| |
Chúng
ta đã thật sự thờ phượng Thiên Chúa
trong thần khí và sự thật chưa?
ĐỌC
LỜI CHÚA
• Xh 20,1-17: (2) "Ta là Thiên Chúa, Đấng đã đưa ngươi ra
khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. (3) Ngươi không được có thần
nào khác đối nghịch với Ta.
• 1Cr 1,22-25: (25) Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn
ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái
mạnh mẽ của loài người.
• TIN MỪNG: Ga 4,5-42
Đức Giêsu tại Samari
(…) (19) Người phụ nữ nói với Người: «Thưa ông, tôi thấy ông thật
là một ngôn sứ… (20) Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa
trên núi này; còn các ông lại bảo: Giêrusalem mới chính là nơi
phải thờ phượng Thiên Chúa». (21) Đức Giêsu phán: «Này chị, hãy
tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải
trên núi này hay tại Giêrusalem. (22) Các người thờ Đấng các người
không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ
phát xuất từ dân Dothái. (23) Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc
này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa
Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ
phượng Người như thế. (24) Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ
thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật». (25)
Người phụ nữ thưa: «Tôi biết Đấng Mêsia, gọi là Đức Kitô, sẽ đến.
Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự». (26) Đức
Giêsu nói: «Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây».
(…)
(31) (Một lát sau), các môn đệ trở về thưa với Người rằng: «Rápbi,
xin mời Thầy dùng bữa». (32) Người nói với các ông: «Thầy phải
dùng một thứ lương thực mà anh em không biết». (33) Các môn đệ
mới hỏi nhau: «Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng?»
(34) Đức Giêsu nói với các ông: «Lương thực của Thầy là thi hành
ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người».
(…)
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
1.
Các cụm từ «đã đến giờ» và «giờ đã đến – và chính là lúc này đây»
trong bài Tin Mừng có ý nghĩa gì? Giờ đó là giờ nào?
2. Thế nào là «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí»? Thế nào
là «thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật»? Trái ngược với hai kiểu
thờ phượng ấy là thờ phượng thế nào? Chúng ta đang thờ phượng
Thiên Chúa theo kiểu nào: kiểu lỗi thời của các kinh sư Do Thái
hay kiểu «mới» của Đức Giê-su?
3. Có cần thiết phải sửa đổi cung cách thờ phượng của chúng ta
không? Nếu không thì sao? Việc thờ phượng kiểu lỗi thời có còn
giá trị không?
Suy tư gợi ý:
1.
Việc thờ phượng Thiên Chúa trong Cựu Ước và Tân Ước
Vào
thời Cựu Ước, trình độ tâm linh của con người còn non kém, đầu
óc con người thường chỉ hướng về những gì cụ thể, hữu hình, dễ
thấy, nghĩa là họ hướng ra ngoài hơn là vào nội tâm. Vì thế, việc
thờ phượng Thiên Chúa chủ yếu gồm những việc cụ thể, thấy được,
được thực hiện trong thời gian và không gian rõ rệt. Từ bản chất,
thờ phượng Thiên Chúa chính là nhìn nhận Thiên Chúa là chủ tể
vũ trụ, có toàn quyền trên tất cả mọi sự, trong đó, con người
coi mạng sống và của cải của mình là quí giá nhất. Để biểu lộ
sự nhìn nhận quyền chủ tể đó của Thiên Chúa, đúng ra con người
phải sát tế chính mạng sống mình; nhưng làm như thế, con người
sẽ dần dần chết hết, là điều mà Thiên Chúa không muốn. Vì thế,
con người bèn sát tế những con vật như chiên bò làm của lễ hy
sinh dâng lên Thiên Chúa thay cho mạng sống của mình (x. St 4,3;
8,20; Xh 20,24; 29,18; Lv 1,14; v.v…). Có lần, để thử thách niềm
tin và tinh thần hy sinh hiến dâng ấy, Thiên Chúa yêu cầu Abraham
sát tế đứa con trai duy nhất của mình là Isaác làm lễ vật toàn
thiêu: khi thấy Abraham không tiếc với mình đứa con duy nhất,
Thiên Chúa đã ra tay cứu Isaác (x. St 22,1-14). Điều đó cho thấy
Thiên Chúa không muốn con người phải chết để biểu lộ sự nhìn nhận
quyền chủ tể của Ngài.
Đến thời Đức Giêsu, Ngài đã khai mở một kỷ nguyên mới, thích hợp
với trình độ tâm linh con người vốn đã lên cao hơn. Vì càng về
sau, con người càng có khả năng tư duy trừu tượng hơn, biết hướng
vào nội tâm hơn. Vì thế, việc thờ phượng Thiên Chúa phải mặc lấy
một hình thức mới hợp với trình độ mới: tức cao hơn, mang tính
nội tâm hơn. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu chủ trương
một cách thờ phượng Thiên Chúa mới mẻ hơn, cao cấp hơn. Ngài nói:
«Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên
núi này hay tại Giêrusalem (…) Giờ đã đến – và chính là lúc này
đây – những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha
trong thần khí và sự thật. (…) Thiên Chúa là thần khí, nên những
kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật».
2. Thời Tân Ước: thờ phượng trong thần khí và sự thật
Đức Giêsu nói khi Ngài còn sống: «Đã đến giờ», «Giờ đã đến – và
chính là lúc này đây». Như vậy, Đức Giêsu yêu cầu con người thay
đổi cách thờ phượng Thiên Chúa cho xứng hợp với trình độ mới của
con người đã được 2000 năm, một thời gian rất dài! Nhưng ta thử
xét lại xem, cách thờ phượng của chúng ta trong thế kỷ 21 này
đã thay đổi và tiến bộ đúng như yêu cầu của Đức Giêsu cách đây
2000 năm chưa? Sau 20 thế kỷ tiến bộ về vật chất đến mức chóng
mặt, con người đã tiến bộ về tâm linh thế nào, đặc biệt trong
cách thờ phượng Thiên Chúa? Chúng ta đã nội tâm hóa việc thờ phượng
ấy chưa, hay vẫn còn mang nặng tính bề ngoài, tính vật chất, tính
câu nệ hình thức, và vẫn còn lệ thuộc nặng nề về thời gian lẫn
không gian? Việc thờ phượng Thiên Chúa của chúng ta hiện nay đã
đúng với tinh thần Tân Ước của Đức Giêsu chưa, hay vẫn theo tinh
thần Cựu Ước của đám kinh sĩ và biệt phái Do Thái xưa, vốn đã
bị Đức Giêsu coi là lỗi thời từ 2000 năm nay?
Thiết tưởng chúng ta nên đặt lại vấn đề này một cách nghiêm chỉnh,
và sửa đổi lại những gì chưa đúng. Điều quan trọng chúng ta cần
tìm hiểu là: Thế nào là «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí
và sự thật»?
• Thờ phượng trong thần khí
Đức Giêsu nói: «Thiên Chúa là thần khí, nên những kẻ thờ phượng
Người phải thờ phượng trong thần khí». Thần khí (pneuma – esprit
– spirit) là tinh thần, tâm linh, thuộc thế giới nội tâm, không
thấy được. Thần khí thì ngược với vật chất, thể lý, thuộc thế
giới bên ngoài, cụ thể, thấy được. Thiên Chúa của chúng ta không
phải là một Thiên Chúa hữu hình, nên việc thờ phượng Thiên Chúa
không nhất thiết phải xảy ra ở bên ngoài, trong không gian và
thời gian. Theo Đức Giêsu, Ngài là thần khí, là tinh thần, là
thiêng liêng, nên việc thờ phượng Ngài cũng phải thực hiện trong
thần khí, trên bình diện tinh thần, nghĩa là một cách thiêng liêng,
trong nội tâm con người. Hành vi thờ phượng phải là hành vi của
tâm hồn, là thái độ của nội tâm, hơn là hành vi của thể xác. Thiên
Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa cứ phải nghe ta
nói, nhìn ta biểu lộ ra ngoài mới hiểu được ta; trái lại, Ngài
biết hết, thấu hiểu hết những gì ta nghĩ, ta cần, ta muốn nói:
«Cha trên trời thừa biết anh em cần những gì rồi» (Mt 6,32; Lc
12,30). Vì thế, xét về phía Thiên Chúa, việc thờ phượng Ngài không
cần thiết phải biểu lộ ra bên ngoài bằng lời nói, bằng lễ nghi,
bằng những biểu hiện bên ngoài: «Khi cầu nguyện, anh em đừng nhiều
lời như dân ngoại; họ tưởng cứ nói cho nhiều là được nhận lời»
(Mt 6,7). Điều Ngài mong muốn nằm trong thái độ nội tâm của chúng
ta: tinh thần từ bỏ, tự hủy, lòng quảng đại, biết ơn, khâm phục,
nhất là tình yêu dành cho Ngài. Nếu Giáo Hội chủ trương phải biểu
lộ việc thờ phượng ra bên ngoài thì không phải là vì Thiên Chúa
mà vì con người: để việc thờ phượng mang tính cộng đoàn, tính
Giáo Hội, hay để biểu lộ vinh quang Thiên Chúa cho con người,
v.v…
Ngày
nay, cần phải thay thế việc thờ phượng Thiên Chúa qua những hình
thức bên ngoài bằng việc thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí.
Lễ vật dùng để sát tế, để toàn thiêu không còn là chiên, bò, hay
bất kỳ một vật nào khác, mà phải là «cái tôi» ích kỷ và kiêu căng
của ta, là ý riêng của chúng ta, là những dự định dù tốt hay xấu
nhưng không phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Bàn thờ hay đền
thờ – nơi sát tế – là chính tâm hồn ta. Thời điểm sát tế không
còn là một thời điểm cố định nào do con người qui định, mà phải
là thời gian liên tục. Vì sát tế không còn là một hành động xảy
ra vào những thời điểm nhất định nào đó, cho bằng một thái độ
nội tâm thường hằng trong đời sống ta, thậm chí trở thành một
yếu tố cố định trong bản tính của ta. Cầu nguyện cũng không còn
là một hành động cho bằng một trạng thái thường hằng của nội tâm.
Một biểu hiện lý tưởng của việc thờ phượng trong thần khí đã được
Đức Giêsu nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay: «Lương thực của
Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công
trình của Người». Việc quan tâm thi hành thánh ý Thiên Chúa phải
thay thế cho việc quan tâm thực hiện ý riêng mình, phải trở thành
lương thực nuôi sống đời sống tâm linh của ta.
• Thờ phượng trong sự thật
Thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật khác với thờ phượng Thiên
Chúa trong giả dối. Thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật đòi hỏi
những gì mình nói với Thiên Chúa phải phản ảnh đúng những tâm
tình, ý nghĩ trong đầu óc mình, và đúng với thực tế của đời sống
mình. Còn thờ phượng Thiên Chúa trong giả dối là có sự khác biệt
giữa điều mình cầu nguyện với tâm tư, tình cảm và đời sống thực
tế của mình. Cầu nguyện như thế chẳng những hoàn toàn vô ích mà
còn xúc phạm và tỏ ra coi thường Thiên Chúa nữa. Nếu không thể
thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật, thì thà rằng đừng thờ phượng
còn hơn là thờ phượng Ngài trong giả dối.
Ngày xưa, người ta có thể giết chết một con vật làm lễ toàn thiêu,
để tượng trưng cho việc họ nhìn nhận quyền Chủ Tể trên mọi sự
của Thiên Chúa. Hành động tế tự đó hoàn toàn xảy ra ở bên ngoài.
Nhưng bên trong, người ta vẫn có thể tiếc với Thiên Chúa những
chuyện rất nhỏ: chẳng hạn họ không thể từ bỏ một ý riêng, một
sở thích, một vật đang muốn chiếm hữu, hoặc hoãn thi hành một
dự định, hy sinh một cơ hội, v.v… để làm đẹp lòng Thiên Chúa.
Như vậy, hành động thờ phượng bên ngoài chẳng phù hợp chút nào
với tâm trạng bên trong. Chính vì thế, có lần Đức Giêsu nói về
việc thờ phượng của họ: «Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng,
còn lòng trí chúng thì lại xa Ta. Việc chúng thờ phượng Ta thật
là vô ích» (Mt 15,8-9; Mc 7,6-7; x, Is 29,13).
Ngày nay, có biết bao người khi cầu nguyện thì nói rằng mình yêu
mến Chúa, sẵn sàng hy sinh mọi sự vì Chúa; nhưng trong đời sống
thì chẳng thấy họ yêu mến Ngài ở chỗ nào. Họ thường nói với Chúa:
«Xin tha cho con như con vẫn tha kẻ có nợ với con», nhưng trong
thực tế, họ chấp nhất và bắt bẻ lỗi người khác từng chút một!
Điều tệ hại là người ta vẫn cảm thấy an tâm, họ tưởng rằng làm
như thế là đã chu toàn bổn phận thờ phượng đối với Thiên Chúa!
Thiên Chúa rõ ràng không ưa lối thờ phượng đó. Ngôn sứ Isaia diễn
tả sự ngao ngán và dị ứng của Thiên Chúa đối với kiểu thờ phượng
bên ngoài ấy: «Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã ngấy.
Máu bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm! Thôi, đừng đem những lễ vật
vô ích đến nữa. Ta ghê tởm khói hương; Ta không chịu nổi ngày
đầu tháng, ngày sabát, ngày đại hội, không chịu nổi những người
cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạc linh đình. Ta chán ghét những
ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở
thành gánh nặng cho Ta, Ta không chịu nổi nữa. Khi các ngươi dang
tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn; các ngươi có đọc kinh cho
nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máu»
(Is 1,11b.13b-15). Thử đặt mình vào địa vị của Ngài xem ta có
thể chấp nhận một cung cách thờ phượng như thế không? Tại sao
ta lại có thể đang tâm tiếp tục thờ phượng Ngài theo kiểu ấy?
CẦU NGUYỆN
Tôi nghe Chúa nói với tôi: «Ta đã chán những lễ nghi rỗng tuếch,
ghét những những nghi thức trang trọng mà người cử hành chẳng
tỏ ra có chút tình thương nào trong lòng. Ta cần tình thương của
con người, nhưng họ lại chỉ dâng lên Ta toàn những nghi thức,
lời kinh trống rỗng!» (JK)
Nguyễn
Chính Kết
|
|