CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY, NĂM B
Lm Jude Siciliano OP

 

CN IV MÙA CHAY (B-2021)
2 Sử Biên niên 36: 14-17, 19-23; T.vịnh 136; Êphêsô. 2: 4-10; Gioan 3: 14-21

Khi máy quay của đài truyền hình quét qua đám đông trong sân thi đấu. bạn có bao giờ trông thấy một người cầm một tấm bảng có dán mảnh giấy viết “Gioan 3: 16” đưa lên hay không? Câu đó là phần chính của bài phúc âm hôm nay. "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời". Câu đó thật tóm tắt, không chỉ đoạn phúc âm hôm nay, nhưng là cả trọn phúc âm.

Câu tiếp theo (17) tràn ngập tình thương hơn là "Thật thế, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian …" Một số người quyết tâm dùng lời nói và cử chỉ của họ để cho mọi người chắc chắn nghe được câu tiếp theo "Ai tin vào Con của Người thì không bị đoán phạt; còn những kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa" Đó là một đoạn văn khá gọn gàng, phải không? Nếu bạn tin vào Chúa Giêsu bạn sẽ được ơn cứu rỗi; nếu bạn không tin... thật là vô phúc cho bạn! Thông thường người sử dụng câu trích này biết chắc rằng họ sẽ được ơn cứu độ, họ không được đứng ở cả hai mặt của đức tin khi họ đón nhận ơn cứu độ.

Hãy tưởng tượng dùng một vài câu trong Kinh Thánh và thử xét đoán hầu hết mọi người ở thế gian không chấp nhận hay không biết về Chúa Giêsu. Chắc chắn, phúc âm đã nói rõ là qua sự sinh ra, sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu mà Thiên Chúa đã cứu độ thế gian. Nhưng, vì bối cảnh của lịch sử. địa lý, hay văn hóa, nên có người không tin thì không bị lên án. Và, tôi nghĩ có những người đã quay lưng lại với niềm tin vì những kinh nghiệm sống trong thời gian khổ và nhận được những hạn chế gay gắt từ gia đình hay cộng đoàn.

Phúc âm thánh Gioan tiếp tục gởi thông điệp về tình yêu thương của Thiên Chúa và việc Ngài muốn cứu độ tất cả mọi người, ngay cá khi họ không muốn tin vào Đức Kitô. Phúc âm thánh Gioan không phải là sách duy nhất nói lên điều đó. Hãy nhớ cảnh phán xét trong phúc âm thánh Mátthêu (25: 31-46) nói về nơi tất cả các dân tộc tụ họp nhau trước ngai toà phán xét. Con chiên bị tách ra khỏi dê, cụng như tách các người được chúc phúc ra khỏi các người bị lên án. Việc xét xử loài người là không dực trên việc họ có đức tin vào Chúa Giêsu hay không. Nhưng, do họ đã cho kẻ đói ăn, kẻ trần truồng quần áo mặc, cho người khát uống v.v.., Họ là những người đã tuân theo lời dạy của Thiên Chúa, ngay cả khi họ không biết Ngài. Mọi người được đón nhận vào vương quốc của Đức Chúa, nếu họ biết quan tâm với nhau và phục vụ Thiên Chúa, cho dù họ có đức tin hay không.

Chúng ta đã được Thiên Chúa kêu gọi hãy đến với Thiên Chúa qua sự mặc khải của Chúa Giêsu. Chúng ta tin tưởng vào Ngài và tuyên xưng Ngài bằng cuộc sống của chúng ta. Đó là một hồng ân của ơn gọi trở nên người Kitô hữu đã đã nhận bí tích rửa tội, một món quà vô giá, và và đầy yêu thương của Thiên Chúa trao cho chúng ta. Chúng ta không đáng được ơn huệ đó. Vì vậy chúng ta hãy cẩn thận, khi chúng ta xét đoán ai là người được cứu độ, hay bị án phạt. Như thánh Phaolô nhắc chúng ta hôm nay "Nhưng, Thiên Chúa giàu lòng thương xót…, nên dầu chúng ta đã chết trong sự vấp phạm, Ngài cũng sẽ cho chúng ta được phục sinh với Dức Kitô. Do ân sủng mà anh em được cứu độ".

Chúa Giêsu nói với ông Nicođêmô là người đến gặp Ngài trong đêm tối. Có phải ông ta muốn đến gặp Chúa Giêsu vào giờ đó, là do đêm tôi mát trời hơn ban ngày, và yên tịnh để nói chuyện đạt kết quả hay không? Hay là ông ta sợ bị người khác trông thấy chăng? Trong phúc âm thánh Gioan ông Nicođêmô bàu chữa cho Chúa Giêsu trước toà công luận (7: 50). Chính ông Nicođêmô và ông Giuse Arimathêa đã chôn cất Chúa Giêsu. Nhưng chúng ta không hề nghe nói về việc ông Nicođêmô có trở nên một Kitô hữu hay chưa. Có thể vì ông ta đại diện cho các người cùng đức tin với ông, là những người dè dặt trong việc công khai tin vào Chúa Giêsu. Đó là điều nguy hiểm cho họ.

Chúng ta có thể dừng lại đây và tự hỏi bản thân rằng liệu có một chút, hay có nhiều Nicođêmô trong chúng ta hay không? Chúng ta có nằm trong số những người đã được ơn đức tin, và như ông Nicôđêmô luôn nói điều hay về Chúa Giêsu, và cả đi nhà thờ, nhưng lại không sống một đời sống luôn dấn thân cộng tác với Thiên Chúa? Có phải chúng ta cũng dè dặt trong việc tuyên xưng đức tin chúng ta vào Chúa Kitô: bênh vực quyền lợi cho những người sống ngoài lề xã hội; dành thì giờ và sức lực của chúng ta cho người đói ăn, cho người vô gia cư có nhà ở, đó là việc làm mà Chúa Giêsu nói đến trong cảnh phán xét ghi trong phúc âm thánh Mátthêu (c 25)

Trong phúc âm thánh Gioan "tin vào" Chúa Giêsu là "làm lẽ thật", hay là "làm thật sự" Nó không chỉ là việc hoan hô Chúa Giêsu từ bên ngoài. Nhưng đó phải là hành vi khẳng định tuyên xưng đức tin. Chúng ta tin vào Chúa Kitô vì chúng ta đã nhận được ơn thánh sủng từ Thiên Chúa với tay ra gởi đến chúng ta. Mùa Chay kêu gọi chúng ta hãy suy ngẫm về ơn huệ này và sau đó hãy hành động từ trong cuộc sống mới của chúng ta xứng với ơn huệ đã ban cho chúng ta.

Đây là một câu văn gây điều khó khăn "… Nhưng, hể ai không tin tưởng thì đã bị lên án rồi, vì người đó không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa" Đối với thánh Gioan "tin tưởng" là một động từ của hành vi. Chúng ta "tin" nghĩa là chúng ta phải thể hiện bằng hành vi đáp ứng lại với lòng tin tưởng của chúng ta vào Chúa Giêsu. Việc tin vào Chúa Giêsu không thể thu hẹp trong việc chấp nhận vài tín lý về Ngài là Con Thiên Chúa, chết vì tội chúng ta, Ngài sống lại từ cỏi chết v.v... Đó chỉ là một phần của việc tin. Nhưng, đối với thánh Gioan có nhiều điều hơn nữa. Đó không phải là niềm tin hay không tin, hay tin nhưng không vâng theo. Bởi thế, Khi chúng ta tuyên xưng đức tin, chúng ta phải hành động theo đức tin đó. Nếu chúng ta không hành động theo đức tin của chúng ta, chúng ta không vâng theo và bởi đó, chúng ta sẽ bị diệt vong. Thánh Gioan nói về sự thật đó trong thì hiện tại. Bởi thế điều gì sẽ "bị tiêu diệt" trong đời sống chúng ta.

Đối với thánh Gioan không có điểm trung gian. Việc con Thiên Chúa đến trong thế gian đòi hỏi một quyết định lựa chọn: Chúng ta có tin tưởng vào Con Thiên Chúa hay không. Và nếu có thì đời sống của chúng làm thế nào để phản ánh đức tin đó? Thánh Gioan nói việc Con Thiên Chúa đến trong thế gian đã mang lại ánh sáng cho chúng ta. Nếu chúng ta trông thấy ánh sáng đó, chúng ta được đẫn dắt bởi ánh sáng và sống theo sự thật mà ánh sáng đó đã chỉ cho chúng ta.

Thông điệp chung của Mùa Chay không phải là về việc lên án. Nhưng là việc chúng ta nghe lập đi lập lại trong Kinh Thánh hôm nay. Thánh Phaolô đã tóm tắt: "Thiên Chúa là đấng giàu lòng thương xót, Ngài rất mực yêu mến chúng ta, nên dẫu chúng ta đã chết trong sự vấp ngã, Người cũng đã cho chúng ta được sống lại với Đức Kitô" Thánh Phaolô tóm tắt: "Quả vậy, chính nhờ ân sũng và nhờ lòng tin mà anh em được ơn cứu độ; Đây không phải do sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa. Cũng không phải bởi việc anh em làm, nên không ai có thể khoe khoang gì".

Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP


4th SUNDAY OF LENT (B)
2 Chron 36: 14-17, 19-23; Psalm 137; Ephesians 2: 4-10; John 3: 14-21

As the television camera pans the crowds at sporting events have you ever seen someone holding a sign that reads, “John 3:16?” That verse part of today’s gospel: “For God so loved the world that he gave his only Son, so that everyone who believes in him might not perish but might have eternal life.” That certainly sums up, not just today’s passage, but the whole gospel message.

The next love-drenched verse (17) is, “For God did not send his Son into the world to condemn the world….” Some people are determined by their words and attitudes to make sure people hear the following verse, “Whoever believes in him will not be condemned, but whoever does not believe has already been condemned, because they have not believed in the name of the only Son of God.” That’s a pretty neat package, isn’t it? If you believe in Jesus you are saved; if you don’t… well too bad for you! Usually people using this quote are pretty sure which side of the saved/damned divide they are going wind up.

Imagine, taking a couple verses out of the Scriptures and passing judgment on most of the world who do not accept or know of Jesus. For sure, the gospel is quite clear that through Jesus’ birth, death and resurrection God has saved the world. But because of historical, geographical, or cultural settings people who do not believe are not condemned. Nor, I believe, are people who have turned away because they experienced a harsh and negative message from their families or church.

John’s Gospel has a repeated message of God’s love and desire to save all people, even if they do not express faith in Christ. His is not the only gospel to say that. Recall the classic judgment scene in Matthew (25:31-46), where all the nations are gathered before the throne of judgment and the sheep are separated from the goats, the blessed from the cursed. The norms by which the people are judged are not by their expressed belief in Jesus, but because they fed the hungry, clothed the naked, gave drink to the thirsty, etc. They followed Jesus’ commandments even without knowing him. People are accepted into God’s kingdom if they cared for one another and served God, whether they expressed faith, or not.

We have received a call to know God through the revelation of Jesus. We believe in him and proclaim him by our lives. That is the gift of our vocation as baptized Christians – an unmerited and loving gift from our God. We have not earned the gift, so let’s be careful whom we judge as saved, or condemned. As Paul reminds us today: “God is rich in mercy… even when we were dead in our transgressions, brought us to life with Christ – by grace you have been saved.”

Jesus is speaking to Nicodemus, who came to him at night. Did he come at that hour because the night is cool, quiet and a good time for conversations of consequence. Or was he afraid of being seen by others? In John’s Gospel Nicodemus defended Jesus before the Sanhedrin (7:50). With Joseph of Arimathea he gives burial to Jesus. But we never hear of Nicodemus becoming a Christian. He may represent others of his faith who were timid to publicly admit faith in Jesus. It was dangerous to do so.

We can pause here and ask ourselves if there is a bit, or a lot of Nicodemus in us? Are we among those who have been given the gift of faith, who like Nicodemus speak well of Jesus, even go to church, but have not lived lives of obvious commitment to him? Are we also timid about voicing faith in Christ: defending the rights of people on the fringe of society; giving our time and energy to feed the hungry; sheltering the homeless, and therefore doing what Jesus spells out in that judgment scene in Matthew 25?

In John’s Gospel, to “believe” in Jesus is to “act in truth,” or “do the truth.” It is not just about applauding Jesus from the sidelines. It’s doing what we claim to believe. We believe in Christ because we have received the gift of grace from our out-reaching God. Lent calls us to reflect on this gift and then act out of the new life it gives us.

Here is a troublesome-sounding verse: “… But whoever does not believe has already been condemned because he has not believed in the name of the only Son of God.” For John, “believe” is an action verb. We “faith,” i.e. we do good works in response to our belief in Jesus. Believing in him cannot be reduced to affirming certain doctrines – that he is the Son of God, died for our sins, was raised from the dead, etc. That is all part of believing, but for John there is more. It is not belief vs unbelief. It is belief vs disobedience. So, if we profess faith we must act on it. If we do not act on our faith, we disobey and thus, we perish. John speaks of such realities in the present tense. So, what would “perishing” in this life be for you?

For John there is no middle ground. The Son of God’s coming into our world requires a choice: do we believe in the Son and, if we do, how do our lives reflect that belief? John says the coming of God’s Son into the world has brought us light. If we see by that light we are guided by it and live the truth the light shows us.

The overall message of Lent is not about condemnation, but what we hear repeated in today’s Scriptures. Paul sums it up: “God who is rich in mercy because of the great love God had for us, even when we were dead in our transgressions, brought us to life with Christ.” Paul sums it up: “By grace you have been saved and this is not from you, it is the gift of God, it is not from works, so no one may boast.”

14-3-2021

 

CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY 2018

2 Sử Biên niên 36: 14-17, 19-23; T.vịnh 136; Êphêsô. 2: 4-10; Gioan 3: 14-21

Tôi chưa hề thấy điều này: Trong sân bóng chày, khi đánh trúng banh về phần sân nhà, khi có người nào chạy về tới sân nhà thi dân chúng ngồi gần chỗ đó có người giơ cao tấm bảng trên có viết "Gioan 3:16". Các người thích xem bóng chày trên truyền hình thấy vậy sẽ đọc xem ngay câu phúc âm thánh Gioan trong Kinh Thánh. "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin váo Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời". Những người cầm tấm bảng ấy giơ lên tin chắc rằng: những người ở nhà thấy tấm bảng có ghi câu Gioan 3:16 trích từ Kinh Thánh và biết được diễn tiến của trận đấu.

Chúng ta đang ở giữa Mùa Chay, nhưng các đoạn sách Kinh Thánh đọc đã nhắc đến Tuần Thánh, nhất là Thứ Sáu Tuần Thánh khi "Con Người" sẽ được "giương cao lên". Điều này nói đến câu trong sách Dân Số (21:4-9), khi dân Israel than vãn vỏ́i ông Môsê trong hoang địa và bị phạt vì rắn cắn làm nhiều ngủỏ̀i phải chết, Thiên Chúa giúp họ bằng cách bảo ông Môsê làm một con rắn đồng và "đặt cao lên cán cỏ̀". Ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng trên cán cỏ̀ thì sẽ đủọ̉c sống. Con rắn đồng trên cán cỏ̀ là hình ảnh Chúa Kitô và là tủọ̉ng trủng sụ̉ củ́u rỗi. Nhủ hôm nay Chúa Giêsu nói "Con Ngủỏ̀i cũng sẽ đủọ̉c giủỏng cao, để ai tin vào Ngủỏ̀i thì đủọ̉c sống muôn đỏ̀i" Thánh Gioan dùng tủ̀ "trông thấy" là tủọ̉ng trủng đủ́c tin. Bỏ̉i thế, "trông thấy" hay "nhìn thấy" Chúa Giêsu là có đủ́c tin nỏi Ngài và "đủọ̉c sống muôn đỏ̀i". Hãy chú ý "đủọ̉c sống muôn đỏ̀i" ỏ̉ thì hiện tại, có nghĩa là ngủỏ̀i có đủ́c tin bắt đầu tủ̀ bây giỏ̀ sụ̉ sống muôn đỏ̀i.

Chúa Giêsu nói vỏ́i ông Nicôđêmô khi ông ta đến trong đêm tối. Có lẽ ông ta muốn gặp Chúa Giêsu trong khung cảnh yên lặng. Hay có thể ông ta là tủọ̉ng trủng thế gian là bóng tối. Hình nhủ ông Nicôđêmô chấp nhận ánh sáng ban cho ông, vì sau đó trong phúc âm ông ta sẽ thay mặt Chúa Giêsu nói vỏ́i các ngủỏ̀i Pharisêu (7:50), và ông ta sẽ mua mộc dủọ̉c trộn vỏ́i trầm hủỏng để liệm xác Chúa Giêsu (19:39).

Trong đoạn sách phúc âm hôm nay, thánh Gioan đã khai mở phúc âm của ông ta trong việc loan báo Tin Mủ̀ng, trong đó tóm lược toàn bộ phúc âm. Theo đó giới thiệu nhủ̃ng đề tài được ghi trong phần sau của phúc âm là: đủ́c tin và sự phán xét. Chúa Giêsu, Đấng Thiên Chúa gỏ̉i đến để báo hiệu: ánh sáng và bóng tối; nhủ̃ng ai làm điều dủ̃, và nhủ̃ng ai làm điều thiện. Thánh Gioan loan báo là Thiên Chúa mặc khải cho toàn thế giỏ́i, tất cả mọi ngủỏ̀i chủ́ không chỉ riêng một ai hay một nhóm ngủỏ̀i đủọ̉c tuyển chọn. Thiên Chúa lo lắng cho tất cả mọi ngủỏ̀i, và nhủ̃ng ai "sống trong sụ̉ thật" và "đến vỏ́i ánh sáng" thì đủọ̉c lãnh nhận "sụ̉ sống muôn đỏ̀i".

Đoạn sách diễn tả kinh nghiệm của cộng đoàn thánh Gioan. Không phải tất cả mọi ngủỏ̀i đáp ủ́ng ân sũng của Thiên Chúa và chấp nhận điều Thiên Chúa ban qua Chúa Giêsu. Điều này có ý nói đến "dân chúng thích bóng tối hơn là ánh sáng" Có ý nghĩa thỏ̀i gian đó giống thỏ̀i chúng ta đang sống. Dân chúng tiếp tục chọn bóng tối hỏn lả ánh sáng và làm sụ̉ dủ̃. Dân chúng thích bóng tối hỏn là ánh sáng vì việc họ làm là sụ̉ dủ̃. Điều này đã gây nên chán nãn và bi quan trong cộng đoàn các tín hủ̃u tiên khỏ̉i, cũng giống nhủ nhủ̃ng sụ̉ việc gây nên chán nãn và bi quan trong giáo hội chúng ta ngày nay.

Nhủng, đoạn sách kết thúc vỏ́i ý nghĩa phấn khỏ̉i. Cũng nhủ Chúa Giêsu là ánh sáng của thế gian và đỏ̀i sống của Ngài mặc khải Thiên Chúa cho toàn thể mọi ngủỏ̀i, thì chúng ta, mỗi Kitô Hủ̃u "đã đến vỏ́i ánh sáng" mặc khải Thiên Chúa cho thế gian. Dân chúng thích bóng tối vì bóng tối che đậy hành động sụ̉ dủ̃ của ho. Trái lại, nhủ̃ng ngủỏ̀i có đủ́c tin là ngủỏ̀i ỏ̉ trong ánh sáng vì hành động của họ làm chủ́ng cho Thiên Chúa.

Thánh Gioan có cách dùng tủ̀ ngủ̃ có hai ý nghĩa. Chúa Giêsu nói vỏ́i ông Nicôdêmô là Ngài sẽ đủọ̉c "giủỏng cao" để "ai tin vào Ngủỏ̀i thì đủọ̉c sống muôn đỏ̀i" Tù ngủ̃ "giủỏng cao" nói đến sụ̉ chết của Ngài trên cây thánh giá, và cũng có ý nghĩa sụ̉ phục sinh cũa Ngài từ nơi kẻ chết và Ngài đủọ̉c lên vinh quang bên hủ̃u Thiên Chúa. Vì thế, ai nhìn lên Chúa Giêsu trên cây thánh giá không nhủ̃ng đủọ̉c xóa tội, mà còn đủọ̉c sụ̉ sống nhủ sụ̉ sống của Chúa Giêsu bây giỏ̀ là sụ̉ sống muôn đỏ̀i.

Thánh Gioan cho chúng ta một câu viết trên tấm bảng ỏ̉ sân banh, và trên các biễn ngủ̃ dán phía sau xe hỏi. "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngủỏ̀i thì khỏi phải chết, nhủng đủọ̉c sống muôn đỏ̀i" Các tín hủ̃u lập đi lập lại câu này không phải là một câu biểu ngữ mà là lỏ̀i sụ̉ thật và cam quyết.

Khi nào chúng ta phạm tội, hay biết việc chúng ta làm không phản chiếu ánh sáng của Thiên Chúa cho thế gian mà chỉ là việc của bóng tối thế gian, thì câu sách phúc âm này là một lỏ̀i cầu nguyện đầy tin tủỏ̉ng và tình yêu thủỏng của Thiên Chúa và cam quyết là chúng ta sẽ đủọ̉c tha thủ́, không phải vì bỏ̉i cố gắng của chúng ta, nhủng vì bỏ̉i chúng ta nhìn lên Đấng đã giủỏng cao trên cây thánh giá, và chúng ta có thể ra khỏi bóng tối của tội lỗi đến ánh sáng của Chúa Kitô.

Ông Nicôđêmô đã đến vỏ́i Chúa Giêsu trong ban đêm. Trong điều Chúa Giêsu dạy ông ta, chúng ta đủọ̉c nhắc nhỏ̉ điều Thiên Chúa đã làm cho chúng ta. Mặc dù biết bao nhiêu ngủỏ̀i chọn việc làm trong bóng tối, tình yêu thủỏng của Thiên Chúa đối vỏ́i một thế gian không xủ́ng đáng vẫn là tình yêu thủỏng vô bỏ̀ bến. Thiên Chúa không chỉ yêu thủỏng nhủ̃ng ngủỏ̀i tốt trong thế gian, hay thủỏng nhủ̃ng ngủỏ̀i đã đủọ̉c chọn. Đỏ̀i sống Chúa Giêsu, sụ̉ chết và sụ̉ sống lại của Ngài là cho toàn thể loài ngủỏ̀i. Bỏ̉i thế, vì tình yêu thủỏng của Thiên Chúa mặc khải qua Chúa Kitô, chúng ta không thể nhìn vào kẻ khác là kẻ không đáng đủọ̉c yêu thủỏng, vì họ đã đủọ̉c hai cánh tay Chúa Kitô giăng trên cây thánh giá ôm họ vào lòng. Ngay cả nhủ̃ng ngủỏ̀i chống đối Ngài, hay nhủ̃ng ngủỏ̀i lo lắng vì sụ̉ việc ỏ̉ thế gian, họ cũng đủọ̉c yêu thủỏng.

Trong hoang địa ngủỏ̀i Israel quay mặt với Thiên Chúa, và phải chịu phạt. Dù vậy, Thiên Chúa vẫn thủỏng yêu họ và ban cho họ ỏn chủ̃a lành, nếu họ nhìn lên con rắn đồng giủỏng cao trên cán cỏ̀. Chúng ta không chỉ nhìn lên thánh giá là đủọ̉c củ́u rỗi. Nhìn thấy, theo tủ̀ ngủ̃ Kinh Thánh, có ý nghĩa nhiều hỏn là chỉ dùng mắt để nhìn. Tủ̀ ngủ̃ đó có ý nghĩa nhìn vỏ́i cặp mắt đủ́c tin. Chúng ta còn phải làm gì nủ̃a vỏ́i cặp mắt đủ́c tin đó? Vì Chúa Kitô và ánh sáng Ngài đem đến cho bóng tối của chúng ta, chúng ta có thể nhìn thấy nhủ Thiên Chúa: chúng ta nhìn thấy vỏ́i tình yêu thủỏng ngủỏ̀i tội lỗi không đáng đủọ̉c yêu thủỏng; chúng ta nhìn thấy hy vọng trong nhủ̃ng trủỏ̀ng họ̉p không còn hy vọng, chúng ta nhìn thấy Chúa Kitô trong nhủ̃ng ngủỏ̀i ngoài lề xã hội và nhủ̃ng ngủỏ̀i bị bỏ phế.

Chúng ta cũng nhìn thấy sụ̉ sống muôn đỏ̀i trong nhủ̃ng trủỏ̀ng họ̉p thủỏ̀ng tình: nhủ đổ nủỏ́c, bẻ bánh, một ly rủọ̉u, xủ́c dầu, và một lỏ̀i tha thủ́. Chúng ta nhìn thấy đủọ̉c vì Chúa Kitô đã giủỏng cao và bây giỏ̀ ánh sáng đã chiếu rọi trong bóng tối của thế gian của chúng ta.

Cây thánh giá đã mặc khải Thiên Chúa cho chúng ta, không phải nhủ một ngủỏ̀i xem xét tủ̀ xa, nhủng là một ngủỏ̀i chia sẻ niềm vui, sụ̉ đau khổ và sụ̉ chết của chúng ta. Thiên Chúa đã cùng chúng ta qua nhủ̃ng lúc thấp kém để giủỏng cao chúng ta lên sụ̉ sống. Chúa Giêsu trên cây thánh giá đã sống lại bên hủ̃u Thiên Chúa là điều chắc chắn có thật, Ngài "giủỏng cao" "sống lại" và bây giỏ̀ chúng ta nhìn lên Ngài để "đủọ̉c sống muôn đỏ̀i" là điều đã khởi sự cho mỗi người chúng ta.

Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP


4th SUNDAY OF LENT (B)
2 Chron 36: 14-17, 19-23; Psalm 137; Ephesians 2: 4-10; John 3: 14-21

I haven’t seen this recently, but when a baseball player would hit a home run a fan in the area where the ball landed would hold up a sign reading "John 3:16." Baseball fans watching the game on television were being directed to their bibles to, what must be, the most famous text in the New Testament, "For God so loved the world that he gave his only Son, so that everyone who believes in him might not perish but have eternal life." Those who held up those signs were presuming a lot: that viewers would know what "John 3:16" referred to and that people who had a bible at home, would know how to find that quote.

We are in the midst of Lent, but our Scriptures are already looking ahead to Holy Week, especially Good Friday, when the "Son of Man" will be "lifted up." The reference is to the Book of Numbers (21:4-9). When the Israelites grumbled against Moses in the desert they were punished by bites from poisonous snakes. To help them God instructed Moses to make a bronze snake and place it on a pole and "lift it up." Anyone bitten by a snake needed to look at it to be healed. That healing snake on a pole prefigured Christ and became a symbol of salvation. As Jesus says today, "The Son Of Man must be lifted up, so that everyone who believes in him may have eternal life." John uses "seeing" as a symbol for faith. So, to "see," or "look" on Jesus is to have faith in him and to "have eternal life." Note: The reference to eternal life is in the present tense – for the believer it begins now.

Jesus is speaking to Nicodemus who came to him at night (3:1ff). Maybe he wanted time with Jesus in a quiet atmosphere. Or, maybe he is a symbol of the world in darkness. Nicodemus seems to have accepted the light offered to him because later in the gospel he will speak on Jesus’ behalf (7:50) and will purchase spices for Jesus’ burial (19:39).

In today’s passage the evangelist John has broken the flow of his gospel to make a proclamation of the good news, a summary of his gospel. This section is filled with themes which anticipate the rest of the gospel: faith and judgment; Jesus, the revealer sent by God; light and darkness; those who do evil deeds and those who do good. John is announcing that God is making a revelation to the whole world, everyone, not just to particular individuals,. or a privileged few. God is concerned about all people and anyone who "lives the truth" and "comes to the light," is offered eternal life.

The passage reflects the experience of John’s community. Not everyone responded to God’s grace and accepted the offer God made in Jesus. This is suggested by references like, "people preferred darkness to light." In this the times were a lot like our own. People continue to choose darkness over light and practice evil deeds, "people preferred darkness to light because their works were evil." This would have caused discouragement in the early Christian community, just as similar discouraging events cause pessimism and discouragement in our church today.

But the passage ends on an optimistic note. Just as Jesus is the light to the world and his life a revelation of God to all, so too, each Christian who has "come to the light" reveals God to the world. People prefer the darkness because it hides their evil deeds. Believers, on the other hand, are light bearers whose deeds bear witness to God.

John has a tendency to use words and phrases that have double meanings. Jesus tells Nicodemus that he will be "lifted up," that those who "believe in him may have eternal life." The term "lifted up" would refer to his death on the cross. It would also mean his resurrection from the dead and his being raised to glory at God’s right hand. So, those who look to Jesus upon the cross are not only healed of sin, but receive the same life Jesus now has – eternal life.

John provides us with a verse that has been bandied about on placards in sports stadiums and on bumper stickers of cars. "For God so loved the world that he gave his only Son, so that everyone who believes in him might not perish but have eternal life." Believers repeat this phrase not as a slogan, but as a word of truth and assurance.

When we have sinned, or realize our deeds have not reflected God’s light to the world but have copied the world’s darkness, this verse is both a prayer and an assurance for us. It is a prayer of confidence in God’s love and assurance that we can be forgiven, not for any merit of our own, but because we can look upon the One who was raised up on the cross and so we can come out of the darkness of sin to the light of Christ.

Nicodemus has come to Jesus at night. In the instruction Jesus gave him we are reminded of what God has done for us. Despite the fact that so many choose deeds of darkness, God’s love for an undeserving world is without limits. God doesn’t just love the good people of the world, or the chosen over the rest. Jesus’ life, death and resurrection is for all the world. So, because of God’s love revealed in Christ we cannot look upon anyone as unlovable, for they have been embraced by Christ’s outstretched arms on the cross. Even those who openly reject him, or are preoccupied by the things of this world, are still loved by God.

In the desert the Israelites turned their back on God and suffered the consequences. Still, God loved them and offered them healing if they looked upon the serpent Moses raised up on the pole. We don’t just look at a crucifix and are saved. Looking, in biblical language, means more than seeing something with our eyes. It implies seeing with eyes of faith. What else do we see with those same eyes of faith? Because of Christ and the light he brings into our darkness, we can now see the way God sees: we see the unlovable and sinners with love; we see hope in situations that others call hopeless; we see Christ in the outsider and neglected.

We also see eternal life in seeming-ordinary rituals: the pouring of water, the breaking of bread, a cup of wine, an anointing with oil and a word of forgiveness. We can see because Christ has been lifted up and now a light has shone into our otherwise dark world.

The cross has revealed God to us, not as a distant divine observer, but as one who has shared our joy, pain and our death. God has joined us in our lowest moments to raise us up to life. Jesus, on the cross and then resurrected to God’s side, is our proof positive. He has been "raised up" and now we look upon him for "eternal life" – which has already begun for us.

 

CHÚA NHẬT IV CHAY –B- 18-3-2012
2 Sử Biên 36: 14-17, 19-23; TV 137; Êphêsô 2: 4-10Gioan3: 14-21
By Jude Siciliano, OP

THIÊN CHÚA KHÔNG BỎ RƠI CHÚNG TA
Một ngày nọ tôi đã ký tên dưới lá thư để gởi cho những người bạn. Nhưng tôi phân vân mình nên kết thư như thế  nào đây? Không biết nên viết “cầu chúc bạn may lành” “chúc bạn bình an và thân ái,”  hoặc “người bạn thân mến, Jude” có được không? Chắc chắn một điều là không thể viết “trân trọng”, vì dù gì đây cũng là những người bạn. Nếu đó là lễ Giáng Sinh thì tôi đã viết “Giáng Sinh vui vẻ.” Nếu là Phục Sinh, tôi viết: “Mừng lễ Phục Sinh!” Nhưng lại không phải là ngày lễ lớn để cho chúng ta liên hệ tới niềm vui và hân hoan. Đó lại là mùa Chay. Tôi không chúc mừng được, nhưng tôi muốn ký vào lá thư của tôi rằng, “Mùa Chay hạnh phúc”. Ngay cả người bạn biết rõ về tôi cũng nghĩ rằng có một điều gì đó là lạ. Nhưng giữa quí vị và tôi, sao mình lại không “Chúc Mùa Chay hạnh phúc” được nhỉ?

Tôi biết rằng chúng ta hay liên tưởng đến mùa Chay như một mùa “u sầu và ảm đạm” Bàn thờ, cung thánh đều để trơ trọi và những bức tường nhà thờ không trang trí như muốn diễn đạt những ý nghĩ không vui. Ngày xưa, thậm chí chúng ta phủ tấm vải tím trùm lên các bức tượng để thêm phần trang nghiêm của mùa Chay như thế này. Tôi lấy làm vui mừng với những nhà thờ mà tôi đến giảng không còn phủ những tấm khăn như vậy nữa. Suốt mùa Chay tôi thích rảo quanh nhìn các khuôn mặt thân thiện của những người bạn đồng hành của tôi trong suốt hành trình bốn mươi ngày chay tịnh, tôi xem họ như những vị thánh. Họ đi trước tôi và chờ đợi tôi. Đời sống yêu thương và hy sinh của họ dành cho xóm làng nhắc nhở tôi về ý nghĩa của mùa Chay, vì thế tất cả cuộc đời Kitô hữu chung qui là tinh thần sống như vậy. Thể theo truyền thống Công giáo, tôi mời gọi họ trong Mùa Chay này cùng tôi cầu nguyện cho chính mình và cho những người bạn đồng hành trên hành trình đức tin.

Trở lại câu hỏi mà tôi đã nêu ra: sao chúng ta không ký vào một bức thư hay email với lời “Mùa Chay Hạnh Phúc?” Sao chúng ta không nghĩ rằng mùa Chay là mùa hạnh phúc, hay ít nhất là mùa của niềm vui? Làm sao chúng ta có thể nói thế? Hãy đọc Sách Thánh và nghe bài Tin Mừng của Thiên Chúa được công bố cho chúng trong Ngôi Lời.

Sử Biên Niên quyển 2 được viết trong thời kỳ phục hưng (khoảng năm 520-400 tr. CN) sau thời kỳ lưu đày ở Babylon. Sách Sử Biên Niên (không rõ tác giả) khuyên toàn thể dân chúng rằng, nếu họ muốn duy trì một cộng đoàn đức tin kiên vững, thì họ nên giữ việc thờ phượng cộng đồng và duy trì một đời sống đức tin thanh sạch. Tác giả cảnh báo với họ rằng những tàn lụi mà họ hứng chịu không phải do sức mạnh quyền lực của Babylon, cho bằng những suy đồi đạo đức trong dân chúng. Toàn bộ cộng đồng, kể cả những người lãnh đạo tôn giáo cấp cao nhất, đều chịu trách nhiệm về sự sa sút của đất nước mình và cả việc phá hủy Đền Thờ. Việc thực hành tôn giáo đã bị “ô nhiễm” và không thể tránh khỏi sự sụp đổ.

Nếu đất nước còn hướng về Thiên Chúa, thì sách Biên Niên cho rằng, cuộc lưu đày bảy mươi năm ở Babylon đã không xảy ra. Tác giả muốn dân của mình bảo đảm rằng họ nhớ lại thời quá khứ để không còn lặp lại nỗi đau thương đó nữa.

Sử Biên Niên quyển hai nhắc nhở chúng ta trong mùa Chay rằng việc thờ phượng, cầu nguyện, tuân giữ kỷ luật không chỉ đơn thuần là những thực hành cá nhân. Chúng ta là một cộng đồng không chỉ biết hoán cải về những thất bại cá nhân, mà còn biết hoán cải những thất bại trong Giáo hội nữa. Tất nhiên, chúng ta không chỉ nói về những tai tiếng gần đây, mà còn những ví dụ khác về giáo hội xét theo tổng thể, và một cách nào đó, cộng đồng đức tin của địa phương chúng ta chưa sống theo lời mời gọi của Tin Mừng: cho kẻ đói ăn, giúp người đau yếu, thờ phượng chân thành, thực hành tha thứ, v.v…

Vậy, đâu là thông điệp “Mùa Chay Hạnh Phúc” ở đâu trong sách Sử Biên Niên quyển 2? Đó là khi Thiên Chúa nhìn thấy điều kiện khốn khó của dân chúng dưới ách nô lệ thì Người ra tay giải cứu họ. Thậm chí Thiên Chúa đã dùng một vua ngoại giáo Persia tên là Cyrô để thực hiện hành động giải cứu đó! Vì có người nói rằng, “Thiên Chúa có thể dùng tác nhân bên ngoài để giúp chúng ta.” Mặc dù hết lần này đến lần khác dân chúng lỗi phạm, “Đức Chúa, Thiên Chúa của tổ tiên họ không ngừng sai sứ giả của Người đến cảnh cáo họ, vì Người hằng thương xót dân Người.” Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi một dân bất trung dẫu cho họ có lãng quên Thiên Chúa của họ.

Thực sự, đó chính là “Mừng Mùa Chay” vì chúng ta được nhắc nhở rằng, Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta, cũng chẳng bỏ rơi Giáo hội và Người vẫn hằng luôn yêu thương và tỏ dấu chỉ khoan dung đối với chúng ta. Mùa Chay là thời gian cho chúng ta thức tỉnh rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta và chúng ta đáp trả bằng cách quay về với Người. Những lời cầu nguyện và việc hy sinh mà chúng ta thực hiện trong mùa Chay này giúp chúng ta hoàn thành cuộc trở về này trọn vẹn hơn theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa.

Trong huyền thoại cổ xưa, con rắn là biểu tượng của việc chữa trị. Quân Đàon Y Tế Hoa Kỳ có biểu tượng con rắn quấn trên một cây gậy. Trong sách Dân Số (21, 4-9), những người Do Thái trong sa mạc mệt mỏi về hành trình và phàn nàn chống lại Thiên Chúa qua việc phản đối ông Môsê và vì thế họ bị rắn cắn. Để chữa trị cho họ, ông Môsê bảo dân hãy nhìn lên con rắn trên gậy mà ông treo lên trước mặt. Ai làm như vậy thì được chữa lành.

Người dân chịu gian khổ  trong suốt hành trình dài của họ nơi sa mạc, vì thế họ đã quay lưng lại với Thiên Chúa. Khó khăn gian khổ cũng có thể khiến chúng ta như thế - cám dỗ chúng ta từ bỏ Thiên Chúa. Hoặc chúng ta có thể kết luận rằng, Thiên Chúa “ở tít trên cao” và Người cũng chẳng màng gì đến những “nỗi khổ bé nhỏ” của chúng ta, mặc dù những khốn khó đó không hề “bé nhỏ” đối với chúng ta! Chúng ta phải nỗ lực vì cố gắng hiểu được ý nghĩa của mầu nhiệm của đau khổ nơi chính mình hoặc nơi người khác.

Đau khổ dường như là một phần AND của điều kiện làm người, và chúng ta không phải khi nào cũng được lựa chọn. Nhưng Thiên Chúa thì có. Thiên Chúa có thể ra khỏi sự hỗn độn và tránh phải đau khổ. Hôm nay Tin Mừng là một lời nhắc nhở thêm cho chúng ta rằng Thiên Chúa không ở xa và ở trên nỗi đau của chúng ta, vì Người là Đấng yêu thương. “Vì vậy, Thiên Chúa yêu thương thế gian …” Những người yêu nhau lại cảm nhận được nỗi đau nơi người yêu của mình. Nếu một người nào đó mà chúng ta yêu mến bị tổn thương, như người bạn hữu, bạn đời hoặc con cái, thì chúng ta cũng cảm thấy đau đớn vậy.

Thánh Gioan cho ta biết, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để xét xử, nhưng là để cứu chúng ta. Đức Giêsu là người con trung thành của Thiên Chúa, Người đã rao giảng sứ điệp về tình yêu thương của Thiên Chúa. Người đã thi hành sứ điệp tình yêu đó đối với toàn thể nhân loại, ngay cả quân thù và cả những ai không nhận biết Người. Người mời họ ăn uống cùng bàn. Đức Giêsu không phải chịu bách hại và chết trên thập giá, nếu như Người ngừng việc rao giảng về tình yêu của Thiên Chúa. Lẽ ra Đức Giêsu tránh xa đau khổ, lánh đi đâu đó một lúc, khi sự việc trở nên khó khăn thì có thể bỏ đi. Nhưng Người không bỏ rơi chúng ta, Người ở lại để đối diện với sự đau khổ đó, thậm chí dẫu cái chết ngay trước mặt. Thiên Chúa bày tỏ tình yêu của Người với chúng ta qua cuộc đời của Đức Giêsu và qua cái chết của Người trên thập giá. Điều đó có nghĩa là: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con một của Người cho thế gian.”

Thập giá là một bất công lớn chống lại Đức Giêsu. Khi chúng ta nhìn thập giá với thái độ sùng kính và tôn trọng điều đó không có nghĩa là chúng ta đang tưởng niệm một công cụ thi hành án, nhưng ở nơi đó là sự tóm kết cuộc đời và sứ điệp của Đức Giêsu: ngay cả cái chết đáng sợ nhất cũng không thể làm Đức Giêsu thay đổi ý định mạc khải về tình yêu của Thiên Chúa cho chúng ta.

Mùa Chay có thể giúp chúng ta lưu tâm đến nỗi đau khổ của thế gian. Nếu đây là “Mùa Chay hạnh phúc” với chúng ta là vì chúng ta nhớ lại Thiên Chúa ở với chúng ta, đặc biệt trong nỗi đau khổ và bị xa lánh và Người không ngoảnh mặt với chúng ta. Thiên Chúa đã chiến thắng tất cả sự dữ, chúng ta là những con người cũng có thể chiến thắng những sự dữ đó và chiến thắng như vậy là để tôn vinh Đức Giêsu. Như dân Do Thái trong sa mạc, chúng ta cũng mở mắt nhìn, nhưng không phải nhìn biểu tượng con rắn trên cây gậy, nhưng là nhìn Đức Giêsu trên thập giá. Khi nhìn về Người, chúng ta cảm nhận được sự chữa lành tội lỗi và nhận ra Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta biết dường nào. Trong ánh sáng của Đức Giêsu, chúng ta thấy rằng lời đáp trả của Thiên Chúa đối với tội lỗi là sự dâng hiến cuộc đời.

Chúng ta có thể làm được gì? Đừng đào sâu ngăn cách giữa Thiên Chúa và chúng ta nữa, và đừng phàn nàn với Thiên Chúa về nỗi khổ đau của thế gian nữa. Nhưng hãy nhìn Thiên Chúa thay đổi vị thế, Người chuyển đến ngay bên chúng ta. Lưu ý rằng, Thiên Chúa không chỉ làm những điều lành và tránh những điều xấu, nhưng Người còn muốn chúng ta đừng né tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm, như Người đã không né tránh. Như Đức Giêsu, chúng ta chọn làm điều tốt và chống lại những điều xấu, bất cứ điều gì gây ra nổi khổ đau. Như Đức Giêsu, trong hoàn cảnh khó khăn, chúng ta đón nhận thập giá, nhưng cũng chính trong thập giá đó, chúng ta sẽ khám phá ra gương mặt của Đức Giêsu thật rõ nét.

Lm. Jude Siciliano, OP

Chuyển ngữ:: Anh em HV Đaminh Gò-Vấp

4th SUNDAY OF LENT (B)-March 18, 2012
2 Chron 36: 14-17, 19-23; Psalm 137; Ephesians 2: 4-10; John 3: 14-21
By Jude Siciliano, OP

 

I was signing a letter to friends the other day. How to sign off? "Blessings," "Peace and love," "Your friend, Jude"? Certainly not "Sincerely," after all these are friends! If it were Christmas I would know what to write, "Merry Christmas." If it were at Easter, "Happy Easter!" But it’s not those seasons we associate with merriment and joy. It’s Lent. I didn’t do this, but I wanted to sign my letter, "Happy Lent." Even friends who know me well would think that a bit bizarre. But between you and me, why not "Happy Lent?"

I know we have associated Lent as a season of seeming "doom and gloom." The stripped-down altar, sanctuary and the undecorated church walls don’t exactly communicate happy thoughts. In the past we would even cover the statues with violet coverings to add to the solemnity of the season. I am glad the churches where I go to preach don’t do that anymore. During Lent I like to look around at the friendly faces of my companions on the Lenten journey – the saints. They went ahead and wait for me. Their lives of sacrifice and love for neighbor remind me what Lent and, indeed, all the Christian life is about. In my Catholic tradition I ask them to join me in prayer this Lent for myself and my companions on the road of faith.

Back to the question I asked: why not sign a letter, or e-mail, with "Happy Lent?" Why not think of Lent as a happy season, or at least one of joy? How can we say that? Well, read the Scriptures today and hear the Good News God proclaims to us in the Word.

2 Chronicles was written during the period of restoration (around 520-400 B.C.E.) after the disastrous Babylonian exile. The chronicler (an unknown author) advises the community that, if they want to remain a viable faith community, they should keep their communal worship and faith life pure. He warns them that what caused their ruin wasn’t so much the overwhelming power of the Babylonians, as much as the moral decadence of the people. The whole community, including the highest ranking religious leaders, were responsible for the nation’s downfall and the destruction of the Temple. Their religious practice had become "polluted" and so collapse was inevitable.

If the nation had kept its focus on God, the chronicler argues, the 70-year exile in Babylon would not have happened. He wants the people to make sure they remember their past so that they don’t repeat it.

2 Chronicles reminds us in Lent that our worship, prayer and disciplines are not just personal practices. We are a community in repentance for our personal failures, but also those of our church. Of course we are talking here of recent scandals, but also other examples of how our church as a whole and our local faith community in particular, may not have lived up to our gospel call to: feed the hungry, strengthen the hands of the weak, offer sincere worship, practice forgiveness, etc.

So where is the "Happy Lent" message in 2 Chronicles? It’s that when God saw the miserable condition of the people in slavery God rescued them. God even used the pagan king of Persia, Cyrus, to effect that rescue! As someone said, "God can work outside the box to help us." Despite the people’s continual transgressions, "Early and often did the Lord, the God of their ancestors, send his [sic] messengers to them, for God had compassion on his people." God did not give up on the unfaithful people even when they have forgotten their God.

Indeed it is a "Happy Lent" as we are reminded that God has not given up on us, or our church and continues to make loving and merciful gestures towards us. Lent is a time for us to wake up to God’s outreach towards us and to respond by turning back to our God. The prayers and sacrifices we make this Lent can assist us in making that fuller turn in God’s direction.

In ancient mythology the serpent was a sign of healing. The United States Military Medical Corps has as its symbol a serpent entwined on a staff. In the Book of Numbers (21:4-9) the Israelites in the desert had grown weary of the journey and complained against God to Moses and so they were bitten by seraph serpents. For their healing Moses told the people to look on the serpent on the staff which he had raised before them. Those who did were healed.

The people suffered during their long journey in the desert so they turned away from God. Suffering can do that to us – tempt us to give up on God. Or, we might conclude that God is off somewhere "on high" and is not concerned about our "lesser concerns," though they certainly aren’t "lesser" for us! We struggle as we try to make sense of the mystery of suffering for ourselves and others.

Suffering seems to be part of the DNA of our human condition and we don’t always have a choice. But God had a choice. God could have stayed out of the mess and avoided suffering. Our gospel today is one more reminder that our God doesn’t stay aloof and above the pain – because God is a lover. "For God so loved the world…." Lovers feel the pain of the beloved. If someone we love hurts – friend, spouse, child – then we hurt too.

 

God, John tells us, did not send the Son into the world to condemn us, but to save us. Jesus was the faithful child of God who preached the message of God’s love. He practiced that love towards all, even his enemies and outsiders. He welcomed them to his table. He didn’t have to suffer persecution and death on the cross, if he had just stopped preaching God’s love. He could have walked away from suffering – stayed here for a while and then, when the going got rough, leave. But he didn’t quit on us; he stayed the course, even when he saw his death coming. God showed God’s love for us in Jesus’ life and in his dying on the cross. For that is what it means: "For God so loved the world that God gave his only Son."

The cross was a great injustice against Jesus. When we look with awe and reverence on the cross we aren’t celebrating an instrument of execution, but the sum of Jesus’ life and message: not even the horrible threat of death could turn him away from his purpose of revealing God’s love for us.

Lent can help us focus on the world’s suffering. If this is a "Happy Lent" for us it is because we remember that God is with us, especially in our pain and alienation and doesn’t turn away from us. God overcame all the evils we humans could do and raised Jesus up. Like the Israelites in the desert, we too turn our eyes, not to the symbolic serpent on the pole, but to Jesus on the cross. When we look in his direction we experience healing from our sins and the realization of just how much God loves us. In the light of Jesus we see that God’s answer to sin is the offer of life.

What can we do? Stop pitting God against us and blaming God for the world’s pain. Rather, see God changing positions, moving alongside and standing with us. Note too, that Jesus didn’t just do good and avoid evil, but that he challenges us not to shirk our responsibilities to move, as he did, to be with the outcast and those in pain. Like Jesus, we must do good and resist evil – whatever causes suffering. In those places of resistance we will, like Jesus, endure the cross, but there we will also discover him as well.

Fr. Jude Siciliano, OP

 

Thánh giá, nguồn ơn cứu độ của chúng con
CN 4 mùa chay – B  22-03-2009
(2 Sb: 36: 14-17, 19-23; Tv 137; Ephêsô 2: 4-10; Gioan 3: 14-21)

Đối với một số người, nhà thờ là nơi họ đến để lẩn tránh những căng thẳng lo âu hàng ngày, đồng thời tránh những lo lắng của thời thế. Có người lại nói, nhà thờ là nơi hội họp, để cùng cầu nguyện xin Chúa an ủi, và Chúa đang lắng nghe cũng như sẵn sàng chữa lành và thêm sức mạnh cho họ. Thật đấy.

Nhưng mỗi lần đến nhà thờ, chúng ta đều thấy cây Thánh Giá, điều đó nhắc nhở chúng ta rằng: Nơi thờ phượng này không phải là nơi lẩn tránh trần gian, để mọi sự đều được rửa sạch và để cho chúng ta ở trong một thế giới khác, không hề biết đến sự đau khố và các mối xung đột của trần thế. Trái lại, giữa những bức tranh và hình tượng, những khăn bàn thờ ủi sạch, những chén thánh bóng loáng đều có cẩn Thánh Giá, cây Thánh Giá của đau khổ đã kết thúc đời sống trần thế của Chúa Kitô.

Trong khi thờ phượng, chung quanh đầy những cửa gương nhiều màu, ánh nến lung linh, tượng các thánh là các anh hùng đã đi trước chúng ta, đôi khi chúng ta có cảm nhận ở nơi thân thương này, khác với môi trường sống chung quanh chúng ta. Nếu chúng ta đang đau khổ, đang chán nản, đang bị đọa đày, và mong cuộc sống được giải thoát, chúng ta dễ bị cám dỗ cảm thấy như mình không thuộc về nơi đẹp đẽ này, cho đến khi chúng ta nhìn lên Thánh Giá.


Khi chúng ta làm dấu Thánh Giá lúc bước vào nhà thờ tham dự Thánh lễ và lúc ra về, khi chúng ta thấy Thánh Giá dẫn đầu đoàn rước đi vào nhà thờ trước Thánh lễ và đi ra sau lễ, chúng ta nên nhớ là hãy mang đến nhà thờ những đau khổ, những điều thiếu may mắn, và cả những tội lỗi của chúng ta nữa. Vì chính nhờ cây Thánh Giá mà tất cả đời sống của chúng ta đều được đón nhận vào Thánh lễ, nhất là những khi chúng ta bị đau khổ, thất bại và chán nản đến cùng cực.

Cây Thánh Giá là điểm tựa cho chúng ta ở nơi nầy. Nó cho chúng ta biết chắc là Thiên Chúa không phải là Đấng từ trên cao xa đang lạnh lùng nhìn xuống chúng ta, nhưng Ngài là Đấng đang đồng hành với chúng ta ngay từ thuở Ngài ra đời ở Bêthlêhem: Ngài đã là người di cư cùng với cha mẹ, phải chạy trốn một vị vua muốn giết Ngài. Kế đến, Ngài phải sống tha phương nơi xứ lạ; làm nghề mộc sinh sống qua ngày; sống trong một làng nhỏ đang bị ngoại bang đô hộ; Ngài cũng có những bạn bè thân quen; cũng thích ăn uống tiệc tùng; và rồi có người bạn đã thề hứa sẽ luôn ở cận kề Ngài đến cùng, nhưng đến lúc bị các thầy tư tế ruồng bắt trao Ngài cho đồng bọn để xử tử, lại bỏ rơi Ngài cho người ta chế nhạo và hành hạ cho đến chết.

Nếu chúng ta tự hỏi Chúa ở đâu khi đời sống chúng ta quá đổi truân chuyên, hay đang giữa Thánh lễ trọng thể kính thờ Chúa, mà sao chúng ta lại cảm thấy cô đơn. Hãy nhìn lên Thánh Giá, đó chính là nhà của chúng ta. Thập giá là một hình cụ dùng để xử tử, hình cụ này làm cho phạm nhân hoảng sợ đến nổi phải thú nhận tội. Nó còn dùng để xử tử các nô lệ, và những kẻ tạo phản. Nó không được dùng cho công dân của đế quốc La Mã. Thập giá không những là hình cụ tàn khốc để kéo dài cơn hấp hối của tội nhân, mà nó còn làm cho những người đứng nhìn lên cũng phải khiếp đảm. Chúng ta không muốn xem những cảnh bạo lực trên phim ảnh, hay trên truyền hình; nên càng không muốn nhìn thấy cảnh tượng rùng rợn của người bị đóng đinh treo trên thập giá cho đến chết. Thập giá nhắc cho một dân tộc bị đô hộ biết rằng họ có thể bị đánh đập và ném ra ngoài như cỏ rác, nếu bị chính quyền La-Mã kết tội, hay không tuân lệnh trên như Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu làm cho đế quốc sợ vì Ngài nói đến vương quốc Ngài trải rộng không biên giới; một vương quốc mà các công dân đều bình đẳng; một vương triều không có người nhiều đặc quyền đặc lợi và thứ dân hạ đẳng; nơi có những người không thể hòa nhập được, khó trở thành như là thành viên của cộng đoàn; nhưng ở đó, tất cả các thành phần khác nhau đều được tôn trọng; và quyền bính không tập trung vào một số ít người, nhưng tình thương và sự phục vụ sẽ thu hút nhiều thành phần trong các thành viên. Chúa Giêsu gọi đó là Vương Triều Thiên Chúa. Những kẻ nghịch với Ngài thì họ cho đó là chống lại tôn giáo và chính trị của triều đại họ, nên họ muốn đàn áp sự chống đối ấy.

Thánh Kinh cho chúng ta biết Thiên Chúa dùng uy quyền một cách khác: Ngài thương yêu chúng ta, và cho chúng ta thấy tình thương đó mang hình dáng một người phục vụ. "Vì Thiên Chúa đã yêu thế gian..." và Ngài thể hiện những động thái để chứng tỏ lòng Ngài thương yêu chúng ta. Và Ngài cũng không từ chối ngay cả Con yêu dấu của Ngài. Thiên Chúa muốn lời rao giảng và các dụ ngôn về tình yêu thương của Chúa Giêsu trở nên hồng ân cho tất cả mọi người, kể cả những lãnh đạo tôn giáo và chính trị. Nhưng, Chúa Giêsu lại trở nên người đe dọa họ, họ phải ngăn chận và phá tan Tin mừng Ngài mang đến cho thế gian.

Nhưng Chúa Giêsu không muốn thối lui, trái lại, Ngài vẫn giữ Tin mừng Ngài mang đến từ lúc Ngài mới bắt đầu rao giảng như chúng ta nghe hôm nay. Ngài không e ngại những chống đối, đe dọa đến đời sống của Ngài. Thánh Gioan nói, vì yêu chúng ta nên Thiên chúa đã để Chúa Giêsu bị bắt, bị ức hiếp, bị xét xử và chịu án tử hình để tuyên xưng tình thương ấy. Bây giờ, khi nhìn lên Thánh Giá, ai cũng hiểu được ý định Thiên Chúa thương yêu chúng ta dường bao. Từ trên Thánh Giá, Chúa Giêsu tiếp tục nêu cao tình thương của Thiên Chúa đối với tội nhân, khi Ngài tha tội cho người trộm lành bị đóng đinh cạnh Ngài trước mặt những kẻ giết hại Ngài.

Khi cây Thánh Giá đã dựng lên và Chúa Giêsu đã chết, sự dữ và sức mạnh bạo lực có vẻ như thắng thế, và vẫn còn tiếp diễn. Những hy vọng của dân chúng một lần nữa tan biến. Có vẻ như không gì có thể ngăn cản được bạo lực và sự dữ. Dân chúng bị một mảnh lực lôi cuốn họ xuống ngày càng sâu thẳm. Đến lúc cuối đời, họ không còn chút hy vọng nào, khi mọi người đều khiếp sợ trong vô vọng thì Chúa Giêsu hiện ra từ cõi chết. Ngài sống lại và mang đến những lời hứa: ngày hôm nay "ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời"(Ga 3:16)

Chúng ta đang ở giữa mùa chay. Trong mùa ơn thánh này, chúng ta nên nghe đi nghe lại lời Chúa trong Chúa nhật thứ nhất mùa chay "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng"(Mc 1:15). Và chúng ta cố gắng hết sức tuân nghe lời Chúa để lánh xa tội lỗi và trở về theo lời mời gọi của Thiên Chúa qua Đức Kitô. Thánh Phao-lô nhắc chúng ta hôm nay: Nhờ ơn Chúa mà chúng ta được cứu rỗi, chứ không phải bởi ý lực của chúng ta. "Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ"(Ep 2:5). Nếu chúng ta còn băn khoăn gì về thánh ý Chúa trong sự thương yêu chúng ta, hãy nhìn lên Thánh Giá đưa cao dẫn đầu đoàn rước vào thánh lễ hôm nay.

Chuyển ngữ FX Trọng Yên, OP

Lm. Jude Siciliano, OP

 

March 13, 2021