| |
Dù con người yêu tối tăm
hơn ánh sáng,
Nhưng tối tăm vẫn không át được ánh sáng
Vấn đề liên hệ Phúc Âm giữa ba Chúa Nhật 3, 4 và 5 của Chu Kỳ
Phụng Vụ A, B và C
Như
tuần trước đã nhận định, “chúng ta nên lưu ý là, chu kỳ Phụng
Vụ Năm B bao giờ cũng theo Phúc Âm Thánh Ký Marcô. Tuy nhiên,
có lẽ vì Phúc Âm Thánh Ký Marcô hơi ngắn, do đó, trong chu kỳ
phụng vụ Năm B này, Giáo Hội đã phải sử dụng đến một số bài Phúc
Âm của Thánh Gioan xen kẽ, như ở Mùa Vọng có Chúa Nhật Thứ Ba,
ở Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh có Chúa Nhật Thứ 2 (cho cả chu
kỳ năm A và C), ở Mùa Chay sáu tuần có Chúa Nhật Thứ Ba, Tư và
Năm, ở Mùa Phục Sinh Phúc Âm Thánh Gioan được sử dụng hầu hết
cho cả ba chu kỳ, chứ không riêng gì chu kỳ B, trừ Lễ Chúa Giêsu
Thăng Thiên, Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh có Chúa Nhật 17-21,
và Lễ Chúa Kitô Vua (cho cả 3 chu kỳ)”. Tuy nhiên, trong Mùa Chay,
nếu để ý kỹ, chúng ta còn thấy Phúc Âm Thánh Gioan cũng được Giáo
Hội sử dụng cho cả chu kỳ Năm A (Chúa Nhật 3, 4 và 5) và C (Chúa
Nhật 5) nữa.
Ở
chu kỳ Năm A, các bài Phúc Âm của Thánh Gioan cho ba Chúa Nhật
3, 4 và 5 thứ tự như sau: Chúa Giêsu với chị phụ nữ Samaritanô
bên bờ giếng Giacóp, Chúa Giêsu phục quang kẻ mù từ lúc mới sinh,
và Chúa Giêsu hồi sinh Lazarô. Ở chu kỳ Năm B, Phúc Âm Thánh Gioan
cho ba Chúa Nhật 3, 4 và 5 thứ tự như sau: Chúa Giêsu thanh tẩy
đền thờ Giêrusalem, Chúa Giêsu nói chuyện với Nicôđêmô và Chúa
Giêsu cho các môn đệ biết mầu nhiệm tử giá của Người. Ở chu kỳ
Năm C, Phúc Âm Thánh Gioan cho Chúa Nhật thứ 5 về thân phận của
người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, bài phúc âm
của Thánh Gioan này được Giáo Hội chọn đặt sau bài Phúc Âm Thánh
Luca cho Chúa Nhật thứ 4 về dụ ngôn người con hoang đàng, cũng
như sau bài Phúc Ân Thánh Luca cho Chúa Nhật thứ 3 về nhu cầu
cần phải thống hối ở chỗ sinh hoa kết trái như cây vả được chăm
bón, bằng không sẽ chịu hậu quả của nó như những nạn nhân bất
hạnh ở vụ tháp Siloe.
So
sánh những bài Phúc Âm được Giáo Hội cố ý sắp xếp cho 3 Chúa Nhật
3, 4 và 5 Mùa Chay cho cả ba chu kỳ A, B và C trước Chúa Nhật
Thương Khó và Tuần Thánh này, chúng ta có thể thấy được ngầm ý
của Giáo Hội muốn bày tỏ cho con cái mình thấy toàn diện ý nghĩa
Mùa Chay nói riêng và Mầu Nhiệm Cứu Độ nói chung. Ở chu kỳ Năm
A, các bài Phúc Âm theo Thánh Ký Gioan cho chúng ta thấy Mạc Khải
Thần Linh cũng là Mầu Nhiệm Chúa Kitô, ở chỗ, Chúa Giêsu tỏ mình
là Đường qua việc Người ban nước hằng sống Thần Linh cho chung
nhân loại (được tiêu biểu nơi người phụ nữ ngoại lai Samaritanô)
để họ có thể nhận biết Người, là Sự Thật qua phép lạ tiêu biểu
Người phục quang cho một người Do Thái bị mù từ lúc mới sinh,
và là Sự Sống qua phép lạ tiêu biểu Người hồi sinh bạn thân Lazarô
của Người.
Ở
chu kỳ Năm B, các bài Phúc Âm theo Thánh Gioan cho chúng ta thấy
một yếu tố vô cùng quan trọng để đáp lại Mạc Khải Thần Linh, tức
để chấp nhận Mầu Nhiệm Chúa Kitô, những gì các bài Phúc Âm của
chu kỳ Năm A cho thấy, đó là yếu tố Đức Tin Tuân Phục, yếu tố
để được Cứu Độ. Đó là lý do chúng ta thấy cả ba bài Phúc Âm theo
Thánh Gioan cho Chúa Nhật 3, 4 và 5 của chu kỳ Năm B đều đã nhấn
mạnh đến Đức Tin Cứu Độ: Ở bài phúc âm Chúa Nhật 3, dân Do Thái
là thành phần thích xem dấu lạ muốn được cứu độ cần phải tin vào
cuộc phục sinh của đền thờ thân xác Chúa Kitô sẽ bị họ ra tay
triệt hạ, tàn phá; ở bài phúc âm Chúa Nhật 4, thành phần lãnh
đạo dân Do Thái (được tiêu biểu nơi Nicôđêmô là thành viên của
Hội Đồng Do Thái) vốn chuộng tối tăm hơn ánh sáng cần phải tin
vào Đấng Thiên Sai Con Thiên Chúa để được sự sống đời đời; và
ở bài phúc âm Chúa Nhật thứ 5, thành phần môn đệ của Chúa Giêsu,
thành phần chứng nhân của Người nơi các dân nước (là thành phần
được tiêu biểu nơi những người Hy Lạp đã xin các vị cho được gặp
Chúa Giêsu bấy giờ) cần phải chấp nhận Đấng được Thiên Chúa tôn
vinh trên thập giá.
Ở
chu kỳ Năm C, chúng ta thấy những cuộc hội ngộ giữa Mạc Khải Thần
Linh (chiều hướng của các bài Phúc Âm theo Thánh Gioan cho chu
kỳ Năm A) và Đức Tin Tuân Phục (chiều hướng của các bài Phúc Âm
theo Thánh Gioan cho chu kỳ Năm B) gặp nhau. Thật vậy, bài Phúc
Âm Thánh Luca cho Chúa Nhật thứ 3 Mùa Chay Năm C cho thấy, nếu
dân Do Thái thích xem dấu lạ (theo chiều hướng của Phúc Âm năm
B) muốn tin vào Chúa Kitô là Đấng Phục Sinh sẽ làm phép rửa Thánh
Linh (theo chiều hướng của Phúc Âm năm A), thì họ cần phải hoán
cải nội tâm bằng những việc làm cụ thể như cây vả sinh hoa kết
trái (như trong bài Phúc Âm năm C). Bài Phúc Âm Thánh Luca cho
Chúa Nhật thứ 4 Mùa Chay Năm C cho thấy, nếu thành phần lãnh đạo
dân Do Thái chuộng tối tăm hơn ánh sáng (theo chiều hướng của
bài Phúc Âm năm B) muốn chấp nhận Chúa Kitô là Ánh Sáng thế gian
(theo chiều hướng của bài Phúc Âm năm A), họ phải là người con
cả biết cùng cha vui mừng khi thấy em mình là thành phần hoang
đường tội lỗi quay trở về nhà cha (như trong bài Phúc Âm năm C).
Bài Phúc Âm Thánh Gioan cho Chúa Nhật thứ 5 Mùa Chay Năm C cho
thấy, nếu thành phần môn đệ Chúa Kitô biết chấp nhận Đấng được
tôn vinh trên thập giá (theo chiều hướng của bài Phúc Âm năm B),
họ sẽ được Đấng Phục Sinh tái sinh về phần hồn, một việc tái sinh
được tiêu biểu qua việc Người đã hồi sinh như Lazarô (theo chiều
hướng của bài Phúc Âm năm A), nhờ đó, các vị mới có khả năng tái
sinh trong Thần Linh, tức có quyền năng tha tội do Chúa Kitô ban
cho, một quyền năng Người đã thực hiện nơi trường hợp người phụ
nữ bị bắt quiả tang đang phạm tội ngoại tình đưa đến cho Người
xét xử (như trong bài Phúc Âm năm C).
Vấn
đề cứu độ của bài Phúc Âm Chúa Nhật Thứ Tư Mùa Chay Năm B
Riêng
bài Phúc Âm theo Thánh Gioan cho chu kỳ Năm B của Chúa Nhật thứ
4 Mùa Chay, Giáo Hội muốn cho con cái mình thấy, trước hết là
dự án cứu độ của Thiên Chúa, sau nữa là công cuộc cứu độ của Thiên
Chúa, và sau hết là điều kiện duy nhất để được cứu độ. Trước hết,
về dự án cứu độ của Thiên Chúa, bài Phúc Âm đã trình thuật chính
lời Chúa Kitô mạc khải về mầu nhiệm Thiên Chúa yêu thương con
người và muốn cho con người được hiệp thông với Ngài bằng sự sống
trường sinh: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian… để họ được sự
sống trường sinh”. Thế nhưng, để thực hiện dự án cứu độ của mình,
dự án muốn con người được dựng nên theo hình ảnh và tương tự như
mình (x Gen 1:26) có thể hiệp thông với Ngài, có thể được hoan
hưởng Sự Sống Thần Linh vô cùng viên mãn và thiện hảo của Ngài,
bài Phúc Âm cho biết thêm về lời mạc khải hết sức quan trọng của
Chúa Kitô, đó là “Thiên Chúa đã ban Người Con duy nhất của Ngài”
cho thế gian. Tuy nhiên, công cuộc cứu chuộc không phải chỉ có
thế, chỉ ở chỗ “Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta”
(Jn 1:14), mà còn ở chỗ, cũng theo lời mạc khải củaChúa Giêsu
tỏ cho Nicôđêmô, “như Moisen treo con rắn lên trong sa mạc thế
nào, Con Người cũng sẽ bị treo lên như thế”. Đúng thế, công cuộc
cứu độ loài người của Thiên Chúa đây chẳng những ở chỗ Lời Nhập
Thể mà còn ở chỗ Lời Vượt Qua nữa, bởi vì, Thiên Chúa “đã không
dung tha Con một của Ngài song đã phó nộp Người vì tất cả chúng
ta”, Thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại đã cảm nhận như thế (x Rm
8:32). Đó là lý do, cũng trong cùng bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần
này, Chúa Giêsu còn mạc khải cho biết dứt khoát dự án cứu độ của
Thiên Chúa như sau: “Thiên Chúa không sai Con đến thế gian để
luận phạt thế gian, song để thế gian nhờ Người mà được cứu độ”.
Tuy
nhiên, thực tế cho thấy con người bị luận phạt, một tình trạng
không thể nào không xẩy ra vì tự do nơi thành phần được dựng nên
với hồn thiêng bất tử theo hình ảnh Thiên Chúa là Thần Linh và
tương tự như Ngài với ý thức tự do yêu thương. Đó là vấn đề con
người ý thức có nhận biết nhận biết Lời Nhập Thể (x Jn 1:10-11),
có tự do đáp ứng ở chỗ chấp nhận Mạc Khải Thần Linh. Nếu được
Thiên Chúa mạc khải cho biết về (bản thân và ý định của) Ngài
nơi Lời Nhập Thể, Đấng là “ánh sáng thật chiếu soi mọi người đã
đến trong thế gian” (Jn 1:9), con người “lại chuộng tối tăm hơn
ánh sáng”, như lời Chúa Giêsu cho biết trong bài Phúc Âm, thì
tự họ luận phạt bản thân họ: “Ai tin vào Người thì không bị luận
phát, còn ai không tin đã bị luận phạt rồi, bởi không tin vào
danh Con một Thiên Chúa”. Vậy, theo Chúa Giêsu cho biết thì thành
phần không tin vào Người sẽ tự luận phạt bản thân họ như thế nào,
nếu không phải, họ tiếp tục sống trong tăm tối, trong gian dối,
trong lo âu sợ hãi trước sự thật: “Ai hành ác thì sợ ánh sáng;
họ không dám đến gần ánh sáng vì sợ các việc họ làm bị bại lộ”.
Ánh sáng tự bản chất bao giờ cũng tốt, cũng cần cho tất cả mọi
vật, nhất là sinh vật, để sinh động và phát triển, thế nhưng,
nó lại trở thành cực hình cho kẻ bị đau mắt thế nào, thành phần
“chuộng tối tăm hơn ánh sáng” cũng thế. Trong trường hợp của họ,
ánh sáng đã trở thành hình phạt của họ và cho họ, chỉ vì họ không
chịu chấp nhận ánh sáng, không dám phơi mình ra trước ánh sáng.
Như
thế, căn cứ vào chiều hướng của bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta
có thể giải quyết vấn đề tiền định có vẻ và hầu như nan giải như
thế này. Tiền định đây đúng thực có nghĩa là định trước; nhưng
vấn đề định trước đây không phải là định cho người này được lên
thiên đàng người kia phải xuống hỏa ngục, và bởi đó, người bị
tiền định xuống hỏa ngục dù có làm lành mấy cũng không thể lên
thiên đàng, và người được tiền định lên thiên đàng thì dù có tội
lỗi mấy cũng không phải xuống hỏa ngục. Nếu vậy thì Thiên Chúa
đã không xuống thế làm người cứu chuộc tất cả mọi người mà làm
gì: “Thiên Chúa không sai Con đến thế gian để luận phạt thế gian,
song để thế gian nhờ Người mà được cứu độ”. Vấn đề tiền định ở
đây liên quan đến dự án cứu độ của Thiên Chúa thì đúng hơn, dự
án đó, như bài Phúc Âm mạc khải cho biết, là Thiên Chúa yêu thương
con người, muốn con người được hiệp thông sự sống thần linh của
Ngài và với Ngài, nhưng muốn được như vậy, con người cần phải
đáp ứng tình yêu của Ngài, bằng việc tri ân đón nhận những gì
Ngài ban là Chúa Giêsu Kitô, Lời Nhập Thể. Đó là lý do Vị Tông
Đồ Dân Ngoại đã chí lý xác tín là: “Những ai Thiên Chúa biết trước
thì Ngài cũng tiền định cho họ chia sẻ hình ảnh Con Ngài” (Rm
8:29), nghĩa là cũng phải hy sinh phục vụ và chịu khổ nạn mới
được cứu độ. Tóm lại, đối với Thiên Chúa, tiền định là yêu thương,
là ban phát, là cứu độ, còn đối với nhân loại, là đáp ứng, là
tiếp nhận, là tin tưởng; nói chung, tiền định là tất cả những
gì Thiên Chúa muốn ấn định để con người có thể nhờ đó mà được
cứu độ; bởi thế, nếu con người với đầy đủ ý thức và tự do không
chịu chấp nhận những gì được ban cho họ một cách nhưng không,
họ sẽ không thể trách cứ ai được nữa, ngoài việc trách chính bản
thân mình, bằng thái độ “khóc lóc nghiến răng” trong cõi đời đời
(Mt 8:12, 13:42, 22:13, 24:51, 25:30): “Ai tin thì khỏi bị luận
phạt, còn ai không tin thì đã bị luận phạt rồi vậy”.
Vấn
đề tiền định liên quan đến ơn cứu độ
Thế
nhưng, cho dù Thiên Chúa vô cùng toàn hảo không thể nào lại tiền
định cho một ai xuống hỏa ngục đi nữa, Ngài vẫn biết trước ai
sẽ xuống hỏa ngục, vậy thì tại sao Ngài còn dựng nên họ mà làm
gì, để họ phải hư đi đời đời vô cùng khốn nạn như vậy, hóa ra
Ngài không độc ác lắm sao?
Trước
hết, không thể nào phủ nhận được vấn đề Thiên Chúa biết trước
những ai trong loài người được Ngài dựng nên sẽ bị đời đời hư
đi. Phải chăng đó là chén đắng Vị Thiên Chúa Làm Người đã cảm
thấy khó uống trong đêm Vườn Cây Dầu trước giờ tử nạn của Ngài?
Bởi vì, bấy giờ, trong thân phận làm người, Ngài cảm thấy “buồn
sầu đến nỗi chết được” (Mt 26:38), đến toát mồ hôi máu (x Lk 22:44)
nơi thân xác của Ngài, một trạng thái đau thương trong tâm hồn
đã lên đến cực độ! Một đàng Ngài thấy rằng Ngài không thể nào
không ra tay cứu độ con người, dù bằng một giá rất cao, mất hết
phẩm giá của một Vị Thiên Chúa Tối Cao của Ngài, mất cả mạng sống
loài người của Ngài, là tất cả những gì cao quí nhất nơi một Ngôi
Vị mang hai bản tính thần nhân. Thế nhưng, công ơn cứu độ hết
sức đắt giá và nhưng không vô giá của Ngài ấy lại trở thành vô
ích cho một số người, thậm chí còn trở nên án phạt cho thành phần
đời đời hư đi.
Tuy
nhiên, vấn đề ở đây liên quan đến dự án tạo dựng và công cuộc
tạo dựng của Thiên Chúa. Thiên Chúa dựng nên con người để làm
gì và tại sao Thiên Chúa dựng nên họ theo hình ảnh cùng tương
tự như Ngài? Nếu không phải, về dự án tạo dựng, Thiên Chúa muốn
con người nhận biết Ngài để được sống Sự Sống Thần Linh của Ngài
và với Ngài. Và về công cuộc tạo dựng, Thiên Chúa đã dựng nên
con người có tâm linh ý thức và tự do để nhờ đó họ có khả năng
nhận biết và yêu mến Ngài. Đó là lý do Thiên Chúa không thể, đúng
hơn không muốn, dựng nên loài người giống như đất đá, cỏ cây hay
con vật vô tri thức, chẳng biết Đấng Hóa Công là gì. Mà một khi
đã dựng nên con người có ý thức và tự do, Ngài cũng không muốn,
đúng hơn không thể, ép buộc họ phải nhận biết Ngài và yêu mến
Ngài. Tất nhiên, Ngài thực sự muốn tất cả mọi và từng con người
Ngài tạo dựng nên nhận biết và yêu mến Ngài, không phải để Ngài
được thêm vinh quang vốn đã toàn mãn nơi bản thân của Ngài, nơi
nội tâm của Ngài, mà là để họ được hiệp thông và hoan hưởng sự
sống thần linh của Ngài và với Ngài. Thế nhưng, tự mình, về bản
tính tự nhiên, dù có khả năng nhận biết và yêu mến Thiên Chúa,
nhưng nếu không được Thiên Chúa tỏ mình ra cho nơi Lời Nhập Thể
và thông mình ra cho qua Thánh Thần, con người cũng không thể
nào thực sự và hoàn toàn nhận biết và yêu mến Ngài đích thực và
trọn hảo như chính Ngài biết Ngài và yêu Ngài, để có thể hiệp
thông với sự sống nội tâm Ba Ngôi của Ngài. Phải chăng đó chính
là lý do “Lời đã hóa thành nhập thể và ở giữa chúng ta” (Jn 1:14)…,
chẳng những “để tỏ Cha ra” (Jn 1:19) mà còn để “làm phép rửa Thánh
Thần” (Jn 1:33; Lk 3:16; Jn 20:22)?
Thực
tế cho thấy, dù Lời có tỏ cho con người biết Cha và ban cho người
Thần Linh để yêu Cha đi nữa, con người cũng không thể nào biết
Cha như Cha biết mình và yêu Cha như Cha yêu mình, dù ở nơi Đệ
Nhất Tạo Vật của Ngài là Trinh Nữ Maria “đầy ơn phúc” (Lk 1:28)
đi nữa, một mức độ “đầy ơn phúc” với tất cả khả năng hết cỡ nhưng
vẫn có giới hạn của tạo vật. Thật vậy, chỉ có ở nơi chính Lời
Nhập Thể, một Ngôi Vị có hai bản tính, Thiên Chúa mới thực sự
và hoàn toàn biết mình và yêu mình như Ngài là và như Ngài muốn.
Nhân Tính của Chúa Kitô, như thế, đối với Thiên Chúa, hoàn toàn
là phản ảnh Thần Tính của Lời Nhập Thể (x Heb 1:2), và đối với
nhân loại, “là ánh sáng sự sống” (Jn 8:12), một “ánh sáng thật
chiếu soi cho hết mọi người đã đến trong thế gian” (Jn 1:9). Như
thế, dù những kẻ không chấp nhận Lời Nhập Thể, không nhận biết
Chúa Kitô, thì “ánh sáng thế gian” (Jn 8:12) này vẫn không vì
thế mà bị lu mờ đi: “Ánh sáng đã chiếu trong tăm tối song tăm
tối đã không lấn át được ánh sáng” (Jn 1:5). Chính lúc con người
“chuộng tối tăm hơn ánh sáng” và sợ “không dám tới gần ánh sáng”,
như trong bài Phúc Âm Chúa Nhật thứ 4 Mùa Chay Năm B nói đến,
cũng đủ chứng tỏ thực sự có một thứ ánh sáng siêu việt, một thứ
ánh sáng thần linh.
Đó
là lý do, dù con người khi còn sống nhất định phủ nhận thần linh,
chối bỏ lương tâm, triệt hạ chân lý, nhưng cuối cùng họ, ngay
trong giờ chết, nhất là trong cõi đời đời, cùng với thành phần
tà thần là ma qủi, họ vẫn công nhận thực tại Chân Thiện Mỹ tối
thượng là Thiên Chúa, Đấng đã tỏ mình ra nơi Lời Nhập Thể, một
thực tại họ không thể phủ nhận nhưng tiếc thay không được hiệp
thông và hoan hưởng như thành phần kẻ lành. Dầu sao, nếu mục đích
tạo dựng của Thiên Chúa là tỏ mình ra để loài người nói riêng
có thể nhận biết Ngài, thì quả thực Ngài đã đạt được mục đích
ấy của Ngài, dù nơi thành phần hư đi chăng nữa. Vì, qua Lời Nhập
Thể và Vượt Qua, Ánh Sáng Thần Linh đã, đang và sẽ thực sự và
hoàn toàn đánh tan bóng tối vô tri, bóng tối sự chết trên thế
gian, nhất là khi Ngài “canh tân tất cả mọi sự” (Rev 21:5), “để
Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự” (1Cor 15:28), ở chỗ, dù kẻ
lành hay dữ, cuối cùng tất cả đều nhìn nhận “tất cả sự thật” (Jn
16:13) bất biến này: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến bản
Con Một của Ngài… không phải để luận phạt thế gian song để thế
gian nhờ Người mà được sự sống trường sinh”. “Ánh sáng đã chiếu
soi trong tăm tối song tăm tối không át được ánh sáng” (Jn 1:5)
là như thế. Bởi vì, ngay chính nơi Con Người Giêsu Kitô “là phản
ảnh vinh quang Cha” (Heb 1:3), Thiên Chúa đã thực sự và hoàn toàn
được nhận biết và yêu mến như Ngài mong muốn rồi vậy: “Đây là
Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng” (Mt 3:17, 17:5). Và “Danh
Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như
trên trời” đã được trọn vẹn hiện thực nơi Lời Nhập Thể và Vượt
Qua.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
|
|