| |
Hai
loại mục tử trong Thánh Kinh
ĐỌC
LỜI CHÚA
• Cv 4,8-12: (12) Dưới gầm trời này, không có một danh nào khác
đã được ban cho nhân loại để chúng ta nhờ vào danh đó mà được
cứu độ.
• 1Ga 3,1-2: (2) Khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống
như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy
•
TIN MỪNG: Ga 10,11-18
Vị Mục Tử nhân lành
Khi ấy, Đức Giêsu nói: (11) «Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục
Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên. (12) Người
làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về
anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên
và làm cho chiên tán loạn, (13) vì anh ta là kẻ làm thuê, và không
thiết gì đến chiên. (14) Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết
chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, (15) như Chúa Cha biết
tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đàn
chiên. (16) Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi
cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có
một đàn chiên và một mục tử. (17) Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi,
là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. (18) Mạng sống
của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng
sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống
ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được».
CHIA
SẺ
Câu hỏi gợi ý:
1. Mục tử là gì? Xét về phẩm chất, có mấy loại mục tử? Mỗi loại
có những tính chất gì? Làm sao phân biệt được loại nào với loại
nào?
2. Đức Giêsu là mục tử nhân lành: đặc điểm cao quí nhất của Ngài
là gì? Ngài có thể hy sinh cho đàn chiên tới mức độ nào?
3. Những bậc cha mẹ trong gia đình, những tổ trưởng trong khu
phố hay trong các xí nghiệp, những thầy giáo trong các trường
học, những giám đốc công ty… có thể hiểu là những mục tử không?
Bài Tin Mừng này có áp dụng cho họ được không?
Suy tư gợi ý:
1.
Mục tử – tốt và xấu – trong xã hội và Giáo Hội
Xã
hội nào cũng đều có tổ chức, cơ cấu, trong đó luôn luôn có những
người lãnh đạo, điều khiển. Trong các tôn giáo cũng thế. Trong
lịch sử Do-thái, những người lãnh đạo dân chúng được gọi là mục
tử (x. Gr 10,21; Ed 37,23-24): chẳng hạn như vua Saun, vua Đavít.
Kitô giáo, vốn tiếp nối truyền thống Do-thái, cũng gọi những người
lãnh đạo trong Giáo Hội (như linh mục, mục sư, giám mục, hồng
y, giáo hoàng) là mục tử. Những mục tử hay những người lãnh đạo
ấy thường được xã hội hay tôn giáo tạo cho những điều kiện thuận
lợi và trao cho những phương tiện hữu hiệu để có thể thi hành
hữu hiệu công việc lãnh đạo đó: chẳng hạn địa vị, chức vụ, quyền
bính, tiền bạc, tiếng nói… Những điều kiện và phương tiện này
là một thứ dao hai lưỡi. Nó có thể giúp các mục tử hay các nhà
lãnh đạo phục vụ dân chúng hay các tín hữu hữu hiệu hơn. Nhưng
nó có thể làm tha hóa, biến chất các mục tử khi sử dụng nó. Và
nó cũng có thể bị những kẻ lắm tham vọng tìm cách đạt tới để lợi
dụng nó, để phục vụ cho những tham vọng hay lợi ích cá nhân của
mình, của gia đình hay phe nhóm mình.
Như vậy, chiếu theo thái độ đối với những điều kiện và phương
tiện mà xã hội hay tôn giáo dành cho những người lãnh đạo hay
mục tử, ta có thể có 2 loại mục tử tương ứng:
–
Mục tử tốt: là những người lãnh đạo thật sự có ý hướng phục vụ
dân chúng hay các tín hữu, chứ không nhằm lợi ích cho riêng mình.
Họ sử dụng những điều kiện hay phương tiện xã hội hay Giáo Hội
trao cho hoàn toàn để phục vụ tha nhân và công ích.
–
Mục tử xấu: là những người lãnh đạo không nhắm phục vụ dân chúng,
mà nhắm đạt được những điều kiện và phương tiện thuận lợi kia
để hưởng thụ hoặc chỉ để thăng tiến bản thân, thỏa mãn những tham
vọng riêng tư.
Loại sau này còn bao gồm những mục tử bị tha hóa, là những người
lãnh đạo khởi đầu có ý hướng tốt, nhưng khi tiếp xúc hay sử dụng
những điều kiện hay phương tiện xã hội trao cho, thì bị chúng
hấp dẫn, mê hoặc và làm cho biến chất, để cuối cùng trở thành
những mục tử xấu.
2.
Mục tử tốt và xấu trong Thánh Kinh
Trong
bài Tin Mừng (Ga 10,11-18), Đức Giêsu mô tả và đối chiếu hai loại
mục tử ấy: một loại được gọi là mục tử nhân lành, còn loại kia
là kẻ chăn chiên thuê.
•
Mục tử nhân lành thì: «hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên»,
«tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi… chúng sẽ nghe
tiếng tôi». Ngài tự nhận mình chính là mục tử loại này. Trong
Thánh Kinh có rất nhiều câu mô tả những đức tính tốt của những
mục tử nhân lành, mà chính Thiên Chúa là mô hình gương mẫu nhất:
– yêu thương, trìu mến chiên với tất cả tâm hồn: «Chúa tập trung
cả đàn chiên dưới cánh tay: lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng,
bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt» (Is 40,11).
– yêu quí từng con chiên, một con cũng như cả trăm con: «Ai có
một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi
chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may
mà tìm được, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín
mươi chín con không bị lạc» (Mt 18,12-13).
– lo cho chiên, tạo những điều kiện tốt đẹp cho chiên: «Ta sẽ
chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở
trên các núi cao. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái,
sẽ đi ăn trong những đồng cỏ mầu mỡ» (Ed 34,14).
– làm chiên sống no ấm, hạnh phúc: «Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng
thiếu thốn gì» (Tv 23,1); làm chiên luôn vững dạ vì được bảo vệ:
«Dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn
trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm» (23,4).
– tinh thần trách nhiệm rất cao: «Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm;
con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó;
con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào
khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng» (Ed 34,16).
– cứu thoát, giải phóng đàn chiên: «Thiên Chúa sẽ cứu thoát dân
Người, như mục tử cứu thoát đàn chiên» (Dc 9,16).
Tóm lại, người mục tử tốt thật sự yêu thương đàn chiên, sẵn sàng
hy sinh cho sự an nguy và hạnh phúc của đàn chiên. Thậm chí như
Đức Giêsu, người mục tử tuyệt vời nhất, sẵn sàng hy sinh cả mạng
sống mình: coi sự sống còn của đàn chiên quý hơn cả sự sống mình.
• Kẻ chăn chiên thue hay mục tử xấu thì: «không thiết gì đến chiên»,
«khi thấy sói đến liền bỏ chiên mà chạy: sói vồ lấy chiên và làm
cho chiên tán loạn». Thánh Kinh cũng có nhiều câu mô tả hạng mục
tử này với những đặc tính:
– vô trách nhiệm: «Con chiên nào mất, nó chẳng quan tâm; con thất
lạc, nó chẳng đi tìm; con bị thương, nó không chạy chữa; con mạnh
khoẻ, nó chẳng dưỡng nuôi» (Dc 11,16a); «Chiên đau yếu, các ngươi
không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành;
chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi
không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm» (Ed 34,4)
– chỉ nghĩ tới hưởng thụ, sẵn sàng bóc lột: «Sữa các ngươi uống,
len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, mà đàn chiên
lại không lo chăn dắt» (Ed 34,3). Thậm chí bóc lột đến tận xương
tủy: «Con nào béo thì chúng ăn thịt, rồi lóc luôn cả móng» (Dc
11,16b)
– ích kỷ, vụ lợi, đầy tham vọng: «Chúng là lũ chó đói, ăn chẳng
biết no. Thế mà chúng lại là mục tử! Cả bọn – chẳng trừ ai – chỉ
mưu tìm lợi lộc cho riêng mình» (Is 56,11).
– tàn bạo, độc ác: «Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo
và hà khắc» (Ed 34,3); «Các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm
gì đến chúng» (Gr 23,2b).
– tác hại vô cùng đến đàn chiên: «Các ngươi đã làm cho đàn chiên
của Ta phải tan tác» (Gr 23,2).
Tóm lại, mục tử xấu coi đàn chiên chỉ là phương tiện, bắt chúng
phải hy sinh phục vụ cho lợi ích riêng tư của mình, không một
chút tình thương đối với chúng. Nhưng kết cục của hạng mục tử
này rất bi thảm: «Khốn cho mục tử vô tích sự đã bỏ mặc đàn chiên.
Gươm sẽ chặt đứt tay nó, sẽ chọc mắt phải của nó. Cánh tay của
nó sẽ khô đét, và mắt phải của nó sẽ mù loà» (Dc 11,17); «Khốn
thay những mục tử làm cho đàn chiên Ta chăn dắt phải thất lạc
và tan tác (…) các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm gì đến chúng.
Này Ta sẽ để ý đến các hành vi gian ác của các ngươi mà trừng
phạt các ngươi. Đó là sấm ngôn của Đức Chúa» (Gr 23,1-2).
3. Hãy trở nên những mục tử nhân lành
Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu tự xưng mình là «mục tử nhân lành»,
luôn yêu thương đàn chiên và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì
đàn chiên. Khi tự xưng như thế không phải để chúng ta nể phục
cho bằng để chúng ta bắt chước, noi gương Ngài trong công việc
«mục tử» của chúng ta. Chúng ta thường giới hạn ý nghĩa của từ
«mục tử» này, đến nỗi chỉ áp dụng nó cho những người lãnh đạo
tôn giáo. Thật ra, tất cả những ai đảm trách việc lãnh đạo, từ
một gia đình đến một phường, một tỉnh, hay một quốc gia, từ một
hội đoàn, một xứ đạo, đến một giáo phận, một giáo hội địa phương
hay Giáo Hội toàn cầu, một cách nào đó, đều có thể gọi là mục
tử. Ước chi mọi mục tử đều biết thật sự yêu thương đàn chiên của
mình và lãnh đạo chúng một cách sáng suốt! Ước chi mọi cha mẹ
đều yêu thương con cái, mọi cha xứ đều sẵn sàng hy sinh phục vụ
giáo dân, mọi giám mục đều hết lòng chăm sóc các linh mục và giáo
dân dưới quyền mình! Ước chi mọi vị lãnh đạo xã hội và đất nước
biết quên những quyền lợi riêng tư để nghĩ đến lợi ích chung của
dân chúng!
Mọi quốc gia, mọi giáo hội, đều rất cần những vị minh quân, những
mục tử nhân lành. Cần hơn cả việc có thật đông những cá nhân tài
giỏi, xuất sắc. Câu chuyện sau đây minh họa điều đó.
Có
hai người thuộc hai quốc gia nói chuyện với nhau: – «Tôi rất khâm
phục đất nước anh, vì nước anh có rất nhiều anh hùng». – «Thế
đất nước anh có nhiều anh hùng không?» – «Rất tiếc, đất nước tôi
ít anh hùng lắm!» – «Lạ nhỉ, đất nước tôi nhiều anh hùng thế mà
sao vẫn cứ nghèo nàn và lạc hậu, còn đất nước anh không có anh
hùng mà sao lại phát triển và giàu có như vậy?» – «À, đất nước
tôi thì bù lại, được khá nhiều vị minh quân!» Thì ra chỉ một vị
minh quân – hay mục tử nhân lành – cũng đủ quí giá và ích lợi
cho đất nước và Giáo Hội hơn nhiều anh hùng hay cá nhân xuất sắc
hợp lại! Cầu mong cho đất nước và Giáo Hội Việt Nam có được những
minh quân!
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, xin Cha hãy ban cho Giáo Hội và đất nước con nhiều vị
mục tử nhân lành hơn! Xin cho các nhà lãnh đạo đất nước và Giáo
Hội con biết thật sự yêu thương người dân cũng như các tín đồ
của mình hết lòng và sẵn sàng hy sinh phục vụ họ. Có như thế,
đất nước và Giáo Hội con mới tiến bộ lên được. Amen. (JK)
Nguyễn
Chính Kết
|
|