April 25, 2018

suy niệm Lời Chúa..

by Huệ Minh

 

CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH, NĂM B

Cv 3:13-15,17-19; Tv 4:2,4,7-8,9; 1 Ga 2:1-5; Lc 24:35-48

LÀM CHỨNG VỀ THẦY

 

Có thể nói vấn nạn lớn nhất của người Kitô Hữu đó là niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh.  Là con người, ai ai cũng phải giới hạn bởi sự chết. Và đối diện với cái chết, khi con người nhắm mắt xuôi tay rồi, không ai có thể sống lại được.  Rõ ràng rằng, trong cuộc đời mỗi người chúng ta, những người đã chết chúng ta thấy chẳng ai sống lại cả. Và ngay cả Lazarô chết, được Đức Kitô cho phục sinh nhưng rồi sau đó Lazarô cũng phải chết.

 Thế nhưng rồi, nơi Đức Kitô Ngài đã phục sinh.  Ngài đã dùng nhiều cách để bày tỏ cho các môn để biết rằng: Ngài đã sống lại.

Sự kiện mà cái Ngôi Mộ trống đó  chưa phải là bằng chứng của Đức Kitô đã phục sinh.  Nhưng rồi, sự kiện mà ngôi mộ trống đó đã mời gọi mỗi người chúng ta suy nghĩ về niềm tin của mỗi người chúng ta.

Chúa Giêsu phục sinh đã hiện ra cho Maria Madalena, với 11 môn đệ, và cho đám đông 500 người còn sống.Và như thế, chúng ta không thể nào gọi là ảo giác, bởi vì tất cả những người đó đã thấy được Đức Kitô phục sinh.

Và thánh Luca thuật lại, thì các ông tưởng thầy mình là ma. Chúng ta thấy ma làm gì có xương có thịt.  Và đặc biệt, Chúa Giêsu củng cố niềm tin cho các môn đệ, Ngài đã cho các môn đệ xem thương tích nơi tay chân để chứng tỏ Ngài có xương có thịt, chứ không phải là một Oan Hồn hay là một Vong Hồn.

Và rồi hình như các môn đệ vẫn nghi ngờ và Người lại đề nghị cho họ sờ chân tay để kiểm chứng và thấy họ hoài Chúa Giêsu lại ăn miếng cá nướng trước mặt họ để chứng tỏ cho họ thấy rằng Ngài đã phục sinh. Thật sự nếu mà làm là ma nếu mà là vong hồn thì không thể nào mà nhai, nuốt như vậy!  Cách diễn tả như thế để cho chúng ta thấy rằng: một Đức Kitô Phục Sinh đã đến với các môn đệ. Đức Kitô Phục Sinh đã khắc niềm tin nơi các ông: Cho xem cạnh sườn luôn! bởi vì cạnh sườn bị dấu đinh đóng là cái kết quả của sự gian ác của con người và rồi chúng ta thấy:

Với Máccô khi nói về các lầm lỗi của các môn đệ thì Ông chẳng che giấu và nói toạc móng heo. Thánh Luca thì luôn luôn bênh vực các môn đệ. Những lỗi lầm của các môn đệ thì Luca luôn tìm cách để che đậy!  Ở đây cũng vậy, Luca luôn luôn bao che cho các môn đệ, lý do rằng các ông chưa tin Chúa Giêsu phục sinh là vì các ông mừng quá đấy thôi!  chứ không phải các ông yếu tim.

Thế nhưng mà, chúng ta thấy tâm tình quý trọng các môn đệ nơi thánh Luca rất là đặc biệt. Và ngày hôm nay chúng ta thấy Chúa Giêsu đã phục sinh thực sự.  

Và lời mời gọi của Chúa Giêsu phục sinh ngày hôm nay rất tuyệt vời cụ thể nơi bài đọc thứ nhất.  Thánh Phêrô kể ra một cách cụ thể để mà làm chứng Đức Giêsu phục sinh đó là cái cách chúng ta Sám Hối :

“Hỡi anh em, thế nhưng tôi biết rằng anh em đã hành động vì không biết như  các thủ lãnh anh em đã làm. Thiên Chúa đã hoàn tất việc Người dùng miệng ngôn sứ mà báo trước, Đức Kitô của Người đã chịu khổ hình. Vậy anh em hãy ăn năn hối cải, ngõ hầu anh em được xóa bỏ  tội lỗi”

Sự thật rõ ràng là : tôi đã làm chứng. chúng ta đánh mất một đức tin nơi Thiên Chúa, nơi Đức Kitô phục sinh. Vì thế, chính vì tội đã làm cho con người ta không còn tin vào Chúa nữa. Và vì thế cần phải ăn năn sám hối, để chừa bỏ tội lỗi chứ thường thì, những người quen phạm tội thì dần dần mất đức tin, và nếu còn đức tin thì rất yếu ớt khi gặp sóng gió giữa cuộc đời. Do đó Câu hỏi đặt ra lúc đầu về sự nghi ngờ về Đức Kitô phục sinh và sự Phục Sinh Của Đức Kitô không phải là không có lý do vậy Muốn nhìn thấy niềm tin của mình còn vững chắc hay không thì theo Thánh Phêrô xét xem mình có phạm tội hay không và biết ăn năn sám hối hay không?

Sám hối là gì ? Anh em đã chối bỏ Đấng Thánh là Đấng công chính mà tha cho kẻ sát nhân.

Sám hối là chúng ta thay đổi cách nhìn về Chúa Giêsu. Từ đóng đinh, giết chết, treo trên thập giá  mà nay chúng ta phải tin Ngài là Đấng Công Chính chúng ta phải thay đổi cách nhìn về Chúa Giêsu, thay đổi cái đời sống chúng ta. 

Và rồi chúng ta được mời gọi rao giảng về Đức Kitô Phục Sinh, là trước hết chúng ta phải Sám Hối. Bản thân của chúng ta Sám Hối, bản thân của chúng ta thay đổi về cái nhìn của Chúa Giêsu phục sinh.  

Cùng với Chúa Giêsu phục sinh chúng ta thay đổi về cái nhìn của giá trị, tận tâm can của chúng ta. Nó thực tế, vì trong kinh Tin Kính chúng ta đọc: " Tôi tin xác loại người ngày sau sống lại." Tuyên xưng như vậy có rất nhiều câu hỏi nơi mỗi người chúng ta. 

Và cái niềm tin của chúng ta tin vào Chúa Kitô phục sinh sống đó, nó phải diễn tả trong đời thường của chúng ta, chứ không phải ở trên môi trên miệng trên lời nói của mỗi người chúng ta . Và rất, rất khó khăn, bởi vì ngày hôm nay,  giữa một cái trào lưu của một thế giới hưởng thụ, văn minh lên cao; con người thích lợi nhuận, thích tìm những việc thực tế,  con người ưa thực dụng hơn là suy nghĩ động não, thì Tin Mừng hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta, chúng ta hãy làm chứng cho Người . 

Chúng ta làm chứng cho Đức Kitô là : chúng ta giới thiệu một Đức Kitô đã sống lại và đang hiện diện với con người,  với nhân loại. Và làm chứng rằng cho thế giới biết rằng: Chúa Giêsu phục sinh không đòi hỏi lợi nhuận tiền bạc, nhưng chúng ta sống bằng chính cái đời sống đức tin của chúng ta.  Và đặc biệt, đó là sống cái niềm tin của chúng ta bằng đời thường, bằng lòng mến, bằng lòng bác ái của chúng ta.  

Thì chúng ta nhìn vào các môn đệ, chính các môn đệ đã chấp nhận  đòn roi khổ cực, tù ngục và sẵn sàng chết vì Đức Kitô . Ngày hôm nay, chúng ta không phải đối diện bằng những cái chết tử đạo, bách hại đạo như các thánh tử đạo ngày xưa, nhưng chúng ta được mời gọi loan báo Tin Mừng Chúa Kitô Phục Sinh bằng đời sống yêu thương, bằng đời sống tha thứ, bằng những việc làm cụ thể.  Đức Cố giáo hoàng Phaolô 6 nói: ngày hôm nay, người ta cần những chứng nhân chứ không cần những thầy dạy nữa! 

Mà quả thật những thầy dạy nghiên cứu về thánh kinh về thần học, về triết học về khoa bảng quá nhiều! Ngày hôm nay những người làm chứng về Chúa Kitô phục sinh bằng đời sống của mình rất hiếm. Nhưng mà «hiếm», nhưng mà có! chứ không phải không! 

Chúng ta hãy nhìn nơi gương của Mẹ Têrêsa Calcutta, một người phụ nữ tiều tụy ốm yếu, đau khổ,  nhưng mẹ đã có một trái tim của Giêsu, mẹ mang trong mình trái tim của Giêsu: một trái tim yêu thương. 

Chúng ta nhìn vào gương của một Phanxicô khó khăn, đã chấp nhận, đã từ bỏ tất cả sự giàu có vinh hoa phú quý của gia đình, để sống nghèo, để yêu thương và lo lắng cho người nghèo. Hay đơn giản, chúng ta có thể nở một nụ cười, nở một nụ cười như Đức Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhất. Và đặc biệt gương của lòng tha thứ gương của sự vị tha còn đó nơi Đức Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, cái sự tha thứ đã làm nên khuôn mặt của ngài, ngài đã yêu thương đã diễn tả lòng thương xót.

 Tất cả những chứng nhân đó tất cả những vị thánh đó làm chứng cho một Đức Kitô Phục Sinh.  Thật sự ra, nơi con người của chúng ta vẫn là những con người yếu đuối, chúng ta vẫn mang trong mình cái phận người. Nói yêu thương, nói tha thứ, không phải là chuyện đơn giản. Đó là những cái thách đố của cuộc đời chúng ta. 

Thế nhưng, không phải là không làm được! và không bao giờ làm được! Làm được, Nếu có ơn Chúa! Đặc biệt chúng ta biết kết hợp vào với Đức Kitô Phục Sinh, nơi mỗi thánh lễ chúng ta tham dự. Khi chúng ta tham dự thánh lễ, là chúng ta rước Đức Kitô Phục Sinh vào trong cuộc đời của mỗi người chúng ta. Để rồi khi CHÚA ở trong ta, ta ở trong CHÚA. Chúng ta kết hợp với Đức Kitô, thì chính khi ấy Chúa  sống trong ta và ta sống trong Chúa .

Nhờ vào ơn Chúa  chúng ta sẽ diễn tả cái đời sống Yêu Thương,  bác ái đó cho anh chị em chúng ta, nơi những người chúng ta gần gũi.

Có thể chúng ta còn nghèo, có thể chúng ta không có tiền bạc, có thể chúng ta không có tài sản; nhưng mỗi người chúng ta vẫn có một nụ cười. Mỗi người chúng ta vẫn có một lòng vị tha. Mỗi người chúng ta vẫn có ánh mắt nhân từ,  để tha thứ cho anh chị em những người làm tổn hại chúng ta, những người sát hại chúng ta và những người gây đau khổ cho chúng ta.

Thế đấy, một Đức Kitô Phục Sinh đã, đang, và đã sống lại, và mời gọi chúng ta hãy lên đường làm chứng về Thầy, làm chứng về Đức Kitô Phục Sinh. Là người Môn Đệ của Đức Kitô, chúng ta luôn luôn được mời gọi để sống Tin Mừng Phục Sinh đó, trong cuộc đời của chúng ta. 

Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta, để đặc biệt, trước hết, chúng ta sám hối về tội lỗi của chúng ta. Vì chúng ta đã đóng đinh Đức Kitô vào thập giá, và chúng ta lại lên đường loan báo một Đức Kitô Phục Sinh đã yêu thương chúng ta khi chúng ta còn là tội nhân. Chúng ta lên đường loan báo một Đức Kitô Phục Sinh yêu thương, và tha thứ cho những người xúc phạm, cho những người giết hại mình, bằng chính đời sống Yêu Thương, phục vụ và tha thứ, là chính lúc chúng ta tuyên bố Đức Kitô Phục Sinh rõ nét nhất trong cuộc đời chúng ta.

Xin Đức Kitô Phục Sinh đến, ở lại với mỗi người chúng ta.  Và xin cho chúng ta luôn luôn biết kết hợp với Đức Kitô Phục Sinh để chúng ta diễn tả đời sống của một Đức Kitô Phục Sinh trong lời ăn, tiếng nói, trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người chúng ta. Amen.

by Huệ Minh

THỨ HAI TRONG TUẦN 3 PHỤC SINH

Cv 6:8-15; Tv 119:23-24,26-27,29-30; Ga 6:22-29

BÁNH HẰNG SỐNG

Trang Tin Mừng của thánh Gioan hôm nay, ta thấy Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy tìm kiếm cho mình một thứ lương thực ban lại sự sống và hạnh phúc đời đời, đó chính là mình thánh Ngài qua biến cố Phục sinh. "Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận" (Ga 6,27).

Những nhu cầu như ăn, uống, ngủ và giải trí là những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Mọi người luôn cố gắng tìm đủ mọi cách làm sao cho những nhu cầu đó ngày càng một gia tăng hơn trong cuộc sống. Những người đủ ăn thì cố gắng làm để ăn ngon hơn và mặc ấm hơn. Còn những người đã có những đồ ăn ngon thì muốn mặc đẹp hơn, thời trang hơn và tìm kiếm những nhu cầu giải trí nhiều hơn. Đây cũng là một điều hết sức bình thường trong cuộc sống.

Trang Tin Mừng này Chúa Giêsu muốn cảnh báo cho chúng ta về những nhu cầu này và chỉ cho chúng ta một loại lương thực không bao giờ hư mất và rất quan trọng trong đời sống thể xác cũng như thiêng liêng của chúng ta. Chúa Giêsu cảnh báo cho chúng ta về thứ lương thực thường ngày mà mọi người đang tìm kiếm như của ăn, tiền tài, danh vọng. Tuy chúng cần thiết cho sự tồn tại của chúng ta nhưng chúng chỉ là những thứ chóng qua không mang lại hạnh phúc đích thực và không khéo chúng ta sẽ coi chúng là mục đích sống cuối cùng của mình trên đời này.

Chúa Giêsu Kitô luôn yêu thương chúng ta, tình thương của Ngài dành cho chúng ta hơn cả tình thương của người cha dành cho người con. Chúa Giêsu không chỉ nói cho chúng ta biết chính Ngài là bánh hằng sống đem lại hạnh phúc và sự sống đời đời, là cùng đích cuối cùng để chúng ta tìm kiếm mà Ngài còn hướng dẫn chúng ta con đường đi đến cùng đích này là hãy tin vào Đức Kitô Phục sinh. "Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến" (Ga 6,29).

Ðám đông được Chúa Giêsu cho ăn no nê ngày hôm trước, ngày hôm sau vẫn còn đứng bên kia bờ Biển hồ. Chúa Giêsu đã đọc được động lực thúc đẩy họ tìm kiếm Ngài, họ đã đi tìm kiếm Ngài không phải vì Ngài là đối tượng của khát vọng tìm kiếm của họ, mà chỉ vì đã được Ngài cho ăn no nê; họ đi tìm kiếm không phải vì đã nhận ra ý nghĩa của phép lạ nhân bánh và cá ra nhiều; họ đi tìm kiếm Ngài không phải vì chính Ngài đã mang lại ý nghĩa và giá trị cho cuộc sống của họ; họ đi tìm kiếm Ngài không phải vì giáo huấn của Ngài; họ đi tìm kiếm Ngài không phải vì những giá trị cao quí của cuộc sống mà Ngài đến để bày tỏ. Cái đám đông ấy bị lôi kéo bởi những cái hời hợt, nhất thời và chóng qua là cơm bánh. Ðây chính là bi kịch đã xảy ra cho Chúa Giêsu. Ðám đông đã khước từ Ngài và treo Ngài lên thập giá chỉ vì họ đã không hành động theo những xác tín thâm sâu thể hiện trên đạo lý, trên tiếng gọi của lương tâm, mà chỉ sống theo cảm tính và những xu thế mù quáng. Ðây cũng chính là nguy cơ mà người tín hữu Kitô có thể rơi vào.

Với phép lạ này, Chúa chỉ giúp họ khỏi đói trong vài giờ, và đây là cái đói của thân xác. Phép lạ này dù lớn, nhưng chỉ nuôi được một đám đông vài ngàn người, vẫn còn bao người trên thế giới cần được nuôi ăn. Đức Giêsu mong nuôi được nhiều người hơn, nuôi được mọi người. Không phải chỉ nuôi về thân xác, mà nhất là về tinh thần. Không phải chỉ nuôi bằng thức ăn trần thế là bánh và cá, mà nuôi bằng giáo huấn của mình, bằng chính con người mình. 

Sau phép lạ bánh hóa nhiều, khi đám đông định tôn Đức Giêsu lên làm vua, chắc họ đã nghĩ đến sự bảo đảm về mặt vật chất mà Ngài mang lại. Lúc nào cũng có bánh ăn no nê, đó là ước mơ của nhiều người nghèo thời ấy. Nhưng Chúa Giêsu đã từ chối đứng lên khởi nghĩa giành độc lập. Ngài không phải là một Mêsia làm chính trị. Bánh và cá mà Ngài giúp họ tạm thời vượt qua cơn đói chỉ là thứ lương thực mau hư nát dành cho xác thân (c. 27). Lương thực đó là dấu chỉ cho một thứ lương thực khác Ngài sắp ban. Đó là lương thực thường tồn đem lại sự sống vĩnh cửu (c. 27). Hẳn nhiên, lương thực sau này quan trọng hơn nhiều. 

Chúa Giêsu là Bánh Hằng sống. Không những Lời của Người là lương thực nuôi dưỡng tâm linh mà Người còn ban chính Thân Thể Cực Thánh của Người làm bánh dưỡng nuôi linh hồn. Khi tham dự Thánh lễ và lãnh nhận Thánh Thể Chúa trong niềm tin, chúng ta cũng được mời gọi sống tình hiệp thông huynh đệ, trở nên tấm bánh bẻ ra cho mọi người; chúng ta có nhiệm vụ làm cho cuộc sống trở nên phong phú và xây dựng hạnh phúc cho con người.

Chúa Giêsu mở đấu bài tường thuật về bánh Hằng Sống. Ta thấy được ban đầu họ khao khát tìm kiếm Chúa Giêsu, và đến với Ngài chỉ là do lợi lộc cá nhân. Liên tưởng đến cuộc sống chúng ta nhiều lúc cũng giống như họ, chỉ chạy đến Chuá khi buồn phiền hay khi gặp khó khăn, chạy đến Ngài để cầu xin ơn này đến ơn khác, chứ chưa thật sự vì lòng mến yêu Ngài. Do đó điều chúng ta cần làm là phải: " hãy ra công làm việc không phải vì lương thực hay hư nát " . Điều này đòi hỏi chúng ta hãy ý thức mỗi khi chạy đến với Chuá khổng chỉ vì phần xác mà chính là phần hồn. Tiêu biểu là bánh Hằng Sống chúng ta lãnh nhận mỗi ngày qua thánh lễ.

Ta là Bánh hằng sống, là Bánh ban xuống bởi Trời. Ta là Bánh trường sinh. Ai ăn sẽ sống muôn đời. Đây mình Ta chính là của ăn và máu Ta thật là của uống. Người ăn bánh này không còn đói khát chi. Người uống máu này sẽ được trường sinh.

Lạy Chúa Giêsu, trong từng giây phút của cuộc sống xin cho chúng con luôn ý thức được tầm quan trọng của Bí tích Thánh Thể và năng chạy đến với Bí tích tình yêu này. Để từ đây, trong cuộc sống chúng con luôn có hiện diện và đồng hành ở bên. .

 

 

THỨ BA TRONG TUẦN BA PHỤC SINH

Cv 7:518; Tv 31:3-4,6-7,8,17,21; Ga 6:30-35

NẾM THƯỞNG BÁNH TRƯỜNG SINH

Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, uy tín và tiếng đồn về Chúa Giêsu ngày một vang xa.Một số người vì óc tò mò kéo nhau đến theo Chúa để tìm hiểu thực hư thế nào Một số người tỏ ra ngưỡng mộ quyền năng của Chúa. Thế nhưng còn một số vẫn chưa thỏa mãn, họ muốn đòi thêm một bằng chứng khác phi thường hơn nữa. Họ bắt đầu so sánh việc làm của Chúa với tổ tiên của họ, bánh của Chúa có gì khác với man-na của cha ông họ.

Chúa Giêsu giải thích cho họ biết “không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”. Chúa Giêsu còn khẳng định: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”

Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy qua những nhu cầu vật chất đời thường, Đức Giê-su mời gọi con người tin và đón nhận Ngài như thần lương nuôi sống linh hồn để đạt được sự sống đời đời, sự sống vĩnh cửu không bao giờ hư mất.

Con người ta thường hiếu kỳ, thích dấu lạ (c.30). Chẳng phải chỉ những người đương thời Chúa Giêsu mà người thời nay cũng thế, mỗi khi nghe ở đâu có sự lạ là người ta ùn ùn kéo đến; lắm khi phải vượt đường xa vạn dặm, tốn tiền, tốn của, người ta cũng vẫn sẵn sàng để được chứng kiến dấu lạ, mà thường khi họ lại chẳng thấy gì hết.

Do đó, việc hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng của Chúa Giêsu là sự lạ khá hấp dẫn đối với người Do Thái đương thời; bởi chẳng phải cũng vì cơm bánh mà người ta phải lao tâm khổ trí, vất vả nhọc nhằn đó sao. Họ liên tưởng đến tổ tiên họ đã được ăn manna – bánh từ trời rơi xuống; và sự kiện này xem ra còn kỳ diệu hơn cả phép lạ Chúa Giêsu đã làm. Họ chất vấn Chúa Giêsu: “Ông sẽ làm gì đây?” Theo người Do Thái thì một ngôn sứ đích thật phải làm được dấu lạ nào đó cho họ tin. Ở đây, họ muốn so sánh Chúa Giêsu với ông Môsê; Môsê đã cho tổ tiên họ manna, còn Chúa Giêsu, Ngài làm được gì? Câu hỏi dường như có ngầm ý khích Chúa Giêsu tỏ uy quyền của Ngài và làm cho họ những cái lời lớn hơn.

Chúa Giêsu cho người Do Thái biết không phải ông Môsê cho họ bánh bởi trời mà chính Thiên Chúa ban cho họ; Bánh manna thực sự chỉ là một tiên báo về Chúa Giêsu – bánh đích thực Thiên Chúa sẽ ban cho con người. Con người nhắm vào vật chất, nhưng Chúa Giêsu muốn đưa người ta lên cao hơn, đó là đời sống đức tin. Thánh Phaolô thường khẳng định: “Nhờ tin mà anh em được cứu độ” (Ep 2,8). Từ lương thực chóng hư, Chúa Giêsu hứa ban lương thực không bao giờ hư nát là chính mình Người (c.35). Tuy nhiên với đầu óc u mê, cặp mắt thiển cận, người ta chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt mà không nhìn thấy cái lợi trăm vạn lần hơn, đó là được chính Thiên Chúa. Người ta chỉ quan tâm đến nhu cầu của thân xác hay chết mà ít quan tâm đến nhu cầu tinh thần, nhu cầu đem đến sự sống muôn đời cho con người.

Chúa Giêsu chính là bánh hằng sống từ trời xuống, ai tin và đón nhận Ngài sẽ không hề phải đói khát bao giờ (c.35). Đến với Chúa Giêsu, chúng ta sẽ có lương thực nuôi sống linh hồn; Ngài sẵn sàng ban cho chúng ta Lời của Ngài, như kim chỉ nam dẫn lối và thân thể Ngài như của ăn để chúng ta tiến bước về quê hương đích thật. Có Ngài cùng đồng hành trong cuộc sống chúng ta chẳng còn phải lo lạc lối hay đói khát tinh thần.

Và rồi, trong cuộc sống lắm khi những nỗi vất vả và lo toan làm chúng ta quên Chúa; nhưng Chúa Giêsu, Ngài đã nói: “Hỡi những ai vất vả gồng gánh nặng nề, hãy đến với ta, ta sẽ nâng đỡ và  bổ sức cho các ngươi”. Con người đói khát thể lý đã bi thảm, nhưng con người đói khát tinh thần càng vạn lần bi thảm hơn. Hầu hết những đau khổ của con người từ vật chất đến tinh thần đều có nguyên nhân từ việc đói khát tinh thần mà ra. Thế giới ‘vắng bóng’ Thiên Chúa, thì trở thành tranh dành, hận thù, ích kỷ, huynh đệ tương tàn, con người không có Thiên Chúa, trống vắng tâm linh thì dầu cho có lắm của cải vật chất, địa vị, danh vọng… cũng không bao giờ thỏa mãn được.

Khi khẳng định “Chính tôi là bánh trường sinh”, Chúa Giêsu cũng khẳng định quyền năng và tình thương yêu của Thiên Chúa. Vì chỉ Thiên Chúa mới có được sáng kiến và quyền năng làm cho loài người được sống và sống bất diệt. Vì quá yêu thương thế gian nên Thiên Chúa đã sai Con Một đến để ai tin vào Người Con ấy thì không phải chết nhưng sẽ được sống đời đời. Như vậy điều kiện để sống đời đời không phải chỉ ăn thứ bánh vật chất nhưng phải có lòng tin.

Tin nhận Chúa Giêsu là để cho Người đi vào trong cuộc sống của chúng ta, là chấp nhận tất cả những thách đố của Tin Mừng, là đón nhận thánh giá như món quà của tình yêu, là đón nhận được ánh sáng rạng ngời của sự sống mới trong bóng đêm của cảnh chết chóc. Tin nhận Chúa Giêsu là chấp nhận sự “điên rồ” của thập giá trong cái khôn ngoan của Thiên Chúa.

Trong đời sống thiêng liêng, niềm tin là điều cần thiết để chúng ta nhận ra sự hiện diện Thiên Chúa, nhận ra tình yêu thương Ngài đã dành cho chúng ta. Giáo lý Công giáo dạy chúng ta rằng đức tin trước tiên là ơn ban đến từ Thiên Chúa. Vì như Chúa Giêsu khẳng định rằng: “Không ai có thể đến với Tôi, nếu Cha Tôi không lôi kéo người ấy” (Ga 6, 44).

Đức tin là một ân sủng, là một ơn huệ mà Chúa ban cho ta, theo bản tính tự nhiên ta không thể đòi hỏi, có chăng là chỉ cầu mong và hy vọng được ban cho ơn ấy. Đức tin là ánh sáng chiếu soi cho ta thấy Thiên Chúa và các điều kín ẩn của Người. Đức tin từ trời cao ban xuống, là trí tuệ và tình yêu của Thiên Chúa ban để soi sáng trí khôn con người.

Chúng ta tự vấn lương tâm xem thử trong cuộc sống chúng ta đặt niềm tin nơi đâu? Nơi của cải vật chất, danh vọng địa vị… hay nơi Đức Giêsu Ki-tô – con Thiên Chúa, Đấng đem ơn Cứu độ và sự sống đích thật, sự sống thần linh cho con người. Thiết tưởng nếu chúng ta chỉ chăm lo đến cuộc sống tạm bợ, nay còn mai mất mà không quan tâm đến cuộc sống vĩnh cửu thì còn gì ngu dại bằng. Xin Thiên Chúa ban thêm đức tin cho chúng ta, để trong mọi hoàn cảnh cuộc sống chúng ta biết chạy đến với Ngài, cậy dựa vào Ngài. Xin cho chúng ta biết quí trọng, yêu mến, và năng lãnh nhận Thánh Thể Chúa, để chúng ta có thêm sức mạnh vượt qua những cam go thử thách trong hành trình tiến về quê hương đích thật là nước trời.

Mỗi người chúng ta luôn được mời gọi đến thưởng nếm bánh trường sinh để được sống trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa. Lạy Chúa, xin trao về Chúa trọn vẹn con người, trái tim, mọi ước muốn và bước đường tương lai của chúng con. Xin dẫn chúng con tới đồng cỏ xanh tươi, cho con được no thỏa bên dòng suối mát vì Chúa chính là niềm hạnh phúc đích thực.

THỨ TƯ TRONG TUẦN 3 PHỤC SINH

Cv 8:1-8; Tv 66:1-3,4-5,6-7; Ga 6:35-40

HÃY ĐẾN ĐỂ ĂN BÁNH TRƯỜNG SINH

Ta thấy Thánh Gioan trong Tin Mừng của Ngài ở chương 6 nói về Diễn từ “Bánh Trường Sinh”. Đây là một chương đặc biệt nói về Bí Tích Thánh Thể và đã được Giáo Hội chọn dùng trong dịp đại lễ Kính Mình Máu Chúa. Mở đầu chương 6 với phép lạ Hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu như muốn giới thiệu và khai mở một mầu nhiệm Tình yêu cao siêu, đó là : chính Ngài trở nên Bánh nuôi dưỡng con người. Một thứ Bánh thần lương có đủ mùi vị thơm ngon, làm no thỏa lòng người.

Mở đầu trang Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe đó là lời xác định “Chính tôi là Bánh trường sinh”. Một lời quả quyết chắc chắn cũng chính là lời tự nguyện mang sự an vui đến cho con người : “Ai đến với Tôi, không hề phải đói, ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ” (c. 35).

Ta thấy nhu cầu thiết yếu để tồn tại của sinh vật trên trái đất chính là ăn uống. Từ thời hoang sơ khi con người chưa biết đến sách vở, chưa biết đến ti vi, hon đa, xe hơi, vi tính… thì con người đã biết làm sao để sinh tồn, đấu tranh để sinh tồn – đó chính là tìm kiếm lương thực để ăn. Do đó cơm bánh là nhu cầu thể lý thiết yếu để con người có thể sống. Con người có thể thiếu sách vở, thiếu ti vi, thiếu hon đa; con người có thể không xem phim, không có những phương tiện giải trí đủ loại; nhưng con người không thể không có cơm bánh.

Và rồi Đức Giê-su đã ví Người là ‘Bánh’ – Bánh trường sinh – Bánh ban sự sống đời đời –  cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của Ngài trong cuộc sống chúng ta. Cũng như sự sống thể lý con người cần cơm bánh, thì trong lãnh vực đời sống tâm linh chỉ Đức Giê-su mới thỏa mãn được cơn đói khát của con người; và chính đời sống tâm linh là yếu tố chi phối toàn bộ đời sống con người - nếu đời sống tâm linh sung mãn thì cuộc sống con người mới thực sung mãn.

Một lời hứa đem lại sự sống qua việc giải quyết những vấn nạn tự nhiên của con người như đói, khát. Đó cũng là nhu cầu sinh tồn của mọi sinh vật…. Chúa Giêsu biết dù Ngài có nói thật về con người và sứ mạng của Ngài, thì người Do thái vẫn cứng lòng “các ông đã thấy tôi mà không tin” (c.36). Người Do thái đã thấy, biết và chứng kiến bao điều kỳ diệu Ngài thực hiện vì tình yêu, nhưng họ vẫn bưng tai, bịt mắt để khỏi nghe, khỏi nhìn. Họ vẫn thờ ơ, thậm chí chai lỳ chống lại lời mời gọi tình yêu của Thiên Chúa.

"Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói ; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” Trải qua hơn hai ngàn năm, Đức Giê-su đã là lương thực nuôi dưỡng nhân loại qua Lời hằng sống của Người. Lời của người ảnh hưởng trực tiếp trên những kẻ tin yêu và lắng nghe, đồng thời dán tiếp ảnh hưởng đến tất cả mọi môi trường có chứng nhân của Lời hiện diện. Lời của người là Lời tình yêu Thiên Chúa gửi đến cho nhân loại; là Lời có khả năng thỏa mãn cơn đói khát tình yêu của con người; một cơn đói khát quyết định sự sống còn của nhân loại. Chối bỏ Lời, con người ngày nay đắm chìm trong một nền văn hóa chết chóc, có xu hướng đề cao chủ nghĩa cá nhân, hưởng thụ ích kỷ, chạy theo vật chất, bành trướng cái tôi… là một lối sống làm sói mòn tâm linh và ý nghĩa thiêng liêng cao cả của cuộc sống con người. Chỉ khi nghe và thực hành Lời người – như ‘ăn’ và ‘tiêu hóa’ – thì cuộc sống thế giới mới trở nên phong phú, cuộc đời con người mới có hạnh phúc thật.

“Chính tôi là bánh trường sinh.” Yêu ai thì khát khao muốn nên một với người mình yêu. Tình yêu làm phát sinh sáng kiến – Đức Giê-su vì quá yêu thương con người nên đã tự nguyện trở nên bánh để ở với con người, nên máu thịt của con người, dưỡng nuôi tâm linh và ban cho họ sự sống bất diệt: “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì có sự sống đời đời và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết. Vì thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống” (Ga 6, 54 – 55). Bởi chính thế mà Đức Giê-su đã thiết lập bí tích Thánh Thể để ở lại với con người, dưỡng nuôi và đồng hành với con người trên đường tiến về quê hương đích thật trên trời.

Chúa Giêsu vẫn không nản lòng, lùi bước trước sự cứng lòng của họ. Ngài mở ra cho họ thấy lòng quảng đại từ tâm của Thiên Chúa, đối với những ai sẵn sàng cộng tác và tiếp nhận Ngài “Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi, đều sẽ đến với tôi”. Những người này được Thiên Chúa dẫn dắt hay đúng hơn họ để cho Thiên Chúa thực hiện công việc của Ngài trên cuộc đời họ. Và Chúa Giêsu khẳng định về cuộc sống của họ sau này “Ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài” (c.37). Họ sẽ được sống mãi với Ngài trong vinh quang. Đó là phần thưởng dành cho những người được Thiên Chúa yêu thương. Phần thưởng đó là do thánh ý Chúa Cha và Chúa Giêsu là người được sai xuống trần gian để thực hiện thánh ý này “vì tôi từ trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (c.38).

Ta thấy Chúa Giêsu không dừng lại mà Ngài chỉ rõ ý của Chúa Cha, đó là “Những kẻ mà Chúa Cha ban cho Chúa Giêsu, Người hứa sẽ giữ gìn và bảo tồn cuộc sống đời đời cho họ và nhất là họ sẽ được sống lại trong ngày sau hết, ngày thẩm phán chung cuộc của thế giới này, ngày mà Chúa Giêsu sẽ xuất hiện lần thứ hai trong vinh quang rạng rỡ.

Ở câu 40, Chúa Giêsu nhấn mạnh hành vi cho những ai muốn có sự sống đời đời, muốn được hưởng ơn cứu độ đó là “thấy Người Con và tin vào Ngài”. Một hành vi nghe chừng đơn giản và dễ dàng nhưng không dễ thực hiện trước những thử thách của cuộc đời; trước những cám dỗ của ma quỷ, thế gian; trước những tự do phóng túng của con người trong thời đại ngày nay.

Mãi đến ngày hôm nay Đức Giê-su vẫn tiếp tục hiến mình cho nhân loại qua thánh lễ mà Giáo hội cử hành mỗi ngày khắp nơi trên thế giới. Cảm nhận hồng ân cao cả Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại, Giáo hội trung thành, hân hoan thiết đãi và mời gọi con cái mình đến dự bàn tiệc Lời Hằng sống và Thánh Thể Chúa Giêsu qua thánh lễ hằng ngày. Vì thế Ki-tô hữu chúng ta cần ý thức và siêng năng tham dự thánh lễ với lòng vui mừng và biết ơn Chúa, biết ơn Giáo hội. Chúng ta cần tham dự hy lễ tạ ơn này cách sinh động với lòng thành, không câu nệ, không máy móc. Đừng làm người khờ dại chỉ đi dự tiệc cho có mặt mà không ăn tiệc (không chú tâm nghe Lời Chúa, không lãnh nhận Thánh Thể Chúa), chúng ta cần biết lắng nghe Lời hằng sống của Đức Ki-tô và đón rước mình Thánh của người làm của ăn nuôi dưỡng tâm hồn; để đời sống của Đức Giê-su, tinh thần của Người thấm nhập vào trong con người và cuộc đời của mỗi người chúng ta, hầu chúng ta trở nên cánh tay nối dài của Người trong công cuộc dựng xây vương quốc nước trời nơi trần gian và được sống hạnh phúc muôn đời bên Chúa.

Ngày hôm nay con người vẫn đứng trước thách đố của niềm tin : tin vào sự hiện diện của Chúa, tin vào tình yêu của Chúa dường như trở nên không thực tế với người thời đại. Xin Chúa cho mỗi người chúng ta tuy rằng chúng ta là những người đã tin theo Chúa một quãng đường dài (20, 30, 40, ….80, 90 năm …), thế mà niềm tin của chúng ta còn bị chao đảo, vùi giập giữa bao sóng gió, bão tố của cuộc đời. Xin nâng đỡ chúng ta. Xin ban thêm niềm tin cho chúng ta để khi Con Người đến, Ngài còn thấy niềm tin trên mặt đất này. (x.Lc 18,8). Amen.

 

THỨ NĂM TRONG TUẦN 3 PHỤC SINH

Cv 8:26-40; Tv 66:8-9,16-17,20; Ga 6:44-51

KHÁT KHAO SỰ SỐNG THẦN LINH

Thánh sử Gioan đã ghi lại toàn bộ trong chương 6 của Ngài trong loạt bài giảng của Chúa Giêsu : Bánh Hằng Sống. Bánh Hằng Sống là diễn từ rất quan trọng trong Tin Mừng theo Thánh Gioan

Thiên Chúa yêu thương đã cho chúng ta được sống làm người có thân xác và linh hồn bất tử. Vũ trụ này xinh đẹp, tầng trời cao xanh, hoa trái ngọt lành, những tia nắng ấm, cơn mưa mát mẻ...tất cả đều được tạo nên vì con người. Thiên Chúa quan phòng còn chuẩn bị cho con người mọi thứ để có cuộc sống đầy đủ đến nỗi tác giả thánh vịnh 64 đã cất lên lời tạ ơn : «Bốn mùa Chúa đổ hồng ân, Ngài gieo màu mỡ ngập tràn lối đi. Vùng hoang địa xanh rì ngọn cỏ, cảnh núi đồi hớn hở tươi xinh. Chiên cừu phủ trắng đồng xanh, lúa vàng dưới lũng rung rinh dạt dào...»

Thiên Chúa đã yêu thương tạo dựng nên chúng ta để được tận hưởng sự sống vĩnh cửu trong vương quốc yêu thương của Ngài. Vì thế, Thiên Chúa Cha luôn không ngừng dẫn dắt con người đi vào trong quỹ đạo yêu thương bằng sự nhận biết về Ngài qua con người Đức Giêsu. Chúa Giêsu đã quả quyết: “Không ai có thể đến với Ta, nếu Cha, Đấng đã sai Ta không lôi kéo nó”(c.44).

Thiên Chúa luôn có nhiều cách thức để giúp chúng ta nhận biết tình yêu của Ngài. Đặc biệt qua trung gian Đức Giêsu, Con Một yêu dấu của Ngài. Trong mỗi biến cố cuộc sống, với sự tĩnh lặng của lương tâm, hay nhờ những trung gian của Giáo hội, Thiên Chúa lôi kéo chúng ta đến nhận biết Đức Giêsu và tin vào Ngài, vì chính Ngài cũng là Thiên Chúa yêu thương và quyền năng. Ngài đã đến giữa lòng nhân loại với kiếp sống con người. Ngài yêu thương hiến thân phục vụ và cuối cùng đã chịu đau khổ và chết vì tội lỗi nhân loại.

Nhưng Thiên Chúa đã cho Ngài phục sinh vinh hiển, chính nhờ sự phục sinh của Ngài mà chúng ta hy vọng được trả lại sự sống vĩnh cửu mà Ađam đã đánh mất xưa kia. Thiên Chúa vẫn âm thầm hiện diện trong cuộc sống chúng ta để lôi kéo chúng ta đến với Đức Giêsu lãnh nhận sự sống vĩnh cửu. Nhưng đấy lại là tự do của mỗi chúng ta! Chúng ta có quyền đón nhận hay từ chối?

Thật vậy, nỗi bận tâm lớn nhất của Thiên Chúa là yêu thương và cứu chuộc loài người. Ngài không nỡ để cho chúng ta ăn bánh hay hư nát, sống lang thang tạm bợ và chết trong sa mạc như thời tiên tổ nên đã cho Đức Giêsu xuống như bảo chứng thật cho chúng ta sự sống viên mãn.

Chúa Giêsu trong trang Tin Mừng hôm nay đã trả lời cho chúng ta về chân lý đích thực của sự sống: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (c.51ab). Lời xác quyết của Đức Giêsu đã thực sự làm thỏa mãn cơn khát sự sống hằng ấp ủ từ sâu thẳm nội tâm con người qua bao thời đại. Nhưng làm cách nào chúng ta có thể đón nhận được sự sống đích thực do chính Đức Giêsu mang đến?

Chúa Giêsu đang thì thầm bên tai chúng ta: “Ta là bánh trường sinh!” (c.48). Chính Chúa chứ không phải là những tấm bánh “manna” dưới muôn vàn hình thức tốt đẹp, nhưng chỉ đem lại sự chết muôn đời. Chúng ta có muốn đến với Ngài để ăn chính Ngài và để được sống đời đời không? Quả thật không đơn giản chút nào, vì nhiều khi chúng ta đã bị nhận chìm dưới vũng lầy của muôn ngàn “manna” trá hình. Lời Chúa hôm nay đang thức tỉnh chúng ta hãy đứng lên quay trở về bên Ngài để lãnh nhận sự sống, tình yêu và hạnh phúc “Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (c.51b).

Nhưng điều kiện nào để hưởng được sự sống ấy, đó là phải TIN “ai tin thì được sống đời đời”. Vậy căn nguyên của nguồn sống ấy là tin. Vì như các vị tổ tiên xưa cũng được ăn bánh nhưng họ đã đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa khi gặp thử thách trong sa mạc, khi phải lưu đày trốn chạy nơi đất khách quê người, nơi rừng hoang núi thẳm. Chúa Giêsu e ngại người ta nhầm lẫn chỉ tìm kiếm Chúa như ông chủ của «một cửa hàng cung cấp lương thực, thực phẩm» mà quên rằng niềm tin vào Chúa mới giải thoát họ khỏi án chết của tội lỗi. Một lần nữa Chúa Giêsu khẳng định lại rằng sự sống nơi thân xác, cái ăn cái mặc là điều kiện cần nhưng chưa đủ, chỉ niềm tin mới đưa con người ta đến được Chân Trời Sống Mới, đến Bến Bờ Hạnh Phúc.

Trong một đoạn văn ngắn gồm 8 câu, Chúa Giêsu nhắc lại 6 lần từ “sống”. Điều đó cho thấy sứ mạng của Chúa đến là cho con người được sống và sống dồi dào. Khi chúng ta ăn bánh trường sinh không phải là ăn thứ thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhưng là ăn thịt máu Chúa Giêsu, một món quà tình yêu cao quý không gì sánh bằng. Mẹ Têrêsa Calcutta bảo rằng “Khi ta trao cho ai một món quà và nếu nó là một mất mát hy sinh to lớn đối với ta thì món quà đó càng trở nên quý giá”. Một người mẹ trao tặng sự sống cho con đó là món quà lớn nhất, kết quả của chín tháng cưu mang với muôn vàn vất vả hy sinh. Một người cha tặng cho con món quà quý giá là khi ông dành sức lực thời giờ cả một đời người để nuôi dạy con nên người. Một người tình trao tặng món quà quý nhất cho người mình yêu khi họ dám hy sinh tất cả vì người mình yêu. Với ý nghĩa đó, Thiên Chúa là kiểu mẫu của người tặng quà. Món quà đó là người Con Một yêu dấu với một trái tim đầy ắp tình yêu đã hiến trọn thân mình qua cái chết trên thập giá. 

Trớ trêu thay trong lịch sử cứu độ, đã bao lần Chúa dẫn dân ra khỏi sa mạc nhưng họ không tin Chúa mà chạy theo các thần ngoại, lại lỗi ước quên thề. Suốt dọc dài lịch sử nhân loại là những bất trung phản bội, là những mảnh tình ngang trái với tạo vật. Và cho đến hôm nay nhân loại vẫn cứ mải mê tìm kiếm hạnh phúc hư ảo, kiếm sự sống mau qua. Họ chạy theo chủ nghĩa duy vậy, khuynh hướng bài thiêng tục hóa mà đánh mất niềm tin để rồi một ngày đánh mất cả chính mình.

Chúa Giêsu đã sống lại để đưa chúng ta vào sự sống vĩnh cửu nơi Vương quốc của Chúa Cha. Nhưng điều kiện là chúng ta phải lãnh nhận mình máu Ngài từ hy lễ Thánh Thể hằng ngày. Chúng ta cần can đảm và dứt khoát từ bỏ những quyến rũ của nhiều tấm bánh “manna” trong cuộc sống hiện tại, để tâm hồn nhẹ nhàng thanh thoát tiến đến Bàn tiệc Thánh Thể lãnh nhận Bánh hằng sống. Chính Đấng phục sinh có sức biến đổi và cảm hóa chúng ta mỗi khi chúng ta lãnh nhận Mình Máu Ngài. Chính Ngài thông ban cho chúng ta sự sống thần linh ngay từ đời này bằng một cuộc sống an bình, yêu thương và tràn đầy hạnh phúc. Dẫu rằng cuộc đời còn lắm gian nan và thách đố, nhưng với tình yêu của Đấng phục sinh, chúng ta đủ sức mạnh để vượt thắng tất cả.

Ngày nay, hệ lụy của việc chỉ tìm kiếm thỏa mãn nhu cầu phần xác của con người mà quên đi những giá trị thiêng liêng dẫn đến chán chường thất vọng và tự tìm đến cái chết như một dấu chấm của cuộc đời. Hơn lúc nào hết người ta thống kê được ở những quốc gia càng văn minh tiến bộ lại càng nhiều người tự tử. Phần lớn người tự tử ở độ tuổi rất trẻ. Trong đó, có người giàu, người nghèo, có cả giới văn nghệ sĩ, diễn viên...Người ta muốn chết không phải vì thiếu ăn thiếu mặc nhưng vì thiếu niềm tin, thiếu lẽ sống, họ cảm thấy cuộc sống quá nhàm chán, vô nghĩa. Họ rơi vào cơn “trống rỗng tâm linh” và muốn tự quyết định cuộc đời mình.

Xin Đức Kitô thánh hóa và đỡ nâng những giới hạn của chúng ta hôm nay, để sự sống thần linh Ngài mang đến cho nhân loại qua sự phục sinh vinh hiển, được tuôn chảy đến mọi tâm hồn đang khát mong sự sống vĩnh hằng.

 

THỨ SÁU TUẦN 3 PHỤC SINH

Cv 9:1-20; Tv 117:1; 2 Ga 6:52-59

BÁNH HẰNG SỐNG

Nếu theo dõi kỹ, ta thấy toàn thể chương 6 Tin Mừng Thánh Gioan khá biệt lập và làm nổi bật rõ nét một vấn đề, vì ở các chương khác chúng ta không thấy nói đến đề tài “Bánh Hằng Sống – Bánh Trường Sinh – Bánh Từ Trời...”.

Thật vậy, chương 6 khá dài nhưng nó đánh dấu một bước quan trọng trong cuộc đời rao giảng của Đức Giêsu. Ở đây, Chúa Giêsu mạc khải căn tính của Người, đúng hơn là Người vén màn cho nhân loại thấy thiên tính của Người. Người chính là Ngôi Hai Thiên Chúa – Một chân lý mà sau này Giáo Hội phải mất một thời gian dài, mở các công đồng để xác định và chống lại các bè rối phủ nhận Chúa Giêsu có hai bản tính và Chúa Giêsu là Thiên Chúa. Trang Tin Mừng hôm nay đưa tới đỉnh điểm cuộc tranh luận mà xưa kia người Do Thái đã kịch liệt phản đối, dẫn đến cái chết của Chúa Giêsu.

Mở đầu trang Tin Mừng, chúng ta thấy Thánh Sử nói thẳng vào vấn đề “Người Do Thái tranh luận sôi nổi và hỏi nhau : Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được? Một chân lý khó chấp nhận. Một sự thật không hề nghĩ tới. Lập luận ấy khiến họ cứng lòng và phủ nhận.

Với Trang Tin Mừng này chúng ta nhận ra lòng thương xót của Chúa Cha qua Đức Giêsu “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một” (3, 16), nhưng chúng ta vẫn dửng dưng và từ chối “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (1, 11). Nếu chúng ta đón nhận Con của Ngài, chúng ta sẽ được cứu độ (3, 17). Như người cha hằng mong đứa con đi hoang trở về, như người mục tử đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất, như bà goá soi đèn, quét nhà tìm thấy đồng bạc bị mất (Lc 15). Thiên Chúa cũng khắc khoải đi tìm con người và Ngài bao dung, rộng lượng đón nhận chúng ta trở về với Ngài. Thật vậy, Thiên Chúa đã đi bước trước trong công cuộc hoà giải chúng ta với Ngài bằng giá máu của chính Con Một yêu dấu của Ngài.

Chúa Giêsu tiếp tục mời gọi người tin hãy đến ăn và uống thịt máu Ngài để có được sự sống đời đời. Không ai ngoài một mình Ngài dám nhận và đúng thật là “Bánh Hằng Sống” bởi vì Ngài chính là Sự Sống, Ngài đến từ Cha, Đấng Hằng Sống. Hơn nữa, Ngài đã hiến dâng chính mạng sống mình làm giá chuộc nhân loại, để minh chứng điều Ngài tuyên bố. Bởi cái chết và sự sống lại của Ngài, Chúa Giêsu đã trở nên, qua bí tích Thánh Thể, nguồn lương thực nuôi sống người tín hữu trên đường về Quê Trời.

 Chúa Giêsu cố gắng thuyết phục người Do thái tin và đón nhận Ngài vì lợi ích của chính họ, nhưng thất bại. Lý do chủ yếu có lẽ nằm ở chỗ họ không thể vượt qua cách hiểu thông thường, vật chất về việc ăn thịt và uống máu Chúa Giêsu, và cho đó là việc man rợ, mất nhân tính. Tuy nhiên, ta cũng có thể nghĩ đến một lý do khác, đó là từ chỗ bất ngờ, họ đi đến chỗ nghi ngờ lòng yêu thương, nhân từ của Chúa Giêsu, Đấng tuyên bố hy sinh mạng sống mình vì lợi ích của người khác.

Chúa Giêsu nói và nhấn mạnh “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống” (c. 53). Hậu quả của việc không đón nhận, không chấp nhận Người làm của ăn của uống nuôi dưỡng thân xác, thì kẻ ấy ắt phải chết. Có lẽ người Do Thái cảm thấy gớm ghiếc khi nói đến ăn thịt và uống máu một con người, huống chi đây lại khẳng định có vẻ ngạo mạn là : Nếu không ăn uống máu thịt Con Người ấy, thì sẽ chết. Họ chỉ nghĩ về cái chết thể lý, nên họ cứng lòng. Họ chỉ quan tâm đến việc ăn thịt và uống máu con người Giêsu Nagiaret, nên họ không chịu tin. Họ không đào sâu tìm hiểu về Đấng Mêsia, về một vị Thiên Chúa đã làm người, về tình yêu Thiên Chúa đang tuôn tràn Ơn Cứu Độ, nên họ đã từ chối và có những lời lẽ, tư tưởng, hành vi xúc phạm đến Người.

Ta thấy lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn bền vững. Chúa Giêsu vẫn kiên trì giải thích và dạy dỗ họ “Ai ăn thịt và uống máu tôi, sẽ được sống muôn đời và kẻ ấy sẽ sống lại trong ngày sau hết” (c.54). Chúa Giêsu đưa ra một chân lý mới. Chân lý này không khác chân lý trước, nhưng chỉ nói lên điều tích cực, nói lên niềm vui ơn cứu độ cho những ai tin vào Người. Ơn cứu độ này chính là cuộc sống muôn đời. Vì con người ai cũng “ham sống, sợ chết” và Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống sẽ thực hiện điều ấy cho những ai mở lòng đón nhận Ngài.

Thiên Chúa là Đấng Trung Thành, Ngài không lừa dối ai bao giờ “Thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống” (c. 55). Chỉ có của ăn, của uống này mới nuôi sống con ngươì mà thôi. Của ăn của uống này mới thanh tẩy vết nhơ tội lỗi nơi con người do ông bà nguyên tổ gây nên và chính của ăn của uống ấy mới đưa con người tháp nhập vào đời sống vĩnh cửu của Ba Ngôi. Của ăn của uống này là “hàng thật”, đưa đến sự sống”thật”, vì đó chính là Thịt Máu của một con người đã nói “Tôi làm chứng cho Sự Thật. Ai nghe Sự Thật đứng về phía tôi”(Ga 18, 37), “Tôi là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống”(Ga 14, 6).

Hơn nữa, “nếu ai ăn thịt và uống máu, kẻ ấy sẽ ở lại trong Người và Người sẽ ở lại trong kẻ ấy”(c.56). Như thế, nếu chúng ta ăn và uống máu Đức Giêsu, thì Đức Giêsu sẽ sống trong ta và ta sống trong Đức Giêsu. Lúc đó, ta và Đức Giêsu sẽ nên một, như Đức Lang Quân kết hiệp với Hiền Thê. Thiên Chúa kết hiệp với con người. Khi đó, Chúa sẽ biến máu tội lỗi của ta sẽ trở thành máu công chính, thịt con người trở thành thịt của Con Thiên Chúa. Thân xác nhơ bẩn của ta sẽ nên sáng láng như thân xác phục sinh của Người. Trong chúng ta sẽ có giòng máu và sự sống của chính Thiên Chúa.

“Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai tôi và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà sống như vậy” (c. 57). Chúa Giêsu so sánh giữa việc kết hợp giữa Người với kẻ ăn thịt và uống máu Người như việc kết hợp giữa Chúa Con và Chúa Cha vậy. Nếu ta ăn thịt và uống máu Người, ta sẽ sống nhờ người như Người đã sống nhờ Cha. Từ đó, ta đi vào tương quan với Ba ngôi Thiên Chúa, được thông phần sự sống và hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Ba Ngôi. Vậy, khi ăn thịt và uống máu Chúa, ta không còn sống cho chính mình nữa, nhưng là “ Đức Kitô sống trong ta” (Gal 2, 20).

Kết thúc trang Tin Mừng, Chúa Giêsu nhắc lại một lần nữa về chân lý mà người Do Thái không chịu tin nhận “Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (c. 58).

Người môn đệ Chúa Giêsu được mời gọi đem tinh thần yêu thương của Tin Mừng thấm nhập vào mọi thực tại của thế giới này, giới thiệu và giúp mọi người tiến tới Chúa Giêsu, Tình Yêu tự hiến và là khuôn mẫu của mọi tình yêu. Để làm được điều đó, người môn đệ trước hết phải cảm nhận cách sâu xa tình yêu trao ban của Chúa Giêsu qua việc siêng năng lãnh nhận Thánh Thể, và lấy đó làm khuôn mẫu cho mình.

THỨ BẢY TRONG TUẦN 3 PHỤC SINH

Cv 9:31-42; Tv 116:12-13,14-15,16-17; Ga 6:60-69

TIN VÀO BÁNH HẰNG SỐNG

Sau khi Chúa Giêsu làm phép lạ hoá bánh từ năm chiếc bánh và hai con cá cho năm ngàn người ăn mà còn dư lại mười hai thúng đầy, dân chúng bị choáng ngợp, họ muốn tôn Chúa lên làm vua. Họ phản ứng như thế do sự phấn khích và cũng là để mong được Chúa đáp ứng những nhu cầu thường ngày. Chúa Giêsu biết điều đó, và để tránh những hiểu lầm, Chúa đã lánh đi một nơi khác.

Ta thấy Thánh Gioan thuật lại : “họ lên thuyền đi Capharnaum tìm Ngài”. Họ gặp lại Chúa trong bầu khí thanh thản hơn, Chúa muốn hướng họ đến một điều gì mới mẻ hơn chứ không phải chỉ dừng lại ở những thứ họ đang tìm kiếm. Chúa giải thích cho họ, không phải là : con người phải làm gì để Thiên Chúa ban cho mình những thứ vật chất thường ngày, mà là : Thiên Chúa đang làm gì trong đời sống con người, những công việc Thiên Chúa làm là để đưa con người đến được với ơn cứu độ.

Thật vậy, Chúa muốn hướng họ, từ Manna trong hành trình về đất hứa, đến Bánh Hằng Sống là chính Thịt và Máu Chúa trên hành trình về Nước Trời, từ lương thực thiết yếu nuôi thân xác đời này đến lương thực thần linh cho sự sống đời đời; từ vật chất sang tinh thần, từ trần thế sang thiêng liêng, từ thực nghiệm sang lãnh vực đức tin luôn là một thách thức mà con người phải vượt qua nếu muốn gặp được Thiên Chúa.

Tin Mừng Thánh Gioan hôm nay cho thấy, nhiều môn đệ Chúa Giêsu không thể đón nhận được những lời Chúa dạy khi Chúa nói với họ : “Thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống”. Họ chưa thực sự mở lòng mình ra để có thể đón nhận được những điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đang thực hiện để cứu độ con người, vì “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”.(Lc 1,37).

Trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe nằm trong những đoạn cuối của chương 6. Chương 6 là chương mà ngày xưa đầy thách đố về niềm tin với người Do Thái, các môn đệ và ngay cả đối với chúng ta ngày nay. Thách đố này lên đến đỉnh điểm khi Chúa Giêsu khẳng định một cách mạnh mẽ: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi sẽ được sống muôn đời”. Chủ từ “ Con Người” nay được chuyển đổi và bộc lộ rõ rệt: Tôi… chính thịt và máu Tôi. Chúng ta hãy cùng với Thánh Gioan tông đồ bước vào kết thúc của bài diễn từ rao giảng về niềm tin vào chân lý này. Một kết thúc không mấy lạc quan nhưng đó lại là kết quả của một niềm tin trọn vẹn.

Mở đầu tang Tin Mừng, trong câu 60 thánh sử viết “Nghe rồi…”, nghiã là bài giảng về Bánh Hằng Sống đã kết thúc ở câu 58. Các môn đệ của Chúa Giêsu nghe xong “liền nói..”. Đây là một phản ứng tức thì như đã ủ ấp bấy lâu, nay chín mùi “ Lời này chướng tai quá ! Ai mà nghe nổi ?”. Câu nghi vấn này cho thấy số lượng người phản ứng không nhỏ. Phần đông trong họ đang đứng trước thách đố niềm tin, một thách đố quá lớn dưới nhãn quan của họ. Họ chỉ thấy một Chúa Giêsu lịch sử đang đứng trước mắt họ mà thôi.

Chúa Giêsu hiểu được tâm trạng ấy của các môn đệ, Ngài bảo : Điều ấy các anh đã làm chướng ? Vậy sao chấp nhận được khi thấy Con Người được tôn vinh, được nhắc lên cõi trời cao, lên ngự bên hữu Chúa Cha ? (c. 61-62). Nghĩa là các ông không thể chấp nhận nổi thiên tính của Ngài : Con Thiên Chúa và là Ngôi Hai Thiên Chúa. “Lên nơi đã ở trước kia” nghĩa là Ngài đã có từ đời đời. Ngài vượt lên trên sự sống tự nhiên này. Ngài thuộc về thế giới vô hình, có cùng bản thể và cùng quyền năng với Chúa Cha – Đấng Tạo Thành và là Thiên Chúa của họ. “Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì.

Lời Thầy nói với anh em là thần khí và sự sống” (c.63). Đây là tầm quan trọng của Lời. Lời Ngài đem lại sự sống thần linh, sự sống siêu nhiên. Bên cạnh đó, Chúa Giêsu cũng biết  : lời của Ngài không được một số người đón nhận “ trong anh em có những kẻ không tin” (c.64). Họ không tin nên mới từ chối, thậm chí đã phản bội Ngài. Còn những ai đón nhận lời Ngài, thì không do cảm tính hay nỗ lực của con người nhưng bắt nguồn từ ơn thánh của Thiên Chúa “ Không ai đến được với Thầy, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho” (c.65).

Và rồi, xét cho bằng cùng, ta thấy chính Chúa Cha ban ơn và lôi kéo con người đến với Con Ngài, giúp họ hiểu và tin vào lời Con Ngài rao giảng. Qua câu nói này, các môn đệ như ngậm hiểu sự quan trọng về địa vị và vai trò của Đức Giê-su, vì những ai muốn đến với Chúa Giêsu, người ấy phải được Chúa Cha lôi kéo, ban ơn. Vì thế, người Do Thái đã hiểu lầm rằng : Chúa Giêsu là một con người mà dám xem mình ngang hàng với Thiên Chúa, thậm chí có vẻ cao hơn Chúa Cha nữa, nên nhiều môn đệ rút lui (c.66 ). Họ chối từ theo Ngài, chối từ gọi Ngài là Thày, chối từ giáo huấn và đường lối của Thiên Chúa.

Kết thúc mang màu sắc bi quan và buồn tẻ như một thất bại trong công cuộc rao giảng. Đây cũng là thách đố của niềm tin trong cuộc sống hiện tại. Theo Chúa Giêsu, dường như chúng ta mất tất cả, chẳng được lợi lộc gì : không được sống tự do thoải mái trong luân lý đạo đức… Phải đến nhà thờ ngày chủ nhật. Phải xưng tội rước lễ trong mùa Phục Sinh. Không được buôn gian bán lận, làm ăn xảo kế để thu nhanh nguồn lợi …

Chúng ta – những Kitô hữu, như đang bước trong bóng đêm một chuỗi thách đố về niềm tin, thì câu trả lời của Thánh Phêrô là tia sáng bừng lên, soi chiếu. Khi Đức Giêsu hỏi nhóm Mười Hai “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi sao?”. Dường như Chúa Giêsu nghi ngại về niềm tin và lòng trung thành của nhóm thân tín với Ngài. Simon Phêrô đại diện trả lời thay cho nhóm “Thầy mới có lời ban sự sống đời đời” (c.68). Chẳng biết Phêrô được Chúa Cha mạc khải lôi kéo hay là ông đã thấm nhuần bài giảng của thày mình. Kế đó, Phêrô cũng bước thêm một bước nữa trong niềm tin. Ông đã trả lời cho chính bản thân và thay mặt cho anh em thuộc nhóm Mười Hai “ Phần chúng con, chúng con tin và nhận biết rằng Thày là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (c. 69). Tin và Biết – đó là điều kiện để trở thành môn đệ của một vị thày. Hơn nữa, đó là điều kiện tôn vinh Đấng Tạo Thành, là Thiên Chúa và là chủ tể muôn loài.

Thật vậy, Tin và Nhận Biết Chúa là một thách đố của người Kitô hữu trong xã hội vật chất ngày nay. Xin Chúa thêm ơn và ban thêm đức tin cho mỗi người chúng ta, để chúng ta sống chứng nhân cho trần gian về một Chúa Giêsu là người và là Chúa thật, hầu giúp những người chúng con gặp gỡ nhận ra sự hiện diện và đồng hành của Đức Kitô phục sinh trong Bí Tích Thánh Thể, trong lòng mỗi người, trong cuộc sống và trong thế giới hôm nay. 

 

 

April 25, 2018