xã hội. Họ được chọn từ trong dân gian, những người chỉ làm việc thường, không được giáo dục đặc biệt, không có lợi thế xã hội. Người ta nói Chúa Giêsu không tìm kiếm những người phi thường, Ngài tìm những người tầm thường để làm việc một cách rất phi thường.

Chúa Giêsu không chọn những người tài cao và học rộng, giàu sang và quí phái, chức vụ và uy quyền trong xã hội, nhưng Ngài đã chọn người có tấm lòng và thiện chí. Chỉ cần hai điều này thôi, còn mọi điều khác Chúa sẽ lo liệu.

Có một tác giả đã tưởng tượng ra việc Chúa chọn các tông đồ như sau: sau những đêm dài cầu nguyện, Ngài rảo bước khắp nơi nhưng không chọn được người nào, Ngài đành quăng quảng cáo, nhưng trong số những người đến trình diện Ngài không chọn được một ai.

Các tông đồ được chọn không phải vì các ngài có tấm lòng và thiện chí như tiêu chuẩn của Chúa, nhưng vì Thiên Chúa yêu thương họ trước cả khi họ biết Chúa. Các tông đồ được Chúa chọn cũng không phải vì các ông có quả tim tinh tuyền như Chúa đòi hỏi, nhưng vì lòng nhân từ của Ngài mà Ngài hy vọng sẽ hướng dẫn, dạy dỗ họ, để họ đổi mới mà thành những chứng nhân tông đồ cho muôn dân.

Sứ điệp của việc chọn gọi ở chỗ Chúa Giêsu nhìn mỗi người, không phải chỉ để thấy họ thế nào, nhưng để thấy Ngài có thể khiến họ trở nên như thế nào. Không ai nên nghĩ rằng mình không có gì để dâng cho Chúa. Chúa Giêsu có thể lấy điều một con người tầm thường hơn hết dâng lên để sử dụng trong việc trọng đại.

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta trở về cội nguồn của Giáo Hội. Giáo Hội là Thân Thể của Chúa Kitô, Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh cứu rỗi của Chúa Kitô. Ðể thực hiện chương trình cứu rỗi, Chúa Giêsu đã kêu gọi một số môn đệ đi theo Ngài để rao giảng Tin Mừng. Trong số các môn đệ ấy, Ngài đã chọn mười hai người làm Tông Ðồ và trở thành cột trụ của Giáo Hội mà Ngài sẽ thiết lập. Nếu Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh của Chúa Kitô, thì Giám mục đoàn mà đứng đầu là Ðấng kế vị thánh Phêrô cũng chính là những người tiếp tục làm cột trụ của Giáo Hội.

Mười hai tông đồ là mười hai công việc khác nhau, theo những khả năng được phú bẩm cho các ông, nhưng lại cùng chung một sứ vụ là thăng tiến niềm tin, hướng đến việc hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, quy tụ muôn người về một mối. Các ông mang trong mình lời dặn dò và hình ảnh chân thực của Thầy mình hơn nữa, các ông được mời gọi loan truyền tình thương và lòng thương xót cho thế giới. Chữa lành thể lý để đưa người ta đến sự thật niềm tin vào Thiên Chúa. Làm sao điều cốt yếu được thực hiện và thấm nhuần cách chính xác: “Nước Trời đã gần đến”. Nước Trời ở đây được hiện thực hoá nơi chính việc các ông làm cho người khác có khả năng đón nhận niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất.

Chúa biết mỗi người chúng ta là những phận hèn sức yếu. Vì thế, Chúa không đòi hỏi chúng ta phải ra đi loan báo tin mừng ở những nơi xa xôi. Nhưng Chúa muốn chúng con biết tích cực gieo vãi yêu thương và bình an cho những người gần gũi chúng ta. Xin cho chúng con ý thức và tích cực thực thi lời Chúa dạy.

 

Thứ Năm tuần XIV

Hs 11:1,3-4,8-9; Tv 80:2,3,15-16; Mt 10:7-15

NƯỚC TRỜI ĐÃ ĐẾN GẦN

 “Nước Trời đã đến gần” (c. 7) là sứ điệp quan trọng Đức Giêsu mang đến cho nhân loại. Nước Trời còn được biểu hiện nơi chính con người Đức Giêsu, vì Ngài là hiện thân của Chúa Cha, đến trần gian để minh chứng tình yêu Cha dành cho nhân loại. Vâng, sứ điệp ấy đã được Đức Giêsu thông truyền lại cho các môn đệ, để các ngài tiếp nối công trình cứu độ của Ngài nơi trần gian qua Giáo hội.

Khi được chuyển trao sứ điệp quan trọng này, các môn đệ cũng được Đức Giêsu ban cho những năng quyền để khắc phục sự dữ (c.8), đồng thời Ngài cũng đòi hỏi người môn đệ phải thật nghèo khó, thanh thoát (c. 9-11), để hết mình phục vụ Nước Trời (c.12-13). “Nước Trời đã đến gần” còn là sứ điệp quan trọng cho con người thời đại hôm nay không?

Chúa Giêsu đã căn dặn các ông về căn tính của người môn đệ:

Trước hết là nhiệm vụ của người ra đi: người được sai đi là để loan báo Tin Mừng chứ không phải là loan báo tin buồn, đồng thời sai đi để chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền chứ không phải gieo rắc đau thương. 

Kế đến là tinh thần của người ra đi: người được sai đi sẽ gặp không ít khó khăn, nên cần phải tin tưởng, trao phó mọi sự nơi Chúa. Ra đi trong tinh thần thanh thoát, không cần phải cồng kềnh và quá lo lắng cho ngày mai. Hãy là người tôi tớ phục vụ, bởi vì : “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”.

Thứ ba là thái độ của người ra đi: người môn đệ muốn được thành công thì phải mặc lấy thái độ của hạt lúa, tức là tự hủy ra không, phải nhân từ để “ngửi thấy mùi chiên” và “mang mùi chiên nơi mình”. Không ngại khổ, ngại khó và cần phải hy sinh. Luôn quan tâm đến người khác hơn là nghĩ về mình.

Thứ tư là lập trường của người ra đi: sống trong một xã hội chủ chương vô thần, muốn loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi tư tưởng, nhận thức của con người. Lập trường của họ là không có Thiên Chúa, cũng chẳng có niềm tin… Vì thế, họ không ngần ngại uốn nắn và tìm đủ mọi cách dưới nhiều hình thức tinh vi để gây nên những hoang mang, thất vọng.

Bên cạnh đó là những trào lưu tục hóa, những văn hóa phẩm đồi trụy… nhằm gieo rắc những chân lý nửa vời và làm cho con người lấn sâu trong tội mà không biết! Và cũng những con người đó, họ muốn loại bỏ người môn đệ của Chúa, vì thế, cái chết là kết cục cuối cùng của người môn đệ. Số phận của người môn đệ là: như chiên đi vào giữa bầy sói.

Thứ năm là chiến lược của người môn đệ: được mời gọi hiện hữu giữa thế gian nhưng không bị thế gian điều khiển và đẩy đưa để dẫn đến cái gọi là: dùng phương tiện xấu để biện minh cho mục đích tốt. Phải khôn như rắn để xây dựng, bảo vệ sự hiệp nhất của Giáo Hội, và phải hiền lành, đơn sơ như chim bồ cầu trong tinh thần huynh đệ.

Thật thế, lập trường của người môn đệ, trong mọi hoàn cảnh, không bao giờ và không có cách nào được phép đồng lõa, thỏa hiệp để chỉ vì mục đích “rẻ tiền” nhằm được yên thân. Lập trường của người môn đệ còn là hiện diện và sống những giá trị Tin Mừng cách thực tế chứ không chỉ lo cái gọi là bề ngoài cho thật “hoành tráng” theo thói đời, nhưng bên trong thì rỗng tuếch.

Trong thực tế, nhiều người như cảm thấy Thiên Chúa rất xa lạ, mơ hồ đối với họ, vì những cảm thức duy thực dụng đã lún sâu trong tâm khảm của họ. Đứng trước thảm trạng đau buồn ấy, người môn đệ Đức Giêsu phải làm gì để “Nước Trời” thực sự được hiện diện giữa trần gian hôm nay! Phải chăng đây là sứ mệnh quan trọng và cấp bách, đang hối thúc mỗi chúng ta hãy can đảm mạnh dạn lên đường, để tung gieo Tin Mừng Nước Trời cho mọi người.

Dẫu có những khó khăn và thử thách đang chờ đón phía trước, nhưng chúng ta hãy vững tin vào quyền năng Đức Giêsu, Ngài luôn đồng hành bên chúng ta để thi thố những việc kỳ diệu cho vinh danh Ngài. Điều quan trọng là mỗi chúng ta hãy ý thức “chúng ta đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (c. 8b). Con người hôm nay đang dần giàu lên về nhiều mặt: vật chất, sự hiểu biết, sự hưởng thụ, danh vọng . . . nhưng lại vô cùng nghèo về tình yêu, sự thật và công lý.

Thế nên, từ sâu thẳm nội tâm, con người vẫn thật sự khao khát một chiều kích tâm linh đích thực, có thể lấp đầy sự trống vắng của cõi lòng họ. Thế nhưng, người môn đệ Đức Kitô không chỉ giới thiệu về Nước Trời bằng những chân lý mặc khải, nhưng chính một nếp sống đơn sơ, nghèo khó, thanh thoát của người môn đệ sẽ có sức thuyết phục rất mạnh mẽ, vì con người hôm nay “cần chứng nhân hơn thầy dạy”.

Lời rao giảng “Nước Trời đã đến gần » đi đôi với một dấu chỉ, đó là dấu chỉ “nhưng không” : “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”. Có thể nói, nếu chúng ta không kinh nghiệm sự nhưng không, không thực hành sự nhưng không, không xây dựng sự nhưng không, thì Nước Trời sẽ không hiện diện ở giữa chúng ta. Bởi vì Nước Trời là Nước của Thiên Chúa, và Thiên Chúa là nhưng không.

Chúa Giêsu không những ủy thác việc rao giảng Tin Mừng cho các môn đệ, Ngài còn muốn đời sống các ông phù hợp với lời giảng dạy. Nội dung cốt yếu của sứ điệp không do quyết định tự do hoặc sáng kiến của người rao giảng, mà là do chính Chúa Giêsu ấn định, đó là Nước Trời. Người được sai đi với tư cách là thừa tác viên phải thi hành đúng như Chúa đã truyền. Ngài mời gọi họ dấn thân sống đầy đủ mỗi ngày lý tưởng truyền giáo và lý tưởng của người môn đệ.

Ðiều quan trọng phải nhớ là hành trang của nhà truyền giáo khi theo Chúa Giêsu là lời của Ngài và đời sống nghèo khó của Ngài. Tất cả những sự khác phải được coi là dư thừa, nhiều khi còn là ngăn trở cho việc truyền giáo. Kinh nghiệm cho thấy rằng những ai dấn thân sống nghèo khó và hy sinh cho người khác, sẽ được Chúa cho lại gấp trăm.

 

July 11, 2018