August 7, 2018

Suy Niệm Lời Chúa... by Huệ Minh

 

Chúa Nhật XVIII Thường Niên, năm B

Chúa nhật XVII TN


Xh 16:2-4,12-15; Tv 78:3-4,23-24,25-54; Ep 4:17,20-24; Ga 6:24-35

ĐÓN NHẬN LƯƠNG THỰC THẦN LINH

          Nhìn vào thực tế của cuộc đời : Nếu không có bánh, chúng ta sẽ chết. Cơm bánh có khả năng duy trì sự sống cho chúng ta nhưng đó là một khả năng giới hạn. Khi nói “Tôi là bánh ban sự sống”, Chúa Giêsu cho hiểu là tương quan giữa bản thân Người với loài người cùng một kiểu như tương quan giữa cơm bánh và chúng ta, nhưng sự sống Người ban là sự sống vĩnh cửu, chứ không chỉ là sự sống trần gian giới hạn. Người mạnh hơn cái chết, Người muốn đưa chúng ta đi sang bên kia cái chết. Nhưng chúng ta phải chạy đến với Người, phải tin vào Người.

Nhìn vào dòng chảy lịch sử cứu độ, ta thấy Thiên Chúa đã thực hiện lời Ngài hứa, Ngài cho dân Israel vào Đất Hứa, nhưng họ chưa tin thật vào Ngài. Chúa Giêsu đến, tiếp tục dạy dỗ họ, đào tạo họ thành những con người tin vào Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã cho dân chúng ăn no nê từ năm chiếc bánh và hai con cá. Chúa Giêsu tỏ quyền năng để họ tin vào Người, tin vào Thiên Chúa.

Thế nhưng rồi ngay sau đó, họ đi tìm kiếm Người để không phải làm mà vẫn có ăn. Họ tìm Chúa Giêsu không vì tin, mà vì lười biếng; họ không nhận ra Tình yêu thương mà Thiên Chúa luôn dành cho họ, để họ tin và đi theo Ngài tiến về Nước Trời. Chúa Giêsu nhắc họ phải ra công làm việc, để có của ăn không chỉ khi còn ở trần gian này, nhưng còn phải ra sức tìm kiếm của ăn không hư nát, đem lại sự sống trường tồn là bánh trường sinh. Người còn chỉ cho họ phương cách để có bánh trường sinh, đó là tin vào Đấng mà Thiên Chúa sai đến, tức là tin vào Người. Vì chính Chúa Giêsu là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ! Chúa Giêsu không chỉ dạy cho dân Do Thái khi xưa mà còn dạy cho chúng ta ngày nay.

Quả thật, chúng ta luôn khao khát có hạnh phúc, bình an; chúng ta ra sức tìm kiếm điều đó nhưng không gặp, không có được hạnh phúc đích thật, chỉ vì chúng ta không nhận biết Người là bánh trường sinh, là con đường dẫn đưa chúng ta đến sự sống vĩnh cửu. Vì chúng ta chưa tin thật vào Chúa Giêsu, chưa trở thành con người tin vào Thiên Chúa. Hay nói cách khác, chúng ta chưa trở thành con người yêu thương, vì chưa nhận ra Tình Thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Hạnh phúc mà Chúa Giêsu đem lại cho chúng ta, là chúng ta không tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân mình, nhưng phải tạo hạnh phúc cho người khác.

Chỉ khi chúng ta đem lại cho người khác sự bình an, hạnh phúc, chính khi đó, chúng ta lại có được an bình, hạnh phúc. Muốn được như thế, chúng ta phải dẹp bỏ con người ích kỷ của mình. Chúng ta phải giúp nhau sống trong sự yêu thương. Để từ đó, chúng ta giúp nhau nhận biết: Thiên Chúa là Tình Yêu, chính Ngài là hạnh phúc, là bình an thật. Chúng ta sẽ được hưởng niềm vui và bình an khi chúng ta được ở với Ngài trên Nước Trời.

Nhìn lại lịch sử năm xưa, dân Israel được ăn manna và thịt chim cút trong hoang địa, vì họ chưa tin thật vào Đức Chúa, vì họ than trách Ngài. Thiên Chúa ban cho họ của ăn, để nuôi dưỡng họ trong hành trình tiến về Đất Hứa. Thiên Chúa làm như vậy để họ chỉ tôn thờ, chỉ tin vào một mình Ngài mà thôi. Họ cần phải nhận biết: chỉ có Một Thiên Chúa duy nhất, không có thần nào khác. Thiên Chúa dạy dỗ họ để họ trở thành một con người tin vào Đức Chúa. Đó là điều cần thiết nhất giúp họ vào Đất Hứa.

Và rồi ta thấy rằng khi ta tin vào Chúa Giêsu khi ta tự liên kết hoàn toàn với Người và để cho Người hoàn toàn quy định đời sống tôi. Đức tin có thể là như một dây liên kết mong manh và yếu kém; còn nếu một dây liên kết quan trọng, vững chắc và thiết yếu đối với cuộc sống, thì nó được diễn tả ra bằng một tình bạn chân thật hoặc một cuộc hôn nhân đích thực. Khi tin vào Chúa Giêsu, dây liên kết ta có với Người sẽ có sức mạnh và có khả năng ban sự sống tối đa.

Trên hành trình tiến về quê thật là Nước Trời, chúng ta được Chúa Giêsu nuôi dưỡng bằng chính Mình Máu Người, chúng ta được Người hướng dẫn bằng Lời Người. Mình và Máu Chúa chính là của ăn của uống không bao giờ hết, không hề hư nát; đó là lương thực đem lại sự sống vĩnh cửu, nếu chúng ta tin thật vào Chúa Giêsu. Đức Tin của chúng ta được củng cố nhờ Lời dạy của Chúa Giêsu. Lời Chúa nuôi dưỡng niềm tin, giúp ta lớn lên trong Tình Yêu của Ngài, hướng dẫn ta để ta trở nên con người tin vào Thiên Chúa, ngõ hầu được chung hưởng niềm vui vĩnh cửu trên Quê Trời.

Thánh Phaolô nhắc cho chúng ta phải học biết về Đức Kitô để củng cố Đức Tin của mình. Một khi đã tin vào Chúa Giêsu, chúng ta phải biến đổi cuộc đời mình: cởi bỏ con người cũ và phải mặc lấy con người mới. Tức là một người biết làm theo Lời Chúa Giêsu dạy, để trở nên công chính, thánh thiện; hay nói theo Chúa Giêsu đã dạy: Nên Hoàn thiện như Cha của chúng ta là Đấng Hoàn thiện. Điều này đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực, phải ra công tìm kiếm và phải cố gắng mỗi ngày. Mỗi người phải dứt khoát từ bỏ con người tội lỗi, con người ham muốn trần gian, để trở thành con người tin thật vào Thiên Chúa.

Nhìn lại cuộc đời, ta thấy xấu hổ vi a ngại để cho Thiên Chúa đi vào trong cuộc sống chúng ta và làm việc ở đó. Để biện minh cho việc chúng ta lùi lại trước đòi hỏi của Người, ta thường vận dụng một chiến thuật khác để “câu giờ”, chúng ta đặt ra một điều kiện: “Ông đã làm dấu lạ nào…? Ông đã làm gì?” (c. 30).

Quả thế, ta đã thấy hoạt động của Thiên Chúa trong đời sống ta, nhưng ta vẫn tìm cách từ chối tin vào Người. Thiên Chúa lại chỉ thích nói với con tim ta bằng những dấu chỉ kín đáo hầu ta vẫn còn tự do mà từ khước tiếng gọi của Người. Thiên Chúa muốn được yêu mến bởi những người con tự do, chứ không phải được tôn thờ bởi những tên nô lệ khiếp nhược.

Bữa ăn lạ lùng sẽ phải được giải thích như là một dấu chỉ. Đấy là một sự kiện thực hữu, Đức Giêsu đã thực sự cho một đám đông ăn no; nhưng biến cố này tự nó không có ý nghĩa. Đức Giêsu không muốn chứng minh rằng người ta có thể nhận được bánh từ nơi Người mà không cần phải mệt nhọc và được nhận ê hề; Người không muốn thay thế các ông thợ làm bánh mì để rồi các ông này phải thất nghiệp mà bị đói. Bữa ăn lạ lùng nhắm đến một thực tại khác.

Sự kiện Chúa Giêsu có thể ban bánh và cho ăn no nê theo nghĩa trần thế phải cho thấy rằng bản thân Người chính là bánh ban sự sống và có thể ban sự sống vĩnh cửu, không bao giờ tàn lụi. Ở bên Người, chúng ta không được tìm kiếm bánh trần thế; trái lại, chúng ta phải nhìn nhận rằng Người có thể và muốn ban cho chúng ta một thứ vô cùng lớn lao hơn. Chúng ta cần phải để ý đến điều này và đón nhận quà tặng của Người.

Từ manna trong thời Cựu Ước, tiến đến Bánh trường sinh trong thời Tân Ước, cũng chỉ nhằm bày tỏ một vấn đề, đó là Bánh ban sự sống, và đã được Chúa Giêsu trình bày cho dân một cách nhẹ nhàng, và hợp lý hợp tình. Nên chi, cuối cùng thì dân chúng đã hiểu vấn đề, và họ liền thưa Người rằng: "Thưa Ngài, xin cho chúng tôi bánh đó luôn mãi". Đúng là không còn dịp nào tốt hơn, Chúa Giêsu liền nói với dân chúng: "Chính Ta là Bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ".

Chúa Giêsu hướng cho dân chúng biết chuyện Bánh ban sự sống; từ việc ra công tìm bánh nuôi sống, Chúa Giêsu hướng dẫn dân biết ra công làm việc của Thiên Chúa là “tin vào Ðấng Ngài sai đến”; và từ thái độ lên giọng đối chất về dấu lạ manna của dân, Chúa Giêsu đã giải thích cho họ: “ không phải Môsê đã ban cho các ngươi bánh bởi trời, mà chính Cha Ta mới ban cho các ngươi bánh bởi trời đích thực”, đám đông dân chúng liền hạ giọng xin cho được ăn Bánh ban sự sống. Với diễn biến nội tâm của đám đông dân chúng tốt đẹp như thế, Chúa Giêsu đã không ngần ngại trao ban: chính Mình Ngài.

Đức Giêsu, Đấng Phục Sinh, đang nuôi dưỡng chúng ta bằng Lời và Bí tích trong các cuộc cử hành phụng vụ. Chúng ta có biết chính Người là Đấng chúng ta đang tìm kiếm và không phải là dấu chỉ của sự thỏa mãn vật chất nào khác? Cơn đói mãnh liệt nhất của chúng ta là sự mật thiết với Thiên Chúa, là sự sống của Thiên Chúa bên trong chúng ta, thứ mà Đức Giêsu hôm nay gọi là “sự sống đời đời”. Đức Giêsu mời gọi chúng ta tin tưởng nơi Người với tất cả con người, tâm hồn và thân xác của ta. Chuyện quan trọng là ở ta, ta có đến và lãnh nhận lương thực thần linh hay không mà thôi.

 

LỄ CHÚA GIÊSU HIỂN DUNG

Gr 28:1-17; Tv 119:29,43,79,80,95,102; Mt 14:13-21

LÊN NÚI VỚI CHÚA

Lễ Chúa Giêsu Hiển Dung, hay gọi là Lễ Chúa Giêsu Biến Hình trên Núi Tabor.

Người ta không thể leo nhanh lên ngọn núi Tabor được, và chính Tabor cũng chỉ là một điểm dừng ngắn ngủi trên chặng đường đến với Thiên Chúa. Mỗi một ngày sống là một chặng đường mà chúng ta cần phải vượt qua. Nhờ vào những gì mà các tông đồ đã sống, chúng ta có thể hiểu rõ hơn chặng đường mà chúng ta cần vượt qua để đến gần với cõi vĩnh hằng hơn.
Và hôm nay trên núi Tabor chúng ta chứng kiến cuộc biến hình của Chúa Giêsu. 

Và ta thấy Hiển Dung một mầu nhiệm trong chuỗi các mầu nhiệm nổi bật về cuộc đời Nhập Thể và Nhập Thế của Con Thiên Chúa. Bởi vì, cho đến hôm nay, số người trên thế giới tin vào Thiên Chúa thì nhiều, nhưng số người đặt trọn niềm tin vào Chúa Giêsu chưa thỏa lòng mong ước, còn khiêm tốn ở con số. Tại sao vậy? Thưa , bởi vì họ chưa đón nhận Lời giới thiệu của Thiên Chúa về Chúa Giêsu: “Đây là Con Ta, Người được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe Lời Người !”(Lc 9, 35).

Và ta còn nhớ lại lời giới thiệu trên giống như ngày Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Gio-đanh (Lc 3, 21-22), (Mc 9,7b), (Mt 17, 5). Điều này nói lên sự xác nhận, sự tấn phong, sự xức dầu, có nghĩa là chính Người là Đức Kitô, Đấng được gọi là Đấng Cứu Chuộc, Đấng Messia. Là Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn giữa nhân loại theo mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Hia Thiên Chúa. Theo đó, (Lc 9,35) cũng là một sự hé mở cho nhân loại biết rằng: “Chính Chúa Giêsu là Thiên Chúa”, điều này không phải dễ đối với những ai chưa được mặc khải, vì sự mặc khải cho biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu Chuộc chỉ tỏ ra cho vài người, cụ thể là ba tông đồ mà Chúa Giêsu đã tuyển chọn, đó là Phêrô, Giacôbê và Gioan.

Thoạt tiên ta thấy đoạn Tin Mừng này có vẻ như đơn giản, nhưng mang ý nghĩa rất thực tế cho đến ngày cuối cùng. Bởi vì không phải tất cả mọi người có đạo đều hiểu ra mầu nhiệm của Thiên Chúa, mà Người chỉ cho một số ít hiểu mà thôi, điều nầy không phải là Thiên Chúa ích kỷ, nhưng là sự đón nhận nơi con người nhân thế.  Chúng ta thấy, những sự kiện xảy ra nơi Chúa Giêsu như Chúa chịu phép Rửa tại sông Giođan, hay Chúa Biến Hình trên núi Tabor cho thấy không bởi sự can thiệp của trần gian được.

Nhân thế, dù đã được Chúa Giêsu tuyển chọn và dẫn theo, nhưng khi mầu nhiệm xảy ra, thì con người phàm trần cũng phải ngất đi, chẳng biết gì cả, chẳng hiểu gì cả, vì không thể tiếp xúc với sự siêu việt của siêu nhiên là mầu nhiệm từ trời cao, các tông đồ đều lăn nhào ra ngủ, như một giấc mơ, như người nói nhảm, sua đó mới hoàn hồn.

Như vậy, mầu nhiệm Chúa Giêsu biến hình là một biến đổi, hay trở về với Thiên tính của Chúa Giêsu trước khi hoàn toàn tự nguyện bước vào chấp nhận mầu nhiệm tử nạn, để cho nhân loại biết Chúa Giêsu phát xuất từ đâu và sẽ trở về nơi phát xuất, đó là Phần Thiên Tính của Người.

Dung Mạo của Người trở nên chói lòa, qua đó y phục của Người cũng trở nên biến đổi, y phục của Người là một chất liệu tự nhiên, nhưng cũng được thông phần vào sự siêu nhiên tuyệt đối nơi Thiên Chúa, bỗng chói lòa. Theo đó, sự kiện Biến Hình của Chúa Giêsu, xét về địa lý nơi chốn, thì đây là nơi giao hòa giữa Thiên và Địa, giữa Trời và Đất, giữa Thiên Chúa và con người. Xét về mầu nhiệm cứu độ, thì đây là lúc khởi điểm để đi vào con đường thiên định nhưng hoàn toàn tự nguyện hiến dâng của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể cho nhân loại và vì nhân loại.

Ta thấy có những giây phút quí báu nhất của cuộc đời 3 môn đệ theo chân Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cùng với ba môn đệ và Người hiển dung trước mặt các ông. Trong khoảnh khắc các ông có thể cảm nhận sâu xa Đấng Cứu Thế là ai và dung nhan của Đấng Phục sinh như thế nào. Dĩ nhiên, chẳng ai muốn bỗng chốc buột khỏi tầm tay tất cả. Tất cả đều muốn nắm giữ lấy, muốn xây dựng ở đó ba lều.

Giây phút thần tiên thường hiếm có và ngắn ngủi! Thoáng qua, Phêrô phải từ chín tầng mây trở về với cuộc sống muôn ngàn sóng gió. Ông phải học để biết rằng: những giây phút này là quà tặng của Thiên Chúa, không ai có thể giữ lấy bo bo cho mình. Ông phải từ trên núi trở về với cuộc sống thường nhật, trở về với con người và những khó khăn phải đương đầu!

Quả thật, cuộc sống con người đầy thăng trầm, và dường như chìm dần trong thung lũng tối. Ngày qua ngày, sương mù dày đặc! Chuỗi ngày kéo dài lê thê ảm đạm! Tất cả dường như vô nghĩa và tẻ nhạt!…Cũng có những giây phút con người không được yên thân, cuộc sống chao đảo, đầu tắt mặt tối với công việc. Việc này chưa xong, thì việc khác đã đứng chực ngoài cửa.

Và rồi đời sống đạo và đời sống nội tâm chúng ta từng có những kinh nghiệm như thế. Cũng chính vì vậy mà người ta thất vọng, xao nhãng công việc của cộng đoàn, bỏ luôn cả kinh hạt lễ lạy. Họ nghĩ rằng lễ lạy và kinh hạt cũng thế thôi. Làm ban hành giáo có được gì đâu, mà chỉ thấy kinh tế gia đình mình càng sa sút.

Điều quan trọng chính là kinh nghiệm trong cuộc sống thường nhật: tìm cho chính mình một mảnh thiên đàng tại thế. Tabor trước tiên không phải là một nơi chốn, nhưng là sự kiện có thể xẩy ra bất cứ ở đâu trong hoàn cảnh nào. Chúng ta chỉ có thể khám phá ra khi chúng ta sẵn sàng cởi mở tấm lòng tiếp nhận: một cuộc gặp gỡ vô tình, một vẻ đẹp của thiên nhiên, một khoảnh khắc yên tĩnh, một lời khen tặng, một thành công nhỏ, một sự dấn thân cho họ đạo, một kinh nghiệm trong đời sống cầu nguyện. Những lúc chúng ta cảm thấy cuộc đời này còn có nhiều thứ quí báu hơn, chúng ta phải ra sức bảo vệ, duy trì như những kho tàng vô giá trong ký ức. Những kinh nghiệm đó giúp chúng ta thêm can đảm và hăng hái dù phải gặp hoạn nạn éo le. Nhờ đó chúng ta tin rằng Thiên Chúa sẽ dẫn đưa chúng ta tới đích điểm tốt đẹp, là Thiên Đàng, là Tabor Vĩnh Cửu!

Ta được gợi bài học cho ta là nếu được kết hiệp với Thiên Chúa, nhân thế không còn sợ hãi, dù là phải đi con đường cam go. Vì Thiên Chúa là ánh sáng siêu việt sẽ sáng chói như mặt trời, và ai tin vào Thiên Chúa thì dù khổ đau hay tử nạn thì cũng sẽ được phục sinh vinh quang.

 

THỨ BA TUẦN 18 THƯỜNG NIÊN

Gr 30:1-2,12-15,18-22; Tv 102:16-18,19-1,29,22-23; Mt 14:22-36

THẦY ĐÂY ĐỪNG SỢ !

Nhiều lần lần nhiều lúc ta thấy Tin Mừng nói đến sự nhút nhát lo sợ của các môn đệ của Chúa Giêsu: sợ không có đủ bánh ăn, sợ người Do Thái…

Với Tin Mừng hôm nay, ta thấy Thánh Matthêu thuật lại rằng: “Sau khi dân chúng được ăn no nê, Chúa Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núiriêng một mình mà cầu nguyện. Và trời đã tối nhưng ta thấy Người vẫn ở đó một mình. Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả cây số, bị sóng đánh vì ngược gió”.

Và ta thấy Chúa hiện đến trấn an các ông: “Chính Thầy đây đừng sợ” Phêrô vẫn chưa thực sự vững tin: khi đi trên mặt nước đến với Chúa, vừa gặp cơn gió thổi ông đã đâm ra hốt hoảng và kêu cứu. Chúa lại nắm lấy tay ông và trách ông kém lòng tin. Chúa đã cho các ông thấy rõ quyền năng của Chúa để củng cố đức tin nơi các ông để rồi sau này chính các ông sẽ mạnh dạn làm chứng đức tin cho mọi người.

Đang đi giữa biển thì cuồng phong nổi lên như muốn nhận chìm con thuyền nhỏ khiến các môn đệ vô cùng hoảng sợ, trong khi đó Chúa Giêsu vẫn bình tĩnh cầu nguyện như không có chuyện gì xảy ra. Vốn là những ngư dân đầy kinh nghiệm trên Biển Hồ,các môn đệ thuộc từng con sóng,biết được chỗ nào nước sâu có nhiều cá. Vì thế dù có ra giữa biển, các ông vẫn tự tin lướt sóng.

Thế nhưng khi phải đối diện với cơn sóng gió ập đến bất ngờ, các ông không có cách chi chèo chống và hoảng sợ la lên.Chúa Giêsu đã để sóng gió nổi lên như muốn thử thách đức tin yếu kém của các ông. Thái độ hoài nghi đã làm con mắt các môn đệ trở nên mờ tối khiến các ông không còn nhận ra sự hiện diện của Chúa. Các ông chỉ còn nhìn thấy bóng ma của sự tối tăm và chết chóc.

Khi nghe các môn đệ cầu cứu, Chúa Giêsu đã đi trên mặt biển đến trấn an các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” Sau đó Chúa Giêsu truyền cho ông Phêrô đi trên mặt nước mà đến với Người. Mặc dù vậy, ông Phêrô vẫn hoảng sợ kêu cứu đến nỗi Chúa Giêsu phải đưa tay ra nắm lấy ông.Qua biến cố này, Chúa Giêsu biểu lộ cho các môn đệ thấy quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa khiến mọi thế lực trần gian phải khuất phục, đồng thời Người cũng cho các ông biết sự yếu đuối của loài người.

Sau khi sóng yên biển lặng, mọi người trong thuyền đều phải bái phục Chúa Giêsu và tuyên xưng: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!” Với tư cách là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu có sứ mạng quan trọng là đến trần gian để cứu chuộc nhân loại. Vì thế khi Chúa Giêsu vừa vào tới đất liền, dân chúng tuôn đến đem theo tất cả những người đau ốm đểđược chữa lành.

Đứng trước cơn sóng biển bất ngờ, Phêrô tỏ ra hoảng sợ nhưng ông đã có được một kinh nghiệm quý báu, đó là nhận biết mình yếu đuối và tin tưởng vào sự trợ giúp của Thiên Chúa. Khi mặc lấy thân phận con người, Chúa Giêsu thấu hiểu những yếu đuối của loài người, trong đó có Phêrô. Người không bỏ rơi Phêrô nhưng muốn ông thức tỉnh để ông đừng cậy dựa vào sức mình, đừng hoảng sợ mà đánh mất niềm tin. Chúa Giêsu luôn xuất hiện và cứu Phêrô vào những phút cuối cùng nguy hiểm nhất.

Kinh nghiệm của Phêrô cũng là kinh nghiệm cho mỗi người chúng ta. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào Chúa Giêsu không bao giờ bỏ rơi các môn đệ, Người vẫn hiện diện bên cạnh để giáo huấn và nâng đỡ đức tin cho các ông. Chúa Giêsu đã đưa tay ra nắm lấy tay Phêrô như người cha luôn nắm chặt bàn tay của đứa con nhỏ.Thiên Chúa không chơi trò cút bắt, đôi lúc Người để cho chúng ta mất tất cả không còn chỗ nào bám víu, lúc đó chúng ta mới biết cậy dựa vào Thiên Chúa.

Thiên Chúa không bao giờ từ chối lời cầu xin của chúng ta bởi chúng ta là đối tượng được Người yêu thương và cứu chuộc. Tình yêu Thiên Chúa có sức mạnh kỳ diệu, mạnh hơn sự chết, cao hơn những suy tưởng và sâu hơn những yếu đuối của loài người. Nói như thánh Gioan tông đồ “Tình yêu không biết đến sợ hãi, trái lại một tình yêu hoàn hảo loại trừ mọi sợ hãi” (1 Ga 4, 18). Chúa Giêsu đã yêu chúng ta bằng một tình yêu nhưng không, Ngài gánh lấy mọi tội lỗi và chịu chết để đem ơn cứu độ cho chúng ta. Nếu thực sự yêu mến và tin tưởng Thiên Chúa,cho dù hoàn cảnh nào chúng ta không bao giờ sợ hãi thất vọng. 

Đã bao lần trong đời sống chúng ta từ chối tình yêu Thiên Chúa, đó là lúc chúng ta từ chối cái “nắm tay” của Người. Chúng ta tự mãn nghĩ mình có đủ tài năng chèo chống con thuyền của cuộc đời mình bằng tiền bạc vật chất, bằng sức mạnh của thế gian để rồi bị trượt ngã thảm thương. Chúng ta tự quyết định con đường tương lai và vận mệnh đời mình mà không cần đến sự trợ giúp của Chúa. Chúng ta không phải là thiên thần để bước đi theo Chúa một cách thanh thoát. Chúng ta bước đi bằng đôi chân nặng nề của đam mê tội lỗi khiến đôi chân ấy cứ lún sâu xuống và muốn ngã quỵ. Chúng ta không dám tin tưởng để cho Chúa dẫn dắt mà chỉ lo bám vào thế lực của con người, ngó ngác trông đợi mong tìm vào một nhánh cây khô mục ruỗng. Chúng ta không nhìn lên phía trước để tiến bước mà cứ nhìn xuống vực sâu, nhìn vào dòng nước cuồn cuộn để rồi sợ hãi khốn khổ.

Tội lỗi, yếu đuối vốn là bản tính của loài người. Vì thế Thiên Chúa hằng trợ giúp chúng ta bằng những lời giáo huấn, bằng ân sủng thiêng liêng qua các bí tích. Điều quan trọng là chúng ta phải khiêm tốn nhìn nhận mình yếu đuối và luôn cần đến lòng thương xót của Chúa. Nói như thánh Phaolô tông đồ, chỉ khi nhận biết mình yếu đuối, chúng ta mới chấp nhận để cho quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa hoạt động. Thiên Chúa luôn ban ơn cần thiết và vừa đủ để chúng ta thắng vượt mọi sự yếu đuối “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2Cr 12, 9).

Nhân loại và Giáo Hội hôm nay cũng đang đối mặt với nhiều sóng gió của thế lực trần gian, nhiều tư tưởng sai lạc khiến niềm tin chao đảo. Người tín hữu đang phải gánh chịu những bất công xã hội,sự hận thù chia rẽ, luân lý đạo đức xuống dốc.

Thực tiễn, ta thấy đời sống các gia đình đang gặp nhiều khủng hoảng khiến hạnh phúc gia đình rạn nứt. Chúng ta đang phải đối diện với nhiều nỗi sợ hãi: sợ thiếu ăn thiếu mặc, sợ già, sợ cô đơn, sợ bị bỏ rơi...và trên hết mọi nỗi sợ đó là sợ chết. Ước gì ta biết đặt trọn niềm tin cậy nơi Thiên Chúa để được giải thoát khỏi mọi nỗi sợ hãi. Ước gì chúng ta trung thành sống theo những giá trị của Tin Mừng để tìm thấy nguồn sự sống và hạnh phúc đích thực.

Và rồi ta thưa với Chúa rằng đường đời của ta không phải lúc nào cũng bằng phẳng, chiếc thuyền đời con không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, xin Chúa cho ta biết tin tưởng Chúa luôn hiện diện và đồng hành để ta an tâm tiến bước.

Quả thế, có nhiều lúc ta cũng chao đảo bởi những khó khăn thử thách, và ta xin Chúa hãy giang rộng cánh tay của Chúa để ta nắm giữ. Xin Chúa hãy nắm lấy tay của ta, tay ta trong tay Chúa dù biển đời có sóng gió thì thuyền đời ta vẫn về tới bến bờ bình an.

 

THỨ TƯ TUẦN 18 THƯỜNG NIÊN

(THÁNH ĐAMINH)

Gr 31:1-7; Gr 31:10,11-12,13; Mt 15:21-28

LOAN BÁO TIN MỪNG NHƯ THÁNH ĐA MINH

Dominique de Guzman sinh tại Caleruega gần Burgos, Tây Ban Nha, vào khoảng năm 1170. Mẹ Người là chân phước Jeanne d'Aza. Sau khi học xong trường kinh sĩ ở Palencia, Dominique nhận chức thành viên kinh sĩ hội ở Osma. Năm hai mươi bốn tuổi, Dominique theo Đức giám mục Diego de Azevedo sang Rôma, nhưng Đức giáo hoàng Innocent III sai người sang miền Nam nước Pháp lúc đó đang bị các lạc giáo Albigeoir và Cathare gây rối.

Tại đây Ngài tổ chức một đoàn truyền giáo, và trong nơi trú ngụ của mình tại Prouille, gần Toulouse, Ngài thành lập một tu viện nữ theo luật dòng thánh Augustin để các chị trợ giúp công việc truyền giáo. Cũng tại đây, năm 1215, gần nhà thờ Saint-Romain ở Toulouse, đã xuất hiện hạt nhân đầu tiên của cộng đoàn tu sĩ thuyết giáo, theo luật dòng thánh Augustin. Các tu sỹ đặc biệt chú trọng lời khấn khó nghèo và việc giảng thuyết, sau một thời gian chuẩn bị nghiêm túc về mặt trí thức. Đức Giáo Hoàng Honorius III chấp thuận dòng mới năm 1216.

Ngay từ lúc còn nhỏ, thánh nhân đã mến mộ sự học hành, cầu nguyện, hãm mình, sống khắc khổ và yêu thương người nghèo. Mỗi ngày đều có giờ nhất định để cầu nguyện và ngài ăn chay hãm mình luôn. Ngày kia có người đến xin Ngài giúp đỡ để chuộc lại đứa em bị bắt, ngài không còn tiền cho người ấy, vì đã bố thí hết, nên nói:  Tôi không còn tiền, nhưng này chị hãy dẫn tôi nộp cho người ta, để chuộc em chị về.

Suốt sáu năm trời, thánh nhân dâng lời cầu nguyện, sự hy sinh kèm theo lời rao giảng kêu gọi moị người trở về với đức tin chân chính, nhưng kết quả không được bao nhiêu. Ngài buồn sầu than thở với Mẹ Maria và được Mẹ dạy bảo hãy rao giảng và cổ động mọi người lần chuỗi Môi Côi, để nhờ đó Mẹ cầu cùng Chúa cho những người lầm lạc trở về với Hội Thánh. Vâng lời Đức Mẹ, ngài đem hết khả năng truyền bá chuỗi Môi Côi, giải thích các mầu nhiệm thánh, kêu gọi mọi người thực hành việc đạo đức này. Kết quả thật là lùng! Không bao lâu, những người tội lỗi và kẻ lầm lạc ăn năn trở về với Chúa. Thánh nhân hết sức vui mừng, tạ ơn Chúa và tri ân Đức Mẹ.

Thánh Đa Minh đã yêu mến Đức Mẹ, Ngài cảm nghiệm sâu sắc Mẹ luôn có Chúa ở bên. Yêu mến Đức Mẹ cùng đồng nghĩa với việc yêu mến Chúa Giêsu. Ngài không giữ Mẹ cho riêng mình, nhưng Ngài và các sĩ tử Dòng tu nam nữ của Ngài đã luôn rao truyền lòng sùng kính Đức Mẹ và truyền bá  Kinh Mân Côi. Ngày nay trên khắp thế giới và đặc biệt trên quê hương Việt Nam, Dòng Đa Minh đã góp công rất nhiều cho Giáo Hội Việt Nam được triển nở phong phú và các linh mục, các tu sĩ nam nữ  Đa Minh đã góp công trong việc đào tạo giáo dục thanh thiếu niên trong các học đường.

Với bao công lao, thánh nhân đã góp công sức biết bao nhiêu cho sự hiệp nhất Giáo Hội và đưa được biết bao nhiêu người trở về với Hội Thánh, với ThiênChúa Ngài đã truyền bá lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria và loan truyền lòng yêu mến kinh Mân Côi. Thánh nhân đã lập ra một Dòng nữ chuyên môn sống tinh thần của thánh Đa Minh. Thánh nhân cũng lập một Dòng gồm các linh mục chuyên đi giảng thuyết khắp nơi với tinh thần loan báo Tin Mừng và truyền bá kinh Mân côi. Các tu sĩ của thánh Đa Minh cũng góp công rất nhiều vào việc giáo dục thanh thiếu niên trong các học đường. Cuộc sống của thánh Đa Minh quả thực sáng ngời các nhân đức. Ngài được Chúa chúc lành: cuộc đời của Ngài đẹp, nổi bật với các nhân đức siêu vời của Ngài và tâm hồn của Ngài chói ngời bác ái vì Ngài họa lại hình ảnh của Chúa Giêsu. Thánh nhân qua đời tại Bologne nước Ý ngày  6 tháng 8 năm 1221. Năm 1234, Đức Thánh Cha Grêgoriô IX đã tôn phong Ngài lên bậc hiển thánh.

Tường thuật phúc âm trong ngày lễ kính Cha Thánh hôm nay, gồm tóm tất cả những điều nhắn nhủ của Chúa Giêsu dành cho những ai muốn làm môn đệ của Ngài, muốn bước đi theo Ngài trên con đường rao truyền Tin Mừng cứu độ đặc biệt bằng linh đạo Đa Minh.

Trước những đòi hỏi của Chúa Giêsu về người môn đệ, chúng ta như thấy mình được nhắc nhở rằng : Đôi khi chúng ta muốn làm môn đệ cho Chúa, nhưng chúng ta lại quên đi mình đang thuộc về Chúa, được Chúa hướng dẫn ; đôi khi chúng ta lại quên rằng mình cần phải hiệp thông trong Hội Thánh, chúng ta mải mê nhiệt tình đi con đường của riêng chúng ta, mà rời xa dần Hội Thánh cũng như rời xa dần thầy Giêsu. Đôi khi làm môn đệ cho Chúa, nhưng chúng ta lại ưa thích ngồi những chỗ an toàn, chọn những tiện nghi dễ chịu, níu kéo và bám víu vào những tình cảm chóng qua… Tất cả những thứ ấy đã làm bước chân sứ vụ của chúng ta như chậm lại, những thứ ấy đã làm cho nhiệt tâm tông đồ của chúng ta như cạn kiệt, những thứ ấy làm cho chúng ta bị chi phối vỡ vụn, phân mảnh.

Người môn đệ cũng ý thức về lời mời gọi đi đến mọi nơi, đến “tất cả các thành”, loan truyền Tin Mừng cho mọi người. Người môn đệ cũng được nhắc nhở ý thức rằng : loan Tin Mừng là sứ vụ cần thiết như “lúa chín đầy đồng” không thể bỏ bê, cũng không thể chậm trễ. Tuy nhiên, người môn đệ cũng được khuyến cáo lưu tâm về những hiểm nguy và khó khăn mà mình sẽ gặp phải “như chiên con đi vào giữa bầy sói”.

 Sau khi Chúa Giêsu nhắc nhở về toàn bộ những điều mà người môn đệ phải ý thức khi thực thi sứ vụ.  Chúa Giêsu tiếp tục nhắn nhủ người môn đệ về hành trang mà họ cần phải mang theo. Hành trang ấy phải gọn nhẹ, chỉ để phục vụ sứ mạng, không cồng kềnh để rồi bị chi phối làm chậm hoặc làm chùn bước chân sứ vụ. Người môn đệ cũng không bận tâm về nơi ăn chốn ở, về những phương tiện vật chất cá nhân, những nhu cầu phục vụ đời sống thường ngày.

Ước chi khi nghe Lời Chúa hôm nay, mỗi người trong chúng ta cũng hãy mau mắn lên đường vì “lúa đã chín đầy đồng”, ước gì mỗi chúng ta cũng thực thi được những đòi hỏi mà Chúa muốn khi làm tông đồ cho Ngài. Điều này lại càng được thôi thúc hơn, bởi chúng ta là con cái của Cha Thánh Đa Minh, người Cha hết lòng cho sứ vụ Loan Báo Tin Mừng. Chúng ta hãnh diện về điều đó. Chúng ta hăng say lên đường với niềm tin tưởng cùng đi với Cha Đa Minh.

HUỆ MINH

 

 

August 7, 2018