dongcong.net
 
 


Suy niệm : Trầm Thiên Thu

Vấn Đề Gia Đình

(Chúa Nhật XXVII TN, năm B)

Ai cũng có một gia đình, thế nên chẳng ai lạ gì về gia đình, nhưng để cho “vuông tròn” một gia đình đúng nghĩa thì chắc chắn không là chuyện đơn giản. Vả lại, ngày nay người ta không còn đề cao vai trò gia đình, vì thế mà tỷ lệ ly thân và ly hôn đang ở mức báo động đỏ!

Trong Mười Điều Răn được Thiên Chúa truyền qua ông Mô-sê, có một điều răn nói về gia đình: Điều răn thứ tư. Gia đình như chiếc kiềng ba chân: Cha – Mẹ – Con. Ba “chân” này giúp giữ vững “chiếc kiềng” gia đình, trong đó có hai mối quan hệ chính: Phu thê, Mẫu tử hoặc Phụ tử. Đó là gia đình thuộc dạng “tế bào gốc”, và gia đình còn được hiểu theo dạng “đại gia đình”.

Điều răn này được truyền cho con cái trong mối quan hệ với cha mẹ, vì mối quan hệ này phổ biến nhất. Điều răn này quan tâm hệ lụy thân thuộc giữa các thành viên trong gia đình và dòng tộc. Điều răn này đòi hỏi lòng kính trọng, yêu thương, biết ơn tổ tiên và những người lớn tuổi. Tuy nhiên, điều răn này còn ở mức rộng hơn, đó là đề cập trách nhiệm của học sinh đối với thầy cô giáo, nhân viên đối với chủ nhân, người dưới đối với người trên, công dân đối với tổ quốc và những người lãnh đạo đất nước. Thật đa dạng chứ không như chúng ta tưởng.

Giáo lý Công giáo (số 2199) cho biết: “Điều răn này bao gồm nhiệm vụ của cha mẹ, người hướng dẫn, người dạy dỗ, người lãnh đạo, quan tòa, người lãnh đạo, người có quyền trên người khác hoặc cộng đồng”. Từ hệ lụy gia đình dẫn tới các hệ lụy khác. Gia đình thực sự quan trọng vì mọi sự bắt đầu từ gia đình – đặc biệt là các nhân đức, nhưng sử gia Thomas Fuller (1608-1661, Anh quốc) nói: “Lòng nhân ái bắt đầu từ gia đình, nhưng không nên kết thúc luôn ở đó”.

Trong chuyến Tông du Cuba, ĐGH Phanxicô đã gặp gỡ với các gia đình tại nhà thờ chính tòa Santiago ngày 22-9-2015. Sau khi nghe một bà mẹ trẻ và một người cha của 3 đứa con nói về hy vọng của mình, ngài đã mô tả gia đình là các trung tâm nhân văn và hơi ấm.

ĐGH Phanxicô chia sẻ: “Chúng ta ở đây như một gia đình! Và bất kỳ lúc nào chúng ta đến với nhau như một gia đình, chúng cảm thấy mái ấm. Cảm ơn các gia đình Cuba. Cảm ơn người dân Cuba vì, trong những ngày này, đã cho tôi được cảm nhận là một phần của gia đình, vì cho tôi được cảm nhận mình trong mái ấm. Buổi gặp này như ‘trái cherry trên cái bánh’ vậy. Kết chuyến viếng thăm Cuba của tôi bằng cuộc gặp quy tụ các gia đình là một lý do để tạ ơn Chúa vì ‘hơi ấm’ lan tỏa từ những con người biết chào đón và chấp nhận người khác, cho người đó được thấy mình trong mái ấm”. Thực sự gia đình rất quan trọng, dù nhỏ hay to, dù giàu hay nghèo, thế nên người ta gọi gia đình là “Tổ Ấm”, và gia đình là “tế bào gốc” của xã hội và Giáo hội. Khi mặc xác phàm, chính Chúa Giêsu cũng có một gia đình, và Ngài rất yêu quý gia đình.

Gia đình liên quan hôn nhân. Bắt đầu một gia đình là bắt đầu đời sống hôn nhân chân chính. Sau khi tạo dựng con người đầu tiên trên thế gian là Adam, Thiên Chúa xác nhận: “Con người ở một mình thì không tốt” (St 2:18a). Vì thế, Ngài quyết định: “Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (St 2:18b).

St 2:19-22 cho biết rằng Thiên Chúa lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời, và dẫn đến với con người, xem con người gọi chúng là gì: hễ con người gọi mỗi sinh vật là gì, tên nó sẽ là thế. Con người được Thiên Chúa trao quyền đặt tên cho mọi súc vật, mọi chim trời và mọi dã thú, nhưng con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng. Thiên Chúa đã biết trước “nỗi niềm” của con người như vậy, Ngài biết con người sẽ “khắc khoải” vì cảm thấy trống vắng, thiếu thốn tình cảm. Và rồi Ngài cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Lúc đó, Ngài rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người.

Nhìn thấy “sinh vật lạ”, vừa giống mình mà lại vừa khác mình, chắc là lúc đó con người bối rối lắm. Chuyện đời là thế mà. Nam châm khác dấu thì hút nhau dữ lắm nghen! Con người khoái chí nên nói: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra” (St 2:23). Việt ngữ gọi “” đó là em, là phụ nữ, là nội tướng. Và Kinh Thánh đã nói rõ: “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2:24). Hay quá sức! Vì là xương thịt của nhau nên vợ chồng vẫn gọi nhau là “mình ơi!”. Độc đáo quá chừng!

Đó mới chỉ là bước khởi đầu tạo lập một gia đình. Ngày cưới là ngày hạnh phúc nhất, nụ cười tươi nhất, y phục đẹp nhất, thế nhưng vấn đề quan trọng là những ngày tháng tiếp theo, không chỉ vài tháng hoặc vài năm, mà kéo dài cả phần đời còn lại, trong khi vốn dĩ “đời là bể khổ”. Vợ chồng còn có thể cười với nhau và cười với người khác hay không thì mới là vấn đề!

Giữa năm 2015, có một phiên tòa ly hôn kỳ lạ và hy hữu tại Đăk Mil, Đăk Nông. Phiên tòa này phân xử chuyện ly hôn của hai vợ chồng Đặng Văn Đó (sn 1985) và Phạm Thị Lụa (sn 1987), người dân ở Đăk Rla (Đăk Mil, Đăk Nông) qá đỗi bất ngờ. Tại sao? Đôi uyên ương ấy đã từng yêu nhau tới gần 5 năm, cố gắng vượt qua sự ngăn cấm của hai bên gia đình để có thể được ở bên nhau. Thế nhưng, ở với nhau chưa có “ấm hơi” mà đã vội dẫn nhau ra tòa ly dị. Nguyên nhân của sự việc đáng buồn này là việc tranh giành giữ của hồi môn và thùng tiền cưới, mâu thuẫn xảy ra ngay trong đêm tân hôn chỉ vì… tiền. Thật tồi tệ!

Nam nữ đến với nhau vì hạnh phúc của nhau – vừa vị kỷ vừa vị tha, vì hạnh phúc của chính mình và của người bạn đời. Tuy nhiên, hạnh phúc không thể tự dưng mà có hoặc “ngẫu nhiên” như trái sung rụng, mà nó phải được vun xới bằng hy sinh, mồ hôi và nước mắt. Cây cảnh chỉ có thể tươi đẹp nếu nó được chăm sóc, vun tưới. Hạnh phúc thật kỳ diệu, hạnh phúc ở ngay bên chúng ta chứ không cần tìm kiếm ở nơi nào xa lắc xa lơ: “Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ Chúa, ăn ở theo đường lối của Người. Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng, bạn quả là lắm phúc nhiều may!” (Tv 128:2). Hạnh phúc vô hình mà thực tế, đừng ảo tưởng mà đứng núi này trông núi kia!

Sự thật rất minh nhiên, không hề mơ hồ chút nào: “Hiền thê bạn trong cửa trong nhà khác nào cây nho đầy hoa trái; và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn. Đó chính là phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người” (Tv 128:3-4). Ước mơ đó là của bất kỳ ai, nhưng khó là mỗi thành viên trong gia đình đều phải cố gắng để có thể biến ước mơ đó thành sự thật ngay tại trần gian này. Tác giả Thánh Vịnh cầu chúc cho mọi người: “Xin Chúa từ Sion xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc. Ước chi trong suốt cả cuộc đời bạn được thấy Giêrusalem phồn thịnh, được sống lâu bên đàn con cháu” (Tv 128:5-6).

Quả thật, có được hạnh phúc gia đình không phải dễ, chúng ta sẽ chẳng làm nên trò trống gì nếu thiếu ơn Chúa. Có ơn Chúa, chúng ta có biết đón nhận hay không lại là chuyện khác. Chúa Giêsu đã từng cầu nguyện cho chúng ta: “Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật” (Ga 17:17). Sự thật sẽ tạo nên hạnh phúc gia đình, vì chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta (x. Ga 8:32).

Trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ vừa qua (cuối tháng 9-2015), ĐGH Phanxicô được mời phát biểu tại phiên họp Quốc Hội Hoa Kỳ. Trong diễn văn này, ngài đã gọi Hoa Kỳ là “vùng đất của tự do và ngôi nhà của người can đảm”. Ngài đề cập vấn đề duy trì phẩm giá con người, bảo vệ môi trường, và kêu gọi chú ý đến các thành viên gia đình – đặc biệt là những người trẻ. Con người và môi trường có liên quan với nhau – môi trường thiên nhiên, môi trường gia đình và môi trường tâm linh.

Trong gia đình, vai trò cha mẹ rất quan trọng. Ước gì mỗi cha mẹ đều biết tâm nguyện sâu sắc điều này: “Chuẩn bị cho Thiên Chúa một dân tộc hoàn hảo – Parare Domino plebem perfectam”. Đó là một cách truyền giáo tích cực, là tân Phúc Âm hóa thực tế, là làm cho “Danh Cha cả sáng và Nước Cha trị đến” – không cần phải làm gì to lớn.

Làm cho gia đình hạnh phúc bằng những tiếng cười thì chắc chắn được Thiên Chúa chúc lành và hứa ban Nước Trời mai sau. Cố gắng chu toàn bổn phận hằng ngày cũng là cách “tử đạo liên lỉ”. Coi vậy chứ không dễ đâu đấy! Thánh Phaolô cho biết: “Con người đã bị thua kém các thiên thần trong một thời gian ngắn, chúng ta lại thấy được Thiên Chúa ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, bởi vì đã cam chịu tử hình. Con người đó, chính là Đức Giêsu. Thật vậy, Đức Giêsu đã phải nếm sự chết, là để cho mọi người được cứu độ, nhờ ơn Thiên Chúa” (Dt 2:9).

Gia đình nhỏ có hạnh phúc thì gia đình lớn mới có hạnh phúc. Tất cả chúng ta, không phân biệt bất cứ điều gì, đều là thành viên của Đại Gia Đình của Thiên Chúa. Gia đình nhỏ cần có hạnh phúc để vui sống và phát triển, gia đình lớn cũng vậy. Thánh Phaolô xác định: “Quả thế, Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích mọi loài, chính vì muốn đưa muôn vàn con cái đến vinh quang, nên Người đã làm một việc thích đáng, là cho Đức Giêsu trải qua gian khổ mà trở thành vị lãnh đạo thập toàn, dẫn đưa họ tới nguồn ơn cứu độ. Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giêsu, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là anh em“” (Dt 2:10-11). Chúng ta chỉ là tội nhân mà được Thiên Chúa nhận là huynh đệ thì quả là trên cả tuyệt vời rồi!

Nói đến gia đình là nói đến hạnh phúc, gọi là tổ ấm, nhưng gia đình không có hạnh phúc thì hóa thành tổ lạnh, là bất hạnh. Hạnh phúc gia đình thiếu vắng sẽ dẫn đến cảnh vợ chồng ly thân hoặc ly hôn. Dạng “ly” nào cũng là “chia ly”, dạng nào cũng tệ hại vì gây bất hạnh cho con cái – và chính cả hai vợ chồng!

Theo trình thuật Mc 10:2-12, một hôm có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giêsu và hỏi người chồng có được phép rẫy vợ hay không. Họ hỏi thế là để thử Ngài thôi, tâm địa của họ thế nào thì còn ai lạ gì nữa! Chúa Giêsu “đi guốc” trong bụng họ nên Ngài trả lời họ bằng một câu hỏi: “Thế ông Môsê đã truyền dạy các ông điều gì?”. Họ nói rằng ông Môsê đã cho phép chồng viết giấy ly dị mà rẫy vợ. Ngài nói với họ: “Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê mới viết điều răn đó cho các ông. Còn lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”.

Ca dao Việt Nam rất chí lý khi đưa ra nhận định về tình yêu thương trong mối quan hệ phu thê: “Yêu nhau trăm sự chẳng nề, Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”.

Cách “kê” rất quan trọng. Vợ chồng là hai con người hoàn toàn khác nhau về mọi thứ, cái mà người ta gọi là “giống nhau” hoặc “hợp nhau” cũng chỉ mang tính tương đối. Không bao giờ có hai chiếc lá giống nhau, chắc chắn cũng chẳng bao giờ có hai con người giống nhau. Dù chỉ là giống về bề ngoài, hai người sinh đôi cũng vẫn có điểm khác để có thể nhận biết ai là anh (chị) và ai là em. Với người Công giáo, cách “kê” tuyệt vời nhất là tha thứ.

Hôn nhân là một ơn gọi. Vợ chồng được mời gọi diễn tả tình yêu phối ngẫu qua 3 chữ T: Thân mật, Thủy chung và Thanh tịnh (khiết tịnh). Với 3 chữ T đó, cả vợ và chồng đều phải tự nhủ: “Tôi Trung Thành”. Đó không chỉ là lời hứa với nhau mà chính là hứa với Thiên Chúa.

Những người đã lập gia đình, hãy cố gắng sống “tương kính như tân”, và đừng quên rằng chính mình đã long trọng thề hứa với nhau trước mặt vị đại diện Giáo hội và toàn thể cộng đoàn Dân Chúa: “Anh/em nhận em/anh làm vợ/chồng, và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em/anh, khi thịnh vượng cũng như lúc gian lao, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em/anh mọi ngày suốt đời anh/em”.

Lời hứa đó không là hứa cho vui, hứa cho xong lần, hứa cho đủ nghi thức, nhưng là lời hứa có tính chất “thề” (thề “độc” chứ không thề thường đâu). Mà lời thề thì không ai “giải” được, vì đó là lời thề với Thiên Chúa!

Khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Ngài về điều ấy. Ngài nói: “Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác thì cũng phạm tội ngoại tình” (Mc 10:11-12). Hệ lụy tội lỗi thật đáng sợ! Tất cả các “cấu trúc tội” có căn nguyên trong trách nhiệm của tội cá nhân. Có “chiều kích xã hội” vì nó nằm trong cách thức chúng ta có thể phạm tội. Chúng ta có thể phạm tội không chỉ là hành động trực tiếp của mình, mà còn gián tiếp liên lụy các tội lỗi do người khác phạm trực tiếp. Đó là sự liên lụy tội lỗi.

Lạy Thiên Chúa, Nguồn Mạch Yêu Thương, xin giúp chúng con biết nhận thức đúng đán về giá trị gia đình, nhờ đó mà chúng con có thể tuân giữ Thánh Luật của Ngài, đó là biết tích cực bảo vệ gia đình, bảo vệ nhân phẩm con người và duy trì luân lý. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

Bài Toán Lạ
(Chúa nhật XXVII TN, năm B)

Chắc hẳn bài-toán-hôn-nhân là bài toán “lạ” nhất, đơn giản nhất, khó giải nhất, và cũng ngược đời nhất: 1 + 1 = 1, thế nhưng bài toán này vẫn hoàn toàn đúng: “Người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt” (Mt 19:5). Hôn nhân Công giáo có “đặc điểm” khác hẳn các hôn nhân khác nhờ hôn luật thánh: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19:6).

Từ thuở hồng hoang, sau khi tạo dựng con người, Đức Chúa là Thiên Chúa đã phán: “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (St 2:18). Một cách quan phòng và tiền định kỳ diệu của Thiên Chúa. Điều đó cho thấy tiền đồ của Ngài là muốn con người sống hài hòa với nhau, liên kết với nhau, cùng chia sẻ vui buồn và tận hưởng hạnh phúc.

Và rồi Ngài “lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời, và dẫn đến với con người, xem con người gọi chúng là gì: hễ con người gọi mỗi sinh vật là gì, thì tên nó sẽ là thế” (St 2:19). Thiên Chúa tạo dựng muôn loài, nhưng Ngài muốn con người “góp công” nên cho con người quyền đặt tên mọi loài, chứng tỏ con người có giá trị. Hạnh phúc quá! Tuy nhiên, sau khi “con người đặt tên cho mọi súc vật, mọi chim trời và mọi dã thú, nhưng con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng” (St 2:10). Vì thế, Ngài “cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi, rồi Ngài rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào” (St 2:21). Nghe kể việc Chúa làm thật là chuyện lạ, ngày nay người ta thấy vậy sẽ cho là “ma thuật”, nhưng không, hoàn toàn đó là quyền năng vô song của Thiên Chúa, và chỉ một mình Ngài làm được như vậy!

Sau đó, Ngài lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra – ý nói “con người” ở đây là “đàn ông”, Ngài làm thành một “sinh vật lạ”, và dẫn đến với con người. Thấy vậy, con người nói: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra” (St 2:23). Bởi thế, “người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2:24).

Có những đàn ông “tự đề cao” mình và “lý luận” rằng Thiên Chúa dựng nên đàn ông trước, đàn bà là “sản phẩm” của đàn ông, là cấp dưới nên phải “lệ thuộc” đàn ông. Thậm chí người ta còn quan niệm là “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một trai kể là có, mười nữ coi như không). Lối suy nghĩ thật là ấu trĩ, thiển cận, nông cạn và kiêu ngạo! Càng nói càng lòi cái… ngu, ngu kinh niên. Tại sao?

Nhóm Xa-đốc gồm những người không tin có sự sống lại, họ hỏi Chúa Giêsu để “gài bẫy” Ngài về chuyện bảy anh em trai, lần lượt mỗi người đều cưới cùng một cô vợ, vì luật Mô-sê nói rằng anh lấy vợ mà chết trước khi có con thì chú em phải cưới chị dâu làm vợ. Cả bảy anh em đều cưới cô ta mà không có con. Hết thuốc chữa! Nhóm Xa-đốc hỏi Chúa Giêsu rằng khi sống lại thì cô ta sẽ là vợ của người nào trong bảy anh em kia. Bọn họ chắc mẩm Chúa Giêsu sẽ “bó tay”. Nhưng Chúa Giêsu thản nhiên và nói chắc hơn hàn xì: “Các ông lầm, vì không biết Kinh Thánh, cũng chẳng biết quyền năng Thiên Chúa. Quả thế, trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời” (Mt 22:29-30; Mc 12:24-25; Lc 20:34-36). Hố to! Đã vậy họ còn bị Chúa Giêsu trách là “lầm” và chê là “ngu dốt”, chẳng biết Kinh thánh chứ nói chi biết đến quyền năng Thiên Chúa.

Thời kỳ sáng thế cũng vậy thôi. Chúa dựng nên con người tốt lành, không hề có khái niệm nam, nữ, hoặc đồng giới. Thế nên người ta vô tư mà “ở mát”: “Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau” (St 2:25). Chỉ sau khi phạm tội, con người mới nhận ra mình trần truồng và xấu hổ nên muốn… độn thổ! Bởi vì “bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân” (St 3:7).

Nam và nữ “thu hút” nhau như hai cực nam châm trái dấu, nhờ đó mà phát sinh tình yêu, tình yêu dẫn đến hôn nhân. Hôn nhân là liên kết để tạo một gia đình mới – tế bào cơ bản của xã hội. Hôn nhân đòi buộc sự chung thủy một vợ, một chồng, có vậy mới không sinh những hệ lụy rắc rối khác. Ca dao Việt Nam có nhiều câu nói về sự chung thủy trong tình yêu và hôn nhân, chẳng hạn:

Bao giờ cạn nước Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền

Sự chung thủy ấy được thể hiện qua lời tâm sự của người vợ:

Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam

Sự chung thủy ấy cũng được thể hiện qua lời tâm sự của người chồng:

Tay cầm quyển sách bìa vàng
Sách bao nhiêu chữ, thương nàng bấy nhiêu

Chung thủy là “chén nước được giữ thăng bằng”, không hề sóng sánh. Luật chung thủy không chỉ “bắt buộc” ở người vợ mà cả ở người chồng. Vì khi hai người cùng nhau cử hành bí tích hôn phối trước mặt vị đại diện Giáo hội và cộng đoàn Dân Chúa, ai cũng vui vẻ thề hứa công khai: “Anh (em) nhận em (anh) làm vợ (chồng), và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em (anh), khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em (anh) mọi ngày suốt đời anh (em)”. Vậy đó, “mình với ta tuy hai mà một”, vì thế mà không ai lại tự “xẻ” mình ra!

Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn. Hôn nhân là một ơn gọi và là bí tích, hôn nhân Công giáo là hôn nhân thánh. Tác giả Thánh vịnh chúc mừng: “Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ Chúa, ăn ở theo đường lối của Người. Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng, bạn quả là lắm phúc nhiều may. Hiền thê bạn trong cửa trong nhà khác nào cây nho đầy hoa trái; và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn” (Tv 128:1-3). Hôn nhân là hành trình đầy trọng trách và gian khó, nhưng bù lại cũng nhiều niềm vui, có thể nói rằng hôn nhân là “nỗi đau ngọt ngào”. Đó là niềm hạnh phúc độc đáo trong hôn nhân! Thật vậy, trầu cau xanh kết hợp với vôi trắng tạo nên nước đỏ tươi và vị cay cay, chính vị cay đó khiến người ta nghiện ăn trầu.

Và niềm hạnh phúc đó chính là “phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người” (Tv 128:4). Một lần nữa, tác giả Thánh vịnh cầu chúc cho những người sống đời hôn nhân: “Xin Chúa từ Sion xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc. Ước chi trong suốt cả cuộc đời bạn được thấy Giêrusalem phồn thịnh, được sống lâu bên đàn con cháu. Nguyện chúc Ít-ra-en vui hưởng thái bình” (Tv 128:5-6).

Thánh Phaolô phân tích: “Con người đã bị thua kém các thiên thần trong một thời gian ngắn, thì chúng ta lại thấy được Thiên Chúa ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, bởi vì đã cam chịu tử hình. Con người đó, chính là Đức Giêsu” (Dt 2:9a). Thật vậy, “Đức Giêsu đã phải nếm sự chết, là để cho mọi người được cứu độ, nhờ ơn Thiên Chúa” (Dt 2:9b). Thánh Phaolô nói rạch ròi: “Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích mọi loài, chính vì muốn đưa muôn vàn con cái đến vinh quang, nên Người đã làm một việc thích đáng, là cho Đức Giêsu trải qua gian khổ mà trở thành vị lãnh đạo thập toàn, dẫn đưa họ tới nguồn ơn cứu độ” (Dt 2:10).

Thiên Chúa là Đấng chí nhân, Ngài không muốn ai phải hư mất, mà chỉ muốn tất cả chúng ta cũng được hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc với Ngài. Đó là Tình Yêu Chúa, đó là Lòng Chúa Thương Xót. Đấng thánh hoá là Đức Giêsu, “những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc” (Dt 2:11), vì thế, Ngài đã không hề hổ thẹn gọi chúng ta là huynh đệ – dù chúng ta quá khốn nạn, xấu xa và tội lỗi. Thật là hạnh phúc cho chúng ta, vì chúng ta từ “không” mà biến thành “có”!

Mục đích của hôn nhân không chỉ là sinh con đẻ cái theo lệnh Chúa: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất” (St 1:28). Mục đích của hôn nhân còn là giúp nhau nên thánh: “Hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48).

(Mc 10:2-16)

Một hôm, có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giêsu và hỏi: “Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không?” (Mc 10:2). Họ chẳng tốt lành gì, hỏi han cho ra vẻ thân thiện chứ thực tế họ muốn thử Ngài, muốn “gài bẫy” Ngài. Nhưng Ngài thản nhiên: “Thế ông Môsê đã truyền dạy các ông điều gì?” (Mc 10:3). Họ ra chiều vẫn “vô tư” khi trả lời: “Ông Môsê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ” (Mc 10:4). Đức Giêsu chơi liên khúc với họ: “Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Mô-sê mới viết điều răn đó cho các ông. Còn lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mc 10:5-8). Và Ngài quả quyết: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10:9). Đúng là họ “dốt đặc cán mai” mà vẫn muốn tỏ ra thông thái, ngu truyền kiếp mà tưởng mình thông minh. Gậy ông đập lưng ông. Bọn họ đành ngậm bồ hòn mà “câm như hến”!

Ngay cả các môn đệ cũng lơ ngơ như bị “chạm mạch”, thế nên khi về đến nhà, các ông lại hỏi Ngài về điều ấy. Người nói: “Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình” (Mc 10:11-12). Quá rõ, không phân biệt nam hay nữ chi cả. Ai làm sai là phạm tội.

Lúc đó, người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giêsu để Ngài đặt tay trên chúng. Nhưng các môn đệ la rầy chúng. Thấy vậy, Ngài bực mình nói với các ông: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng” (Mc 10:14). Thấy các đệ tử mình theo mình mà chẳng giống mình, thế nên, dù Ngài rất nhân từ và hiền lành mà còn phải “nổi nóng” thì hẳn là chuyện không vừa, chắc chắn các môn đệ phải xua đổi các trẻ em dữ lắm. Và rồi Ngài nhấn mạnh: “Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào” (Mc 10:15). Thánh Mátthêu còn kể rõ: “Ngài ÔM lấy các trẻ em và đặt tay CHÚC LÀNH cho chúng” (Mt 10:16).

Lại một Bài Toán Lạ nữa đối với tất cả chúng ta về “bí quyết” để làm công dân Nước Trời!

Lạy Thiên Chúa là Đấng Trung Tín, xin giúp những người sống đời hôn nhân luôn sống trung thành với lời hứa yêu thương, biết yêu quý trẻ em và học ở chúng bài học đơn sơ, đặc biệt là giúp chúng con luôn sống trung thành với Ngài trong mọi hoàn cảnh. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

PHÉP TÍNH KỲ DIỆU

Trong toán học có nhiều phép tính, cơ bản nhất là bốn phép tính: Cộng – Trừ – Nhân – Chia. Cuộc sống đời thường có nhiều thứ phải tính toán, từ đơn giản đến phức tạp. Có những bài toán có thể tìm ra đáp số, nhưng có những bài toán không thể tìm ra đáp số, và có những phương trình vô nghiệm.

Chắc hẳn mỗi chúng ta cũng đã từng có những lúc bối rối, không biết tính thế nào cho hợp lý, càng khó hơn khi đó là vấn đề hệ trọng. Một trong các vấn đề nan giải và liên quan cả đời là hôn nhân. Thế nên cụ Nguyễn Du đã khuyên: “Trăm năm tính cuộc vuông tròn – Phải dò cho tới ngọn nguồn lạch, sông” (Truyện Kiều, câu 1331-1332). Quả thật, không hề đơn giản như người ta tưởng!
Có những cách tính lạ, độc đáo. Có khi rất đơn giản mà không nghĩ ra. Tuy nhiên, thiết tưởng rằng chắc chắn không có cách tính nào kỳ diệu bằng Bài-Toán-Hôn-Nhân-Công-Giáo, đơn giản nhất mà lại khó giải nhất, và cũng ngược đời nhất: 1 + 1 = 1, vậy mà bài toán này vẫn hoàn toàn đúng: “Người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt” (Mt 19:5). Hôn nhân Công giáo có “đặc điểm” khác hẳn các hôn nhân khác nhờ Hôn Luật Thánh: “Sự gì Thiên Chúa ĐÃ phối hợp, loài người KHÔNG ĐƯỢC phân ly” (Mt 19:6; Mc 10:9). Người đời cũng vẫn công nhận đó thôi: “Mình với ta tuy hai mà một – Ta với mình tuy một mà hai”.
Hôn nhân là chuyện cả đời nên cần thấu đáo mới khả dĩ tạo nền móng bền vững. Cái gì có BỀN thì mới VỮNG được, nếu không thì sẽ có lúc rạn nứt rồi đổ vỡ – chẳng chóng thì chày.
Ngay từ thuở khai thiên lập địa, sau khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã xác định: “Con người ở một mình không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (St 2:18). Một cách quan phòng và tiền định kỳ diệu của Đấng Tạo Hóa – Thiên Chúa duy nhất. Điều đó cho thấy tiền đồ của Ngài là muốn con người sống hài hòa với nhau, liên kết với nhau, cùng chia sẻ vui buồn và đồng hưởng sự ngọt ngào của vị hạnh phúc. Ngài biết hai phái sống với nhau sẽ sinh nhiều chuyện, khổ lắm, thế nên Ngài tạo niềm vui để cân bằng cuộc sống hôn nhân của họ.
Trong quá trình sáng tạo, Ngài “lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời, và dẫn đến với con người, xem con người gọi chúng là gì: hễ con người gọi mỗi sinh vật là gì thì tên nó sẽ là thế” (St 2:19). Ngài tạo dựng muôn loài, nhưng Ngài muốn con người “góp công” nên cho con người được quyền đặt tên mọi loài, chứng tỏ con người có giá trị trong cách nhìn của Ngài. Thật là diễm phúc biết bao! Rồi sau khi “con người đặt tên cho mọi súc vật, mọi chim trời và mọi dã thú, nhưng con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng” (St 2:10). Vì thế, Ngài “cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi, rồi Ngài rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào” (St 2:21). Nghe trình thuật về việc Chúa làm thì thấy thật kỳ lạ, ngày nay người ta thấy vậy sẽ cho đó là “ma thuật”, nhưng không, hoàn toàn là quyền năng vô song của Thiên Chúa, và CHỈ MỘT MÌNH NGÀI LÀM ĐƯỢC NHƯ VẬY mà thôi!
Ngay sau đó, Ngài lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra – ý nói “con người” ở đây là “đàn ông”, Ngài làm thành một “sinh vật lạ”, và dẫn đến với con người. Thấy vậy, con người nói: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra” (St 2:23). Bởi thế, “người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2:24). Ôi, “sinh vật lạ” sao mà đẹp quá, ngày nay gọi là mỹ nhận, thế nên chàng Ađam “lé mắt” luôn, và rồi cũng sẽ… “chết chắc”!
Có lẽ từ “câu chuyện” trong Kinh Thánh như vậy nên phe đàn ông thường “tự đề cao” mà “lý luận” rằng Thiên Chúa dựng nên nam giới trước, nữ giới chỉ là “sản phẩm” của nam giới, là “cấp dưới” nên phải chịu “lệ thuộc”. Cách nghĩ và quan niệm như vậy thật khủng khiếp. Thậm chí người ta còn cho rằng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một trai kể là có, mười nữ coi như không). Lối suy nghĩ thật là ấu trĩ, thiển cận, nông cạn và kiêu ngạo! Càng nói càng lòi cái… ngu, ngu kinh niên. Tại sao? Vì cái gì cũng có tính liên đới.
Như chúng ta đã biết, Nhóm Xa-đốc gồm những người không tin có sự sống lại. Một hôm, họ hỏi Chúa Giêsu để “gài bẫy” Ngài về chuyện bảy anh em trai, lần lượt mỗi người đều cưới cùng một cô vợ, vì luật Mô-sê nói rằng anh lấy vợ mà chết trước khi có con thì chú em phải cưới chị dâu làm vợ. Cả bảy anh em đều cưới cô ta mà không có đứa con nào. Hết thuốc chữa! Nhóm Xa-đốc hỏi Chúa Giêsu rằng khi sống lại thì cô nàng sẽ là vợ của người nào trong bảy anh em kia. Chắc là lúc đó họ cười thầm vì Chúa Giêsu phải “bó tay” thôi. Thế nhưng Chúa Giêsu thản nhiên và nói chắc hơn hàn xì: “Các ông lầm, vì không biết Kinh Thánh, cũng chẳng biết quyền năng Thiên Chúa. Quả thế, trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời” (Mt 22:29-30; Mc 12:24-25; Lc 20:34-36). Hố to! Đã vậy họ còn bị Chúa Giêsu trách là “lầm” và chê là “ngu dốt”, chẳng biết Kinh thánh, chứ nói chi biết đến quyền năng của Thiên Chúa – Đấng tạo dựng mọi sự, vô hình và hữu hình. Đúng là họ lộ cái ngu thấy rõ luôn. Không nói thì chẳng ai biết mình ngu, càng nói càng tự thú “lạy ông, tôi ở bụi ngu” đây này!
Sự đời vẫn thế, ngày nay gọi là “ngu mà chảnh”. Thời kỳ sáng thế cũng vậy thôi. Chúa dựng nên con người tốt lành, không hề có khái niệm nam, nữ, hoặc đồng giới. Thế nên người ta thoải mái “ở mát” rất vô tư: “Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau” (St 2:25). Chỉ sau khi đã phạm tội, con người mới nhận ra mình trần truồng và xấu hổ với nhau, muốn… độn thổ mà không được. Sao vậy? Chính tội lỗi làm cho “mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng”, và rồi “họ kết lá vả làm khố che thân” (St 3:7).
Như hai cực nam châm trái dấu, nam và nữ cũng có “sức thu hút” lẫn nhau, nhờ đó mà phát sinh tình yêu, tình yêu dẫn đến hôn nhân. Hôn nhân là “sợi” liên kết tạo nên một gia đình mới – tế bào cơ bản của xã hội. Tế bào gốc nhỏ bé nhưng rất quan trọng trong chuỗi AND trong con người, gia đình cũng vậy. Để có nền tảng gia đình vững chắc, phải có hôn nhân tốt lành, đòi buộc sự chung thủy một vợ và một chồng, có vậy mới không sinh những hệ lụy rắc rối khác. Ca dao Việt Nam có nhiều câu nói về sự chung thủy trong tình yêu và hôn nhân, chẳng hạn câu phổ biến này:
Bao giờ cạn nước Đồng Nai,
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền.
Làm sao mà phai được chứ? Không thể. Sự chung thủy không là bổn phận của riêng ai. Và sự chung thủy ấy được thể hiện qua lời tâm sự của người vợ dành trọn trái tim yêu thương cho người chồng:
Đi đâu cho thiếp theo cùng,
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.
Thế thì thật tốt. Nàng đã vậy, còn chàng thì sao? Sự chung thủy ấy cũng phải được người chồng thể hiện triệt để, như lời tâm sự của người chồng ngày xưa:
Tay cầm quyển sách bìa vàng,
Sách bao nhiêu chữ, thương nàng bấy nhiêu.
Tình thương thành thật thì tuyệt! Chung thủy là “chén nước được giữ thăng bằng”, không hề sóng sánh. Luật chung thủy phải được cả đôi bên tôn trọng suốt đời. Thật vậy, khi hai người cùng nhau cử hành bí tích hôn phối trước mặt vị đại diện Giáo hội và cộng đoàn Dân Chúa, họ đã vui vẻ thề hứa công khai: “Anh (em) nhận em (anh) làm vợ (chồng), và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em (anh), khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em (anh) mọi ngày suốt đời anh (em)”. Vậy đó, “mình với ta tuy hai mà một”, vì thế mà không ai có thể “xẻ” mình ra được – chỉ có người điên khùng mới làm vậy!
Tiền nhân đã xác định: “Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn”. Thuận nhau không có nghĩa là giống nhau hoàn toàn, mà là nhường nhịn nhau, chấp nhận và cảm thông sự khác nhau. “Một nhịn, chín lành” là thế, “kê cho bằng trăm chỗ lệch” là vậy. Đặc biệt hơn, hôn nhân Công giáo là một ơn gọi và là bí tích, hôn nhân Công giáo là hôn nhân thánh.
Ngày xưa, Thánh Vịnh gia đã hân hoan chúc mừng: “Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ Chúa, ăn ở theo đường lối của Người. Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng, bạn quả là lắm phúc nhiều may. Hiền thê bạn trong cửa trong nhà khác nào cây nho đầy hoa trái; và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn” (Tv 128:1-3). Hôn nhân là hành trình đầy trọng trách và gian khó, nhưng bù lại cũng nhiều niềm vui, có thể nói rằng hôn nhân là “nỗi đau ngọt ngào”. Đó là niềm hạnh phúc độc đáo trong hôn nhân! Thật vậy, trầu cau xanh kết hợp với vôi trắng tạo nên nước đỏ tươi và vị cay, chính vị cay đó là “chất gây nghiện” nên người ta mới khoái ăn trầu. Có những người không còn răng mà vẫn thèm trầu, không nhai được nên phải giã nát rồi ngậm cho thỏa lòng. Chí lý lắm!
Hôn nhân thực sự là điều kỳ diệu, gia đình cũng là sự lạ lùng lắm. Niềm hạnh phúc hôn nhân và gia đình chính là “phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người” (Tv 128:4). Một lần nữa, Thánh Vịnh gia cầu chúc cho những người sống đời hôn nhân – gia đình: “Xin Chúa từ Sion xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc. Ước chi trong suốt cả cuộc đời bạn được thấy Giêrusalem phồn thịnh, được sống lâu bên đàn con cháu. Nguyện chúc Ít-ra-en vui hưởng thái bình” (Tv 128:5-6). Có thể vì đời thường như vậy nên chúng ta không nhận ra mối liên kết kỳ diệu trong mối quan hệ về hôn nhân – gia đình. Quả thật, đó là một phép lạ của Thiên Chúa.
Con người là sinh vật cao cấp – mặc dù chỉ là phận bụi tro và kiếp tội nhân. Bằng chứng là Thánh Phaolô phân tích: “Con người đã bị thua kém các thiên thần trong một thời gian ngắn, chúng ta lại thấy được Thiên Chúa ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, bởi vì đã cam chịu tử hình. Con người đó, chính là Đức Giêsu” (Dt 2:9a). Thật vậy, “Đức Giêsu đã phải nếm sự chết, là để cho mọi người được cứu độ, nhờ ơn Thiên Chúa” (Dt 2:9b). Thánh Phaolô nói rạch ròi: “Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích mọi loài, chính vì muốn đưa muôn vàn con cái đến vinh quang, nên Người đã làm một việc thích đáng, là cho Đức Giêsu trải qua gian khổ mà trở thành vị lãnh đạo thập toàn, dẫn đưa họ tới nguồn ơn cứu độ” (Dt 2:10). Tình yêu của Thiên Chúa bao la, lòng thương xót của Ngài vô tận.
Thật vậy, Thiên Chúa là Đấng chí nhân, Ngài không muốn ai phải hư mất, mà chỉ muốn tất cả tội nhân chúng ta cũng được hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc với Ngài. Đấng thánh hoá là Đức Giêsu, “những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc” (Dt 2:11), vì thế, Ngài đã không hề hổ thẹn gọi chúng ta là huynh đệ – dù chúng ta quá khốn nạn, xấu xa, tội lỗi, đốn hèn. Thật là hạnh phúc cho chúng ta, vì chúng ta từ “không” mà biến thành “có”. Còn gì có thể so sánh được chăng? Chắc chắn là không!
Là Kitô hữu, ai trong chúng ta cũng đều biết rằng mục đích của hôn nhân không chỉ là sinh con đẻ cái theo lệnh Chúa: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất” (St 1:28). Còn hơn thế nữa, mục đích của hôn nhân là giúp nhau nên thánh: “Hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48). Có nhiều phương thế nên thánh, hôn nhân là một trong các cách đó.
Về tâm linh, có hai dạng cơ bản – hữu thần và vô thần, duy tâm và duy vật. Một hôm, có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giêsu và hỏi: “Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không?” (Mc 10:2). Họ chẳng tốt lành gì, hỏi han cho ra vẻ thân thiện chứ thực tế họ muốn thử Ngài, muốn “gài bẫy” Ngài. Nhưng Ngài thản nhiên: “Thế ông Môsê đã truyền dạy các ông điều gì?” (Mc 10:3). Xem chừng họ vẫn “vô tư” khi cho biết: “Ông Môsê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ” (Mc 10:4). Thế là Đức Giêsu “chơi” liên khúc với họ: “Chính vì các ông LÒNG CHAI DẠ ĐÁ, nên ông Mô-sê mới viết điều răn đó cho các ông. Còn lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành MỘT xương MỘT thịt. Như vậy, họ KHÔNG còn là hai, nhưng chỉ là MỘT xương MỘT thịt” (Mc 10:5-8). Và Ngài quả quyết: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người KHÔNG được phân ly” (Mc 10:9). Đúng là kẻ “dốt đặc cán mai” lại hay tỏ ra thông thái, ngu truyền kiếp mà tưởng mình thông minh. Gậy ông đập lưng ông. Cuối cùng, họ đành ngậm bồ hòn và im như thóc thối. Tất nhiên thôi!
Mà kể cũng lạ, ngay cả các môn đệ cũng lơ ngơ như bị “chạm mạch”, thế nên khi về đến nhà, các ông lại hỏi Ngài về điều ấy. Ngài minh định: “Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác thì cũng phạm tội ngoại tình” (Mc 10:11-12). Quá rõ, không phân biệt nam hay nữ chi cả. Ai sai nấy chịu. Tội là cái Tôi-Nặng (kiểu đánh vần chữ Tội trong Việt ngữ).
Nghe danh Thầy Giêsu nổi như cồn, lúc đó người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giêsu để Ngài đặt tay trên chúng. Nhưng các môn đệ la rầy chúng. Thấy vậy, Ngài thẳng thắn quở trách các ông: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, ĐỪNG ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng” (Mc 10:14). Thấy các đệ tử mình theo mình mà chẳng giống mình, thế nên, dù Ngài rất nhân từ và hiền lành mà còn phải “nổi nóng” thì hẳn là chuyện không vừa, chắc chắn các môn đệ phải xua đuổi các trẻ em dữ lắm. Và rồi Ngài nhấn mạnh: “Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em thì sẽ chẳng được vào” (Mc 10:15). Thánh Mátthêu còn kể rõ: “Ngài ÔM lấy các trẻ em và đặt tay CHÚC LÀNH cho chúng” (Mt 10:16).
Lại có một Phép Tính kỳ diệu nữa đối với tất cả chúng ta về “bí quyết” để làm công dân Nước Trời: SỐNG ĐƠN SƠ. Đó là “Con Đường Thơ Ấu” và là bí quyết nên thánh của Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu, như thánh nữ xác định: “Nên thánh chỉ đơn giản là làm theo Thánh Ý Chúa và trở nên như Ngài muốn”.
Liên quan hôn nhân – gia đình, chắc là chúng ta còn nhớ Thánh LM Tử Đạo Maximilian Kolbe (1894-1941), người sẵn sàng chết thay cho một tù nhân vì thương anh ta còn vợ con. Ngài phân tích: “Chất độc nguy hiểm nhất trong thời đại của chúng ta là SỰ LÃNH ĐẠM. Vì thế, hãy cố gắng chúc tụng Thiên Chúa hết khả năng của mình”. Thật đáng sợ đối với sự thờ ơ, dửng dưng, lãnh đạm, vô cảm. Nó vô hình nhưng có thể giết chết mọi mối quan hệ – nhất là trong quan hệ hôn nhân và gia đình.
Đây là những Phép Tính của hôn nhân và gia đình: Hãy CỘNG lại những niềm vui, hãy TRỪ đi những nỗi muộn phiền, hãy NHÂN lên những niềm hy vọng, hãy CHIA sẻ chân thành, và đừng CHIA rẽ bao giờ! Sẽ chẳng làm được gì nếu không có ơn Chúa, nhưng có ơn Ngài thì làm gì cũng được.

Lạy Thiên Chúa chí thánh, sống đời hôn nhân là một cuộc tử đạo liên lỉ, cần nhiều ơn thánh để duy trì gia đình, xin giúp họ luôn sống trung thành với lời hứa yêu thương, biết bảo vệ sự sống, biết yêu quý trẻ em và học ở chúng bài học đơn sơ, đặc biệt là sống trung thành với Ngài trong mọi hoàn cảnh. Xin Đức Maria và Đức Giuse đồng hành và cầu giúp nguyện thay. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

DongCongNet 2018

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)