ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ

Thứ Tư hàng tuần

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Cầu Nguyện:

 

Bài 20 Cầu Nguyện Tạ Ơn

Thứ Tư 30 tháng 12 năm 2020

Xin chào anh chị em thân mến,

Hôm nay, tôi muốn tập trung vấn đề cầu nguyện vào việc tạ ơn. Tôi thấy được cái mấu chốt của vấn đề này ở một trình thuật của Thánh Ký Luca. Trong khi Chúa Giêsu đang hành trình thì có 10 người phong cùi tiến đến van xin Người rằng: "Lạy Thày Giêsu, xin thương đến chúng tôi!" (17:13). Chúng ta biết rằng những ai bị phong cùi thì không phải chỉ chịu đựng về thể lý mà thôi, còn bị loại trừ về phương diện xã hội và tôn giáo nữa. Họ bị tẩy chay. Chúa Giêsu đã không tỏ ra tránh lánh việc gặp gỡ họ. Đôi khi Người vượt lên trên những thứ giới hạn theo áp đặt của lề luật, và đã chạm đến, ôm lấy và chữa lành bệnh nhân - những hành động đáng lẽ không được làm. Trong trường hợp này thì không hề có giao chạm. Từ một khoảng cách, Chúa Giêsu đã mời gọi họ đi trình diện cho các vị tư tế (v.14), những vị được lề luật chỉ định để chứng nhận tình trạng được chữa lành đã xẩy ra. Ngoài ra Chúa Giêsu không còn nói gì nữa. Người đã lắng nghe lời nguyện cầu của họ, Người đã nghe thấy tiếng kêu xin thương xót của họ, và Ngài đã lập tức bảo họ đến với các vị tư tế.

Mười người bị phong cùi này đã tin tưởng, họ không cứ ở lại đó cho đến khi họ được chữa lành, không: họ đã tin tưởng và liền đi ngay, để rồi trong khi họ đang đi đường thì họ được chữa lành, tất cả 10 người trong họ. Bởi thế, các vị tư tế đã có thể chứng thực tình trạng được chữa lành của họ, và cho phép họ được trở về với cuộc sống bình thường như trước. Thế nhưng, vấn đề quan trọng xẩy ra ở ngay chỗ này, đó là chỉ có một người trong nhóm của họ, trước khi đến với các vị tư tế thì đã quay trở lại để tạ ơn Chúa Giêsu và chúc tụng Thiên Chúa về ơn ban. Chỉ duy có một người, còn chín người kia tiếp tục tiến bước. Chúa Giêsu cho biết đó là một người Samaritano, loại người "lạc đạo" đối với người Do Thái thời bấy giờ. Chúa Giêsu nhận định về những người kia như thế này "không có một ai trong họ trở lại chúc tụng Thiên Chúa, ngoại trừ con người ngoại lai này?" (17:18). Trình thuật này thật tác động.

Có thể nói trình thuật này phân chia thế giới ra làm đôi: những ai không biết ơn và những người biết ơn; những người nhận được hết mọi sự như thể nó là của họ, và những ai đón nhận hết mọi sự như là ơn ban, là ân sủng. Sách Giáo Lý dạy rằng: "hết mọi biến cố và nhu cầu đều có thể trở thành lời hiến dâng tạ ơn" (n. 2638). Cầu nguyện tạ ơn bao giờ cũng được khởi đi từ chỗ ấy, từ chỗ nhận thức rằng ân sủng đi trước chúng ta. Chúng ta đã được nghĩ đến trước khi chúng ta biết suy nghĩ; chúng ta được yêu thương trước khi biết yêu thương; chúng ta được mong muốn trước khi lòng chúng ta biết ước muốn. Nếu chúng ta biết nhìn cuộc sống như thế thì "việc tạ ơn" trở thành một lực đẩy của ngày sống chúng ta. Biết bao lần chúng ta thậm chí quên cả ngỏ lời "cám ơn".

Đối với Kitô hữu chúng ta thì tạ ơn là danh xưng được gán cho Bí Tích chính yếu nhất đó là Thánh Thể. Thật vậy, tiếng Hy Lạp này chính là tạ ơn, eucharist: tạ ơn. Kitô hữu, cũng như tất cả mọi tín hữu, đều chúc tụng Thiên Chúa về tặng ân sự sống. Việc sống trên hết là việc đã lãnh nhận. Việc sống trên hết là việc đã lãnh nhận: đã nhận được sự sống! Tất cả chúng ta được sinh ra là vì ai đó muốn chúng ta có sự sống. Đó mới chỉ là điều đầu tiên trong một chuỗi dài về các thứ nợ nần chúng ta gánh chịu trong đời. Những thứ nợ nần của lòng biết ơn. Trong đời sống của chúng ta, không phải chỉ có một người nhìn đến chúng ta một cách nhưng không, bằng ánh mặt tinh tuyền. Bình thường những con người ấy là những thày cô, giáo lý viên, những con người thực hiện vai trò của họ vượt lên trên và vượt ra ngoài những gì đòi hỏi họ làm. Họ gợi lên lòng biết ơn nơi chúng ta. Ngay cả tình bạn hữu cũng là một tặng ân, những gì chúng ta luôn cần phải tạ ơn.

Lời "cám ơn" mà chúng ta cần phải liên tục nói này, những lời cám ơn mà Kitô hữu chia sẻ với hết mọi người ấy, được gia tăng trong việc gặp gỡ Chúa Giêsu. Các Phúc Âm đều chứng thực rằng Khi Chúa Giêsu băng ngang qua, thì Ngưòi thường hay khơi lên niềm vui và lời chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa nơi những ai Người gặp. Các trình thuật Phúc Âm đầy những con người cầu nguyện đã được mạnh mẽ chạm tới, bởi Đấng Cứu Thế đến với họ. Cả chúng ta cũng được kêu gọi để tham dự vào niềm hân hoan bao la ấy. Câu chuyện về 10 người phong cùi được chữa lành cũng gợi lên như thế. Tất nhiên, tất cả 10 người trong họ đều sung sướng vì bệnh nạn của họ đã được chữa lành, giúp họ có thể chấm dứt thứ phong tỏa bó buộc khôn cùng tình trạng họ bị loại trừ ra khỏi cộng đồng. Thế nhưng, trong số họ, có một người đã cảm thấy một niềm vui hơn nữa, đó là ngoài niềm vui được chữa lành còn niềm vui được gặp gỡ Chúa Giêsu nữa. Anh ta không chỉ được giải phóng khỏi sự dữ, mà bấy giờ còn có được niềm tin tưởng rằng mình được yêu thương. Đó là cái then chốt, ở chỗ, khi anh chị em cám ơn ai đó, tạ ơn, là anh chị em bày tỏ niềm tin tưởng rằng anh chị em được yêu thương. Đó là một bước tiếng cả thể ở chỗ có được niềm tin tưởng rằng anh chị em được yêu thương. Đó là việc khám phá về tình yêu thương như là một thứ năng lực chi phối thế giới này - như Dante đã nói: Tình Yêu là những gì "khiến mặt trời cùng các tinh tú xoay vần" (Paradise, XXXIII, 145). Chúng ta không còn là thành phần lang thang bất định đây đó nữa, không, chúng ta có nhà ở, chúng ta cư ngụ nơi Chúa Kitô, để rồi từ "nơi cư trú" đó, chúng ta chiêm ngắm phần còn lại của thế giới đang hiện lên càng vô cùng mỹ miều trước mắt chúng ta. Chúng ta là thành phần con cái của tình yêu thương, chúng ta là anh chị em của tình yêu thương. Chúng ta là những con người nam nữ biết tạ ơn.

Thế nên, thưa anh chị em, chúng ta hãy tìm cách để luôn lưu ngụ nơi niềm vui được gặp gỡ Chúa Giêsu. Chúng ta hãy vun trồng niềm hân hoan vui vẻ. Ma quỉ, ngược lại, sau khi đã lừa đảo chúng ta - bằng bất cứ chước cám dỗ nào - bao giờ cũng lưu lại trong chúng ta những gì là buồm thảm và lẻ loi cô độc. Nếu chúng ta ở trong Chúa Kitô, thì không có vấn đề tội lỗi hay đe dọa nào có thể từng ngăn cản chúng ta tiếp tục hân hoan hành trình, cùng với nhiều đồng bạn hành trình khác.

Trên hết đó là chúng ta đừng quên tạ ơn: nếu chúng ta là những con người ấp ủ sống lòng tri ân thì chính thế giới này sẽ trở nên tốt đẹp hơn, cho dù chỉ một chút xíu, thế nhưng cũng đủ để truyền đạt một chút niềm hy vọng. Thế giới này cần đến niềm hy vọng. Với lòng tri ân, bằng thói quen nói lời cám ơn, chúng ta truyền đạt một chút niềm hy vọng. Hết mọi sự đều liên kết với nhau và hết mọi sự đều liên hệ với nhau, và ai cũng cần phải làm những gì có thể nơi bản thân mình. Đường lối dẫn đến hạnh phúc là con đường được Thánh Phaolô diễn tả ở cuối các bức thư của ngài, đó là "Hãy liên lỉ cầu nguyện, hãy tạ ơn trong hết mọi hoàn cảnh; vì đó là ý muốn của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô đối với anh em. Đừng dập tắt Thần Linh" (1Thes 5:17-19). Đừng dập tắt Thần Linh, một dự phóng tuyệt vời biết bao của đời sống! Đừng dập tắt Thần Linh là Đấng ở trong chúng ta, dẫn chúng ta đến chỗ tri ân cảm tạ. Xin cám ơn anh chị em. 

http://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2020/documents/papa-francesco_20201230_udienza-generale.html

 Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 

 

Bài 19 Cầu Nguyện Chuyển Cầu
Thứ Tư 16 tháng 12 năm 2020
  

Xin chào anh chị em thân mến,

Những ai cầu nguyện thì không bao giờ lãng quên thế giới này. Nếu cầu nguyện mà không bao gồm cả niềm vui nỗi buồn, hy vọng và lo âu của nhân loại, thì nó trở thành một hoạt động "trang trí", một cách thức tác hành nông nổi, kịch cỡm và hiu quạnh. Tất cả chúng ta đều cần đến tính chất nội tâm, ở chỗ thu mình vào một không gian và thời gian giành riêng cho mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Thế nhưng, điều này không có nghĩa là chúng ta tránh né thực tại. Trong nguyện cầu, Thiên Chúa "nhận lấy chúng ta, chúc phúc cho chúng ta, đoạn bẻ chúng ta ra và trao ban chúng ta đi", để làm cho cơn đói khổ của hết mọi người được no thỏa. Hết mọi Kitô hữu được kêu gọi để trở nên tấm bánh trong bàn tay của Thiên Chúa, được bẻ ra và chia sẻ. Tức nó là một thứ cầu nguyện cụ thể, chứ không phải là một thứ thoát ly.

Bởi vậy, những con người nam nữ cầu nguyện tìm kiếm những nơi cô tịch và lặng lẽ không phải để khỏi bị phiền toái, mà là để nghe tiếng của Chúa tốt hơn. Đôi khi họ hoàn toàn thu mình cho khỏi thế gian, kín đáo trong phòng riêng của mình, như Chúa Giêsu khuyên dạy (Mt.6:6). Thế nhưng, bất cứ ở đâu, bao giờ họ cũng mở rộng cửa lòng của họ ra: mở cửa cho những ai không biết cầu nguyện; cho những ai không cầu nguyện gì hết nhưng lại ấp ủ trong lòng một tiếng kêu ngột ngạt, một thỉnh nguyện thầm kín; cho những ai lầm lỡ và lầm đường lạc lối... Bất cứ ai gõ cửa của con người cầu nguyện đều thấy được một cõi lòng thương cảm không loại trừ một ai. Cầu nguyện xuất phát từ cõi lòng của chúng ta cũng như từ tiếng nói của chúng ta, đồng thời cũng là cõi lòng và tiếng nói thay cho rất nhiều người không biết phải cầu nguyện ra sao, hay những ai không muốn cầu nguyện, hay những kẻ không thể cầu nguyện: chúng ta là cõi lòng và là tiếng nói của những con người ấy, dâng lên Chúa Giêsu, dâng lên Chúa Cha, như là thành phần cầu thay nguyện giúp vậy.

Ở nơi cô tịch quạnh hiu của những ai nguyện cầu, dù cảnh tịch hiu này có lâu dài, hay chỉ nửa tiếng đồng hồ, để cầu nguyện, thì họ tách mình khỏi hết mọi sự và mọi người là để tìm gặp hết mọi sự và hết mọi người trong Thiên Chúa. Những con người ấy cầu nguyện cho toàn thế giới, ôm lấy những sầu thương và tội lỗi của thế giới trên đôi vai của mình. Họ cầu nguyện cho mỗi người và mọi người: họ giống như những "antennas" (tiếng Việt phiên âm là ăng-ten, nghĩa là trạm bắt sóng) của Thiên Chúa trên thế giới nàyNgười cầu nguyện nhìn thấy dung nhan của Chúa Kitô nơi hết mọi người đến gõ cửa lòng mình, nơi hết mọi người đã bị mất đi ý nghĩa của các sự vật. Trong Sách Giáo Lý chúng ta đọc thấy rằng: "việc chuyển cầu - kêu xin thay người khác (...) mang đặc tính của một tâm can cùng tần số với lòng thương xót Chúa". Thật là tuyệt vời. Khi cầu nguyện là chúng ta có cùng tần số với lòng thương xót Chúa; ở chỗ thương xót tội lỗi của chúng ta, thương xót bản thân của chúng ta, nhưng cũng thương xót tất cả những ai xin chúng ta cầu nguyện, những ai chúng ta muốn cầu nguyện theo tần số của cõi lòng Thiên Chúa.

Đó thực sự là cầu nguyện, ở chỗ có cùng tần số với lòng thương xót Chúa, với cõi lòng từ bi nhân hậu của Ngài. "Trong thời đại của Giáo Hội, việc chuyển cầu của Kitô hữu là những gì tham dự vào việc chuyển cầu của Chúa Giêsu, như là một thể hiện mầu nhiệm các thánh cùng thông công" (Giáo Lý số 2635). Vấn đề tham dự vào việc chuyển cầu của Chúa Kitô nghĩa là gì? Khi chúng ta chuyển cầu cho ai hay cầu nguyện cho người nào đó là bởi vì Chúa Kitô là Đấng Cầu Bầu ở trước Chúa Cha, Người cầu cho chúng ta, Người cầu nguyện bằng cách tỏ cho Chúa Cha thấy các thương tích nơi tay của Người, vì Chúa Giêsu hiện diện một cách thể lý trước Chúa Cha nơi thân xác của Người. Chúa Giêsu là Đấng Cầu Bầu của chúng ta và việc cầu nguyện cần phải giống như Chúa Giêsu một chút, ở chỗ chuyển cầu trong Chúa Giêsu trước Chúa Cha, cho những người khác. Đó là những gì rất đẹp đẽ.

Tâm can con người hướng về cầu nguyện. Nó là những gì thuần con người. Những ai không yêu thương anh chị em mình thì chẳng biết thế nào là nghiêm chỉnh cầu nguyện. Có người nói rằng: người ta không thể cầu nguyện khi ngập ứ hận thù ghen ghét; người ta không thể cầu nguyện khi chìm sâu vào tâm trạng lạnh lùng lãnh đạm. Lời cầu nguyện chỉ được dâng lên bằng tinh thần yêu thương. Những ai không yêu thương thì chỉ giả bộ nguyện cầu vậy thôi, họ tin rằng họ đang cầu nguyện, nhưng họ lại chẳng cầu nguyện gì vì thiếu mất thứ tinh thần thích đáng đó là tình yêu thương. Trong Giáo Hội, những ai quen với nỗi sầu thương và niềm vui của người khác thì còn đào sâu hơn cả những viên điều tra "các guống máy chính yếu" trên thế giới này. Chính vì thế mới cần có cảm nghiệm nhân loại ở nơi hết mọi lời cầu nguyện, bất chấp lỗi lầm vấp phạm của con người, những con người lầm lỡ vẫn không được loại trừ hay tẩy chay.  

Khi các tín hữu, được Thánh Linh tác động, cầu cho các tội nhân, thì không có vấn đề chọn lựa, không còn vấn đề phán xét hay lên án nữa, mà là việc họ cầu nguyện cho hết mọi người. Họ cầu nguyện cho chính bản thân họ. Lúc ây, họ ý thức rằng họ chẳng khác với những ai họ cầu nguyện cho. Họ nhận thức rằng họ là những tội nhân giữa các tội nhân, nên họ cầu cho hết mọi người. Bài học từ dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế bao giờ cũng còn đó và luôn có giá trị (see Lk 18:9-14): chúng ta không hơn bất cứ ai, chúng ta tất cả đều là anh chị em mang tính chất mỏng dòn, khổ đau và là tội nhân nói chung. Bởi thế, lời cầu nguyện chúng ta có thể thân thưa với Thiên Chúa là lời cầu như thế này: "Lạy Chúa, không ai là công chính trước nhan Ngài" (see Ps 143:2), đó là những gì được một trong những Thánh Vịnh nói: "Lạy Chúa, không ai là người sống công chính trước nhan Ngài, chẳng một ai trong chúng con: tất cả chúng con đều là tội nhân - tất cả chúng con đều mắc nợ, mỗi người đều có một món nợ kếch sù phải thanh toán; không ai là vô tội trước nhan Chúa. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con!" Với tinh thần này, cầu nguyện mới trổ sinh hoa trái, vì chúng ta hạ mình trước Thiên Chúa mà cầu cho hết mọi người. Trái lại, người biệt phái cầu nguyện một cách ngạo mạn: "Tôi tạ ơn Ngài, lạy Chúa, vì tôi không như kẻ khác, những kẻ tội lỗi: tôi là một con người công chính, luôn luôn là như thế...". Đó không phải là cầu nguyện: mà là ngắm mình trong gương soi, chứ không nhìn vào thực tại của mình, không. Nó như thể nhìn vào bản thân mình được trang điểm trong gương soi theo cái kiêu hãnh của mình.

Thế giới tiếp tục tri ân cảm tạ những con người cầu nguyện, thành phần chuyển cầu, và là những người hầu như chẳng được biết tới... thế nhưng lại được Thiên Chúa biết! Có nhiều Kitô hữu vô danh, vào những thời bách hại, đã lập lại những lời của Chúa là: "Lạy Cha, xin tha cho họ; vì họ không biết những việc họ làm" (Luca 23:34).

Vị Mục Tử Nhân Lành vẫn trung thành, ngay cả trước khi dân Ngài nhận thức được tội lỗi của họ, ở chỗ, Vị Mục Tử Nhân Lành này tiếp tục là một Người Cha, bất kể cả khi con cái của Ngài lìa xa Ngài và ruồng bỏ Ngài. Ngài kiên trì phục vụ như một vị mục tử, ngay cả với những ai đã vấy máu Ngài; Ngài không khép kín lòng mình lại trước cả những ai đã hành khổ Ngài.

Giáo Hội, nơi tất cả mọi phần tử của mình, có sứ vụ thực hiện việc cầu nguyện chuyển cầu này, ở chỗ chuyển cầu cho những người khác. Đặc biệt là đối với những ai có trách nhiệm như cha mẹ, thày cô, các vị thừa tác viên thánh chức, các vị bề trên của các cộng đồng... Như Abraham và Moisen, có những lúc họ cần phải "bênh vực" thành phần dân được trao phó cho họ trước Thiên Chúa. Thực vậy, chúng ta đang nói về việc bảo vệ bao che dân, bằng ánh mắt và cõi lòng của Thiên Chúa, bằng cùng một lòng cảm thương và niềm êm ái dịu dàng bất khả chống cưỡng của Ngài. Hãy dịu dàng cầu nguyện cho những người khác.

Hỡi anh chị em, tất cả chúng ta là những chiếc lá ở trên cùng một cây: mỗi một chiếc lá rụng xuống đều nhắc nhở chúng ta về lòng thương cao cả cần phải được nuôi dưỡng bằng nguyện cầu cho kẻ khác. Vậy chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau. Nó sẽ mang lại thiện ích cho cả chúng ta lẫn cho hết mọi người. Xin cám ơn anh chị em.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Bài 18: Cầu Nguyện Thỉnh Xin
9 tháng 12 năm 2020  

Xin chào anh chị em thân mến,

Chúng ta hãy tiếp tục chia sẻ về cầu nguyện. Việc cầu nguyện của Kitô giáo hoàn toàn có tính cách nhân bản - chúng ta cầu nguyện như là loài người, như chúng ta là - nên nó bao gồm cả việc chúc tụng lẫn việc thỉnh xin. Thật vậy, Khi Chúa Giêsu dạy các môn đệ của Người cầu nguyện, Người đã làm như thế với Kinh Lạy Cha, nhờ đó chúng ta có thể đặt mình vào mối liên hệ của lòng tin tưởng con cái với Thiên Chúa, và đặt tất cả vấn đề của chúng ta với Ngài. Chúng ta van xin Thiên Chúa ban cho chúng ta những tặng ân cao cả nhất, đó là danh Ngài được hiển thánh, nước Ngài trị đến, ý Ngài được thể hiện cho thiện ích của thế giới này. Sách Giáo Lý nhắc nhở là: "Những lời thỉnh xin này được sắp xếp theo cấp trật: trước hết chúng ta cầu cho Nước Chúa, sau đó cho những gì cần để đón nhận Nước Chúa và dọn đường cho Nước Chúa trị đến" (số 2632). Thế nhưng, nơi Kinh Lạy Cha, chúng ta cũng cầu xin cho được cả những tặng ân tầm thương nhất, những tặng ân tầm thường nhất hằng ngày, như "lương thực hằng ngày" - cũng ám chỉ cả về sức khỏe, nhà ở, việc làm, các thứ hằng ngày; đồng thời bao gồm cả Thánh Thể, cần cho đời sống trong Chúa Kitô; rồi chúng ta cầu xin ơn tha thứ tội lỗi - cũng là vấn đề hằng ngày nữa; chúng ta bao giờ cũng cần ơn tha thứ - và vì thế được bình an trong các mối liên hệ của chúng ta; và sau hết, xin Ngài giúp chúng ta đương đầu với chước cám dỗ và cứu chúng ta khỏi sự dữ.

Kêu xin, thỉnh cầu. Đó là những gì rất người. Chúng ta hãy lắng nghe Sách Giáo Lý một lần nữa: "Bằng việc cầu nguyện thỉnh xin, chúng ta bày tỏ nhận thức của chúng ta về mối liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa. Chúng ta là những tạo vật, không tự mình mà có, không làm chủ được nghịch cảnh, không phải là cùng đích của mình. Chúng ta là những tội nhân, thành phần, là Kitô hữu, đều biết rằng chúng ta đã lìa bỏ Cha của chúng ta. Việc thỉnh xin của chúng ta đã là một sự quay trở về cùng Ngài rồi vậy" (số 2629).

Nếu ai đó cảm thấy tồi bại vì chúng ta đã làm những điều xấu xa - họ là một tội nhân - khi cầu Kinh Lạy Cha, thì người ấy đang tiến đến với Chúa rồi vậy. Có những lúc chúng ta có thể tin rằng chúng ta không cần bất cứ một sự gì, rằng chúng ta đầy đủ cho bản thân mình rồi, và chúng ta sống hoàn toàn tự mãn. Có những lúc điều ấy xẩy ra! Thế nhưng, không sớm thì muộn cái ảo tưởng này sẽ biến mất. Loài người là một lời khẩn cầu, có những lúc là một tiếng kêu, thường bị cầm hãm. Linh hồn giống như một mảnh đất khô cằn, nứt nẻ, như Thánh Vịnh 63:2 nói đến. Tất cả chúng ta đều cảm nghiệm thấy, lúc này hay lúc kia trong cuộc sống của mình, có lúc ưu sầu, có lúc cô độc. Thánh Kinh không ngần ngại tỏ ra cho thấy thân phận loài người của chúng ta, một thân phận được hằn vết bệnh tật, bất công, bội phản tình thân, hay bị kẻ thù đe dọa. Có những lúc mọi sự dường như sụp đổ, cuộc sống cho tới lúc ấy như vô nghĩa. Và trong các trường hợp ấy, khi mà mọi sự dường như tan rã, chỉ còn một lối thoát duy nhất là kêu vang, là cầu nguyện "Lạy Chúa, xin cứu giúp con!" Cầu nguyện có thể mở ra một lằn ánh sáng trong màn tối tăm đen đặc nhất. "Lạy Chúa, xin cứu giúp con!" Lời cầu này mở ra, nó mở ra đường đi, nó mở ra lối bước.

Loài người chúng ta chia sẻ lời kêu cầu cứu giúp này với chung thiên nhiên vạn vật. Chúng ta không phải là những tạo vật duy nhất "cầu nguyện" trong vũ trụ bất tận này, vì hết mọi chi ngành tạo vật đều ôm ấp ước vọng Thiên Chúa. Chính Thánh Phaolô đã diễn tả nó như thế này. Ngài nói là: "Chúng ta biết rằng toàn thể tạo vật đang cùng nhau quằn quại cho tới lúc này; không phải chỉ tạo vật mà cả chính chúng ta nữa, thành phần đã lãnh nhận các hoa trái đầu mùa của Thần Linh, cũng đang rên xiết trong lòng" (Rm 8:22-24). Đó là những gì tốt lành. Nơi chúng ta âm vang tiếng kêu đồng thanh của các tạo vật: của cây cối, của sỏi đá, của thú vật. Hết mọi sự đều mong ngóng được viên trọn. Tertullian đã viết: "Hết mọi tạo vật đều cầu nguyện; gia súc cũng như dã thú cầu nguyện và quì gối xuống; và khi chúng vang lên từ những đầm lầy và các hang ổ, thì chúng nhìn lên trời bằng cái miệng không vu vơ, khi làm cho hơi thở của chúng rung đập theo cách thức của chúng. Cả loài chim chóc nữa, ra khỏi tổ, hướng về trời, thay vì đôi tay, thì giang ra đôi cánh của chúng, như thể cầu nguyện một cách nào đó" (De oratione, XXIX). Đó là một cách diễn tả thi ca khi nhận định về những gì Thánh Phaolô nói là "toàn thể tạo vật vẫn hằng rên xiết". Thế nhưng, chúng ta là những tạo vật duy nhất cầu nguyện một cách ý thức, biết rằng chúng ta đang thân thưa cùng Chúa Cha, và đang tham dự vào cuộc trao đổi với Chúa Cha.

Bởi thế, chúng ta không được rùng mình khi chúng ta cảm thấy có nhu cầu cần phải cầu nguyện, chúng ta không được hổ thẹn. Nhất là khi chúng ta đang cần thì hãy kêu xin. Chúa Giêsu, khi nói về một con người bất lương, kẻ thanh toán sổ sách với chủ của mình, thì nói đến điều này: "Ăn xin thì hổ thẹn". Nhiều người trong chúng ta có cái cảm giác này: chúng ta cảm thấy thẹn thùng khi cầu xin, xin cứu giúp, cả việc kêu xin một điều gì đó từ người có thể giúp chúng ta, đạt đến mục đích của chúng ta, và chúng ta cũng xấu hổ kêu xin Thiên Chúa nữa. "Không, không thể như thế được". Đừng thẹn thuồng khi kêu xin. "Lạy Chúa, con cần điều này", "Lạy Chúa, con đang gặp khó khăn", "Xin giúp con!": tiếng kêu, tiếng kêu của cõi lòng dâng lên Thiên Chúa là Cha. Và cũng kêu xin vào cả những lúc may lành hạnh phúc nữa, không phải chỉ vào những lúc bất hạnh, mà còn cả những lúc vui sướng, trong việc cảm tạ Thiên Chúa về tất cả mọi sự chúng ta lãnh nhận, chứ đừng lãnh nhận bất cứ sự gì như sung rụng, hay như thể nó thuộc về chúng ta: mọi sự đều là hồng ân. Chúng ta cần phải biết điều ấy. Chúa luôn trao ban cho chúng ta, bao giờ cũng thế, và hết mọi sự đều là hồng phúc, tất cả mọi sự. Hồng ân của Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta không được dập tắt lời thỉnh nguyện đột nhiên xuất phát trong chúng ta. Việc cầu nguyện thỉnh xin đi đôi với việc chấp nhận cái hạn hữu của chúng ta và bản tính là tạo vật của chúng ta. Người ta có thể không đạt đến chỗ tin tưởng vào Thiên Chúa, nhưng vẫn khó lòng mà không tin vào việc cầu nguyện: nó tự nhiên xẩy đến, nó xuất hiện với chúng ta như là một tiếng kêu; và tất cả chúng ta đều biết được cái tiếng nội tâm này có lẽ vẫn lặng lẽ đã lâu, nhưng một ngày nào đó bừng dậy và kêu lên.

Anh chị em ơi, chúng ta đều biết rằng Thiên Chúa sẽ đáp ứng. Không có lời cầu nguyện nào trong Thánh Vịnh xuất phát từ một nỗi than van mà không được lắng nghe. Thiên Chúa bao giờ cũng đáp ứng: có thể là hôm nay, ngày mai, nhưng Ngài luôn đáp ứng, bằng cách này hay cách khác. Ngài luôn đáp ứng. Thánh Kinh lập lại điều này vô số lần, đó là Thiên Chúa lắng nghe tiếng kêu của những ai kêu cầu Ngài. Ngay cả những vấn đề lưỡng lự, những vấn đề cứ ẩn sâu trong lòng của chúng ta, mà chúng ta thẹn thùng bày tỏ: Chúa Cha cũng lắng nghe chúng và muốn ban cho chúng ta Thánh Linh, Đấng khơi động hết mọi lời cầu nguyện và biến đổi hết mọi sự. Thưa anh chị em, khi nguyện cầu bao giờ cũng có vấn đề nhẫn nại, bao giờ cũng thế, vấn đề chịu đựng đợi chờ. Giờ đây chúng ta đang ở trong Mùa Vọng, một thời điểm có tính cách trông mong; trông mong Giáng Sinh. Chúng ta đang đợi chờ. Đó là điều rõ ràng. Thế nhưng tất cả cuộc sống của chúng ta cũng đợi chờ nữa. Cầu nguyện bao giờ cũng có tính cách mong đợi, vì chúng ta biết rằng Chúa sẽ đáp ứng. Ngay cả tử thần cũng rùng mình khi Kitô hữu nguyện cầu, vì nó biết rằng hết mọi người cầu nguyện có một đồng minh còn mãnh liệt hơn cả nó nữa, đó là Vị Chúa Phục Sinh. Tử thần đã bị thảm bại nơi Chúa Kitô rồi, và ngày ấy sẽ đến khi mà tất cả mọi sự sẽ chấm dứt, và nó không còn khinh miệt sự sống của chúng ta cũng như hạnh phúc của chúng ta nữa.

Chúng ta hãy biết chờ đợi; biết trông mong Chúa. Chúa đến viếng thăm chúng ta, chẳng những vào những đại lễ này - Giáng Sinh, Phục Sinh - mà Chúa còn viếng thăm chúng ta mọi ngày, trong mối thân mật của lòng chúng ta nếu chúng ta biết chờ đợi. Chúng ta rất thường không nhận ra rằng Chúa đang cận kề, Ngài đang gõ cửa của chúng ta, và chúng ta để cho Ngài băng ngang qua chúng ta. Thế nhưng, nếu tai của anh chị em đầy những tiếng ồn khác thì anh chị em sẽ không còn nghe thấy tiếng Chúa gọi nữa.

Anh chị em ơi, hãy đợi chờ: đó là cầu nguyện. Xin cám ơn anh chị em.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Bài 17 Cầu Nguyện - Chúc Phúc Chúc Tụng

2 tháng 12 năm 2020

 

Xin chào anh chị em thân mến, 

Hôm nay, chúng ta sẽ chia sẻ với nhau về một chiều kích thiết yếu của cầu nguyện, đó làchiều kích chúc tụng. Chúng ta đang chia sẻ về việc cầu nguyện. Trong các trình thuật về việc tạo dựng (see Gn 1-2), Thiên Chúa liên tục chúc phúc cho sự sống, bao giờ cũng thế. Ngài chúc lành cho loài vật (1:22), Ngài chúc lành cho con người nam nữ (1:28), sau cùng, Ngài chúc lành cho Ngày Hưu Lễ, ngày nghỉ ngơi và niềm hoan hưởng của tất cả thiên nhiên tạo vật (2:3). Chính Thiên Chúa là Đấng chúc phúc lành. Ở những trang đầu tiên của Thánh Kinh, đã liên tục diễn ra các thứ phúc lành. Thiên Chúa chúc phúc, còn con người thì chúc tụng, và họ cũng sớm khám phá ra rằng phúc lành có được một quyền lực đặc biệt để hỗ trợ người nhận được nó suốt cả cuộc đời sống của họ, và giúp cho cõi lòng của con người này có thể được Thiên Chúa biến đổi (see Second Vatican Council Const. Sacrosanctum Concilium, 61).

Bởi thế, vào lúc mở màn cho thế giới này, đã có một Vị Thiên Chúa "benedire - chúc phúc". Ngài thấy rằng hết mọi việc Ngài làm đều tốt lành và đẹp đẽ, và khi Ngài dựng nên con người, cũng như khi Ngài hoàn tất việc tạo dựng, Ngài thấy rằng chúng "rất ư là tốt đẹp" (2:310. Sau đó ít lâu, vẻ đẹp Thiên Chúa in ấn nơi công cuộc của Ngài sẽ bị thay đổi, và loài người sẽ trở thành một loài tạo vật thoái hóa, có khả năng gieo rắc sự dữ và chết chóc trên thế giới này; thế nhưng không gì có thể xóa bỏ được dấu vết thiện hảo nguyên thủy được Thiên Chúa cài đặt trên thế giới ấy, nơi bản tính của con người, nơi tất cả chúng ta, đó là khả năng chúc tụng và được chúc phúc. Thiên Chúa đã không lầm khi tạo dựng nên thiên nhiên vạn vật hay dựng nên con người. Niềm hy vọng của thế giới này hoàn toàn ở nơi phúc lành của Thiên Chúa. Ngài tiếp tục volere bene - mong chúng ta tốt lành, Ngài là vị đều tiên tiếp tục hy vọng những gì là tốt lành cho chúng ta, như thi sĩ Péguy đã nói (The Portico of the Mystery of the Second Virtue; first edition, Le porche du mystère de la deuxième vertu, published in 1911).

Phúc lành vĩ đại nhất của Thiên Chúa đó là Đức Giêsu Kitô; Con của Ngài là phúc lành trọng đại nhất. Người là một phúc lành cho toàn thể nhân loại, Người là chính phúc lành đã cứu độ tất cả chúng ta. Người là Lời hằng hữu mà Chúa Cha đã chúc lành cho chúng ta "trong khi chúng ta còn là những tội nhân" (Rm 5:8) như Thánh Phaolô đã nói, là Lời đã hóa thành nhục thể và đã hiến mình cho chúng ta trên cây thập tự giá.

Thánh Phaolô cảm kích loan báo về dự án yêu thương của Thiên Chúa. Ngài đã nói như thế này: "Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Trong Đức Ki-tô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giê-su Ki-tô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu" (Eph 1:3-6). Không có một tội nào có thể hoàn toàn xóa bỏ hình ảnh của Chúa Kitô hiện diện nơi mỗi một người chúng ta. Không có một tội nào có thể xóa bỏ hình ảnh Thiên Chúa đã ban cho chúng ta - hình ảnh Chúa Kitô. Tội lỗi có thể làm cho hình ảnh này bị nhòe nhoẹt nhưng vẫn không thể nào xóa bỏ nó khỏi lòng thương xót của Thiên Chúa. Một tội nhân có thể cứ tiếp tục lầm lỗi qua một thời gian dài, thế nhưng Thiên Chúa vẫn nhẫn nại cho đến cùng, hy vọng rằng cõi lòng của tội nhân ấy dần dần sẽ trở nên cởi mở và đổi thay. Thiên Chúa giống như một người cha nhân lành, Ngài là một Người Cha, và như một người mẹ tốt lành, Ngài cũng là một người mẹ tốt lành nữa: họ không bao giờ thôi yêu thương con cái của họ, bất kể chúng có sai trái ra sao chăng nữa, bao giờ cũng thế. Điều mà nhiều lần tôi đã nghĩ đến đó là tôi đã nhìn thấy người ta sắp hàng tiến vào một nhà tù, biết bao nhiêu là bà mẹ xếp hàng ở đó trông thấy đứa con bị ngục tù của mình. Họ không thôi yêu thương đứa con của họ, và họ cũng đồng thời biết rằng dân chúng trên chuyến xe buýt đang băng ngang qua đó nghĩ rằng: "Ồ đó là người mẹ của một tù nhân..." Họ không cảm thấy ngượng ngùng về điều ấy. Đúng thế, họ cảm thấy ngượng ngùng nhưng họ cứ mặc kệ. Đứa con của họ còn quan trọng hơn là cái ngượng ngùng của họ, cũng thế, chúng ta quan trọng trước nhan Thiên Chúa hơn tất cả tội lỗi chúng ta có thể đã vấp phạm. Vì Ngài là một Người Cha, Ngài là một Người Mẹ, Ngài là tình yêu tinh tuyền, Ngài đã muôn đời chúc phúc cho chúng ta. Ngài sẽ không bao giờ thôi chúc lành cho chúng ta.

Thật là một cảm nghiệm tuyệt vời biết bao khi đọc những bản văn thánh kinh về phúc lành này trong một nhà tù, hay trong một nhóm phục hồi. Hãy giúp cho những con người ấy nghe thấy rằng họ vẫn được chúc phúc, bất chấp những lỗi lầm trầm trọng của họ, rằng Cha trên trời tiếp tục mong muốn họ được tốt lành, và hy vọng rằng họ cuối cùng sẽ mở lòng mình ra cho sự thiện. Cho dù những thân nhân gần gũi nhất của họ đã bỏ rơi họ - nhiều người đã loại bỏ họ, những con người ấy không giống các bà mẹ đợi chờ trong đời để nhìn thấy họ, họ chẳng lại là những gì quan trọng, những con người ấy đã bỏ rơi họ - những người này đã bỏ rơi họ, vì bấy giờ những con người ấy cho họ là thành phần bất khả cứu vãn, thì họ vẫn là con cái của Thiên Chúa. Thiên Chúa không thể xóa bỏ nơi chúng ta hình ảnh của ngững người con trai con gái, mỗi người trong chúng ta là hình ảnh con trái của Ngài, con gái của Ngài. Có những lúc chúng ta thấy được những phép lạ xẩy ra, đó là những con người nam nữ được tái sinh, vì họ tìm thấy được phúc lành đã xức dầu cho họ để họ trở thành những người con cái. Vì ân sủng của Thiên Chúa làm thay đổi cuộc sống: Ngài chấp nhận chúng ta như chúng ta là, thế nhưng Ngài sẽ chẳng bao giờ cứ để chúng ta như chúng ta là như vậy.

Chúng ta hãy nghĩ về những gì Chúa Giêsu đã làm cho Giakêu (see Lk 19:1-10) chẳng hạn. Hết mọi người đều thấy những gì là xấu xa nơi chàng; trái lại, Chúa Giêsu đã thấy được một le lói tốt lành, và từ đó - từ sự tò mò của chàng muốn nhìn thấy Người ấy - Người đã để cho lòng thương xót cứu độ lọt vào cái khe le lói ấy. Do đó mà cõi lòng của chàng Giakêu này đã được đổi thay trước hết, rồi tới đời sống của chàng. Chúa Giêsu thấy được phúc lành bất khả xóa mờ của Chúa Cha nơi con người bị loại trừ và bị bài bác này. Chàng ta là một tội nhân trước công chúng, đã làm rất nhiều điều ghê tởm, thế nhưng Chúa Giêsu đã thấy được cái dấu bất khả xóa mờ nơi phúc lành của Cha Người, và vì thế mà Người đã cảm thương. "Người động lòng thương" là cụm từ thường được lập lại trong Phúc Âm, và lòng thương cảm này thúc đẩy Người giúp đáp chàng và thay đổi cõi lòng của chàng. Hơn thế nữa, Chúa Giêsu đã đi đến chỗ đồng hóa bản thân Người với hết mọi người thiếu thốn cần giúp đỡ (cf Mt 25:31-46). Trong đoạn về tiêu chuẩn cuối cùng mà tất cả chúng ta sẽ bị phán xét, ở Phúc Âm Thánh Mathêu đoạn 25, Chúa Giêsu đã phán rằng: "Ta đã ở đó, Ta đã đói khổ, Ta đã trần trụi, Ta đã ngục tù, Ta đã bệnh nạn, Ta đã ở đó".

Cả chúng ta nữa cũng phải đáp lại vị Thiên Chúa chúc phúc, bằng việc chúc tụng - Thiên Chúa đã dạy chúng ta chúc tụng ra sao và chúng ta cần phải chúc tụng - bằng việc nguyện cầu chúc tụng, tôn thờ và cảm tạ. Sách Giáo Lý viết: "Việc cầu nguyện chúc tụng là việc con người đáp ứng các tặng ân của Thiên Chúa: vì Thiên Chúa chúc phúc, nên về phần mình, lòng con người có thể chúc tụng Đấng là nguồn mạch của mọi phúc lành" (n. 2626). Cầu nguyện là niềm vui và niềm tạ ơn. Thiên Chúa không đợi chờ chúng ta hoán cải bản thân mình mới bắt đầu yêu thương chúng ta, nhưng Người đã yêu thương chúng ta từ lâu trước, khi chúng ta vẫn còn sống trong tội lỗi.

Chúng ta chỉ còn biết chúc tụng vị Thiên Chúa đã chúc phúc cho chúng ta ấy; chúng ta cần phải chúc phúc hết mọi người trong Ngài, tất cả mọi người, trong việc chúc tụng Thiên Chúa và chúc lành cho anh chị em của chúng ta, chúc lành cho thế giới - và đó là căn cội của tấm lòng hiền lành Kitô hữu, của khả năng cảm nhận thấy mình được chúc phúc và khả năng chúc tụng. Nếu tất cả chúng ta đã làm như thế thì chắc chắn chẳng còn chiến tranh nữa. Thế giới này cần đến các phúc lành, và chúng ta cần cống hiến những lời chúc tụng và nhận lãnh những phúc lành. Chúa Cha yêu thương chúng ta. Điều còn lại duy nhất cho chúng ta đó là niềm vui được chúc tụng Ngài và niềm vui được cảm tạ Ngài, và niềm vui được theo gương Ngài, trong việc không biết nguyền rủa mà là chúc phúc. Đến đây, xin có lời nhắn với những ai có thói tật chửi thề, những người luôn sử dụng thứ ngôn từ xấu xa, chửi thề trên môi miệng của mình và trong lòng của mình. Mỗi người chúng ta thử nghĩ xem: Tôi có thói quen chửi thề như thế chăng? Rồi xin Chúa ơn thay đổi thói tật này, vì chúng ta có một tấm lòng được chúc phúc, thì những lời chửi thề không thể lại xuất phát từ một tấm lòng được chúc phúc. Xin Chúa dạy cho chúng ta biết đừng bao giờ chửi thề mà là chúc phúc. 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

 

Bài 16 Cầu Nguyện - Giáo Hội Sơ Khai

(25 tháng 11-2020)

Xin chào anh chị em thân mến,

Những bước đi đầu tiên của Giáo Hội trên thế giới này được điểm tô bằng việc nguyện cầu. Những bản văn của các vị tông đồ, cùng với trình thuật quan trọng nơi Sách Tông Vụ, cống hiến cho chúng ta hình ảnh về một Giáo Hội chủ động, một Giáo Hội tiến bước, nhưng lại là một Giáo Hội qui tụ lại nguyện cầu, cho thấy những gì là nền tảng và động lực cho hoạt động truyền giáo. Hình ảnh về Cộng Đồng Jerusalem thuở ban đầu là điểm qui chiếu cho hết mọi cảm nghiệm Kitô giáo khác. Thánh Luca đã viết ở trong Tông Vụ rằng: "Họ chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng" (2:42). Cộng đồng này đã kiên tâm cầu nguyện.

 Chúng ta thấy ở đấy 4 đặc tính thiết yếu của đời sống Giáo Hội: Thứ nhất là lắng nghe giáo huấn của các vị tông đồ; thứ hai là bảo toàn mối hiệp thông với nhau; thứ ba là bẻ bánh; và thứ bốn là cầu nguyện. Họ nhắc nhở chúng ta rằng việc hiện hữu của Giáo Hội chỉ có ý nghĩa khi Giáo Hội chặt chẽ liên kết với Chúa Kitô, tức là, liên kết với cộng đồng, với Lời Người, với Thánh Thể và với nguyện cầu - đường lối chúng ta liên kết bản thân chúng ta với Chúa Kitô. Việc giảng dạy và giáo lý là những gì làm chứng cho các lời nói và việc làm của Vị Sư Phụ; việc liên lỉ tìm cầu mối hiệp thông huynh đệ là những gì bảo vệ chúng ta khỏi vị kỷ và phân lập; việc bẻ bánh là những gì làm nên bí tích về sự hiện diện của Chúa Giêsu ở giữa chúng ta. Người sẽ không bao giờ vắng mặt - nhất là nơi Thánh Thể, Người ở đó. Người sống động và tiến bước với chúng ta. Sau hết, cầu nguyện là lúc giao tiếp với Chúa Cha, nơi Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần.

Hết tất cả mọi sự trong Giáo Hội phát triển ở ngoài "những thứ phối hợp này" đều không có nền tảng. Để nhận thức xem một trường hợp nào đó, chúng ta cần phải tự vấn về 4 thứ phối hợp này: trong trường hợp ấy như thế nào với bốn thứ phối hợp ấy - việc giảng dạy, việc liên lỉ tìm kiếm mối hiệp thông huynh đệ, tức bác ái yêu thương, việc bẻ bánh, tức đời sống Thánh Thể, và việc cầu nguyện. Bất cứ trường hợp nào cũng cần phải được thẩm định theo chiều hướng của những thứ phối hợp này. Bất cứ cái gì không thuộc về những thứ phối hợp ấy đều thiếu tính cách giáo hội, không phải là giáo hội.

Chính Thiên Chúa là Đấng đã thiết lập Giáo Hội, chứ không phải là những việc ồn ào ầm ỉ. Giáo Hội không phải là một cái chợ; Giáo Hội không phải là một nhóm người kinh doanh làm ăn đủ thứ. Giáo Hội là công cuộc của Thánh Linh, Đấng Chúa Giêsu đã sai đến với chúng ta để qui tụ chúng ta lại với nhau. Giáo Hội chính là công cuộc của Thần Linh nơi cộng đồng Kitô hũu, bằng đời sống của cộng đồng này, với Thánh Thể, trong nguyện cầu.... bao giờ cũng thế. Hết tất cả mọi sự mọc lên ở bên ngoài những thứ phối hợp ấy đều thiếu mất nền tảng, chẳng khác gì như nhà xây trên cát vậy (see Mt 7:24-27).

Chính Thiên Chúa là Đấng đã thiết lập Giáo Hội, chứ không phải là những việc ồn ào ầm ỉ. Lời của Chúa Giêsu mới là những gì làm cho các nỗ lực của chúng ta được trọn vẹn ý nghĩa. Chính bằng lòng khiêm tốn mà chúng ta xây dựng tương lai thế giới. Có những lúc tôi cảm thấy hết sức buồn khi thấy một cộng đồng thiện chí nhưng lại lạc lối, vì nghĩ rằng Giáo Hội được xây dựng bằng những cuộc gặp gỡ, như thể Giáo Hội là một đảng phái chính trị nào đó. "Nhưng, đa số, đa số, nghĩ sao về vấn đề này, vấn đề nọ... Đó là như thể một thứ Nghị Hội, thứ đường lối hội nghị chúng ta cần phải theo..." Tôi tự hỏi: "Thế thì Thánh Linh ở đâu? Cầu nguyện ở chỗ nào? Tình yêu thương cộng thông như thế nào? Thánh Thể ra sao?" Không có bốn thứ phối hợp ấy, Giáo Hội trở thành một thứ xã hội loài người, một đảng phái chính trị - đa số, đa số - các thứ thay đổi được thực hiện như thể Giáo Hội là một công ty, tùy theo đa số hay thiểu số...

Thế nhưng ở đó chẳng có Thánh Linh. Sự hiện diện của Thánh Linh thực sự được bảo đảm bởi bốn thứ phối hợp ấy. Để thẩm định xem một trường hợp có tính cách giáo hội hay phi giáo hội, chúng ta hãy tự vấn về bốn thứ phối hợp này: đời sống cộng đồng, cầu nguyện, Thánh Thể... xem đời sống có đang phát triển theo bốn thứ phối hợp này hay chăng. Nếu không thì cũng chẳng có Thánh Linh, mà nếu không có Thánh Linh thì chúng ta là một tổ chức mỹ miều, nhân bản, làm các việc lành, việc thiện, việc tốt... thậm chí là một đảng phái giáo hội, cứ nói như thế đi. Thế nhưng lại không phải là Giáo Hội.

Chính vì lý do này mà Giáo Hội không phát triển bằng những điều ấy: Giáo Hội không phát triển bằng dụ giáo, như bất cứ công ty nào, Giáo Hội phát triển bằng tính cách hấp dẫn. Và ai là người sẽ tạo nên những gì là hấp dẫn đây? Thánh Linh. Chúng ta đừng bao giờ quên lời của Đức Benedict XVI: "Giáo Hội không tăng tiến bằng việc dụ giáo mà bằng sức hấp dẫn". Nếu thiếu mất Thánh Linh, Đấng thu hút con người đến cùng Chúa Giêsu thì Giáo Hội không có ở đó. Có thể là một câu lạc bộ thân hữu tốt đẹp, tốt lành, đầy những thiện chí, thế nhưng không phải là Giáo Hội, không phải là đoàn tính.

Có đọc Tông Vụ chúng ta mới khám phá ra các cuộc qui tụ cầu nguyện có thể trở thành một mãnh lực thúc đẩy ra sao trong việc truyền bá phúc âm hóa, những qui tụ giúp cho những ai tham dự thực sự cảm nghiệm thấy sự hiện diện của Chúa Giêsu và được Thần Linh đụng chạm. Các phần tử thuộc cộng đồng tiên khởi này - dầu sao thì cũng luôn áp dụng cho cả chúng ta ngày nay nữa - đã cảm thấy rằng trình thuật về cuộc hội ngộ với Chúa Giêsu đã không ngưng hẳn ở vào giây phút Thăng Thiên, mà vẫn tiếp tục trong đời sống của họ. Trong việc tái trình thuật những gì Chúa đã nói và đã làm - khi lắng nghe Lời Chúa - trong khi cầu nguyện để được hiệp thông với Người, thì hết tất cả mọi sự đều trở thành sống động. Cầu nguyện làm lan tỏa ánh sáng và hơi ấm, đó là tặng ân của Thần Linh được ưu ái ban cho họ.

Ví thế mà Sách Giáo Lý đã chất chứa một diễn tả rất sâu xa. Đó là: "Chúa Thánh Thần... Đấng nhắc lại mầu nhiệm Chúa Ki-tô cho Hội Thánh đang cầu nguyện, cũng dẫn đưa Hội Thánh vào Chân Lý trọn vẹn và khởi hứng những mẫu kinh mới để diễn tả mầu nhiệm khôn dò thấu về Chúa Ki-tô, Đấng đang hoạt động trong cuộc sống, trong các bí tích và trong sứ vụ của Hội Thánh" (2625). Công việc của Thần Linh trong Giáo Hội đó là nhắc nhớ chúng ta về Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu đã nói: Ngài sẽ dạy các con và nhắc nhở các con. Sứ vụ của Ngài là nhắc nhớ về Chúa Giêsu, chứ không phải như là một thứ thực hành tưởng nhớ.

Thành phần Kitô hữu, khi tiến bước trên con đường sứ vụ truyền giáo, thì tưởng nhớ đến Chúa Giêsu khi họ làm cho Người hiện diện một lần nữa, và  họ được "thúc đẩy" từ Người, từ Thánh Linh, trong việc tiến bước, trong việc phục vụ. Bằng việc cầu nguyện, Kitô hữu trầm mình vào mầu nhiệm của Thiên Chúa, mầu nhiệm về Đấng yêu thương từng người, về vị Thiên Chúa mong muốn Phúc Âm được rao giảng cho hết mọi người. Thiên Chúa là Thiên Chúa cho hết mọi người, và nơi Chúa Giêsu hết mọi bức tường phân cách hoàn toàn bị sụp đổ: như Thánh Phaolô đã nói, Người là sự bình an của chúng ta, tức "Người là Đấng làm cho cả hai chúng ta nên một" (Eph 2:14). Chúa Giêsu đã tạo nên mối hiệp nhất, mối hiệp nhất.

Như thế thì đời sống của Giáo Hội sơ khai đã theo một nhịp điệu nhất trí liên tục các việc cử hành, các lời thỉnh nguyện chung, những thời khắc cầu nguyện chung riêng. Chính Thần Linh là Đấng đã ban sức mạnh cho các vị giảng dạy, những vị đã mở đầu hành trình, và là những vị vì kính mến Chúa Giêsu đã chèo lái trên biển cả, đã phải đương đầu với các thứ hiểm nguy, đã chấp nhận những gì là nhục nhã ê chề.

Thiên Chúa là Đấng cống hiến tình yêu, Thiên Chúa đòi hỏi tình yêu. Đó là cội nguồn mầu nhiệm của tất cả đời sống tín hữu. Bằng cầu nguyện, các Kitô hữu tiên khởi - và cả chúng ta cũng vậy, thành phần hậu sinh ở các thế kỷ sau đó - tất cả chúng ta đều sống cùng một cảm nghiệm. Thần Linh là Đấng tác động hết mọi sự. Và hết mọi Kitô hữu nào không sợ giành giờ cầu nguyện đều có thể thấm thía những lời của Tông Đồ Phaolô "sự sống mà giờ đây tôi sống trong xác thịt này là tôi sống bởi niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và hiến mình vì tôi" (Galata 2:20).

Cầu nguyện làm cho anh chị em nhận thấy như vậy. Chỉ trong thinh lặng tôn thờ chúng ta mới cảm thấy tất cả sự thật của những lời ấy. Và chúng ta cần phải lấy lại cái cảm giác tôn thờ này. Hãy tôn thờ, tôn thờ Thiên Chúa, tôn thờ Chúa Giêsu, tôn thờ Thần Linh. Cha, Con và Thần Linh: hãy tôn thờ. Trong thinh lặng. Việc cầu nguyện tôn thờ là việc cầu nguyện giúp cho chúng ta nhận biết Thiên Chúa như khởi nguyên và là cùng đích của tất cả Lịch Sử. Những lời cầu nguyện này là ngọn lửa sống động của Thần Linh, Đấng ban cho chúng ta quyền lực để làm chứng và để truyền giáo. Xin cám ơn anh chị em.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Bài 15 Cầu Nguyện - Mẹ Maria Mô Phạm
18 tháng 11 năm 2020

 

Xin chào anh chị em thân mến, 

Trong hành trình giáo lý về cầu nguyện, hôm nay chúng ta gặp gỡ Trinh Nữ Maria như là một người nữ uy quyền. Đức Mẹ đã cầu nguyện. Khi thế giới chưa biết gì về Mẹ, khi Mẹ còn là một cô con gái quê mùa đính hôn với một con người thuộc dòng tộc Đavít, thì Mẹ Maria đã cầu nguyện rồi. Chúng ta có thể mường tượng cô gái trẻ trung Nazarét này đang trầm mình lặng thinh, trong việc liên tục trao đổi với Thiên Chúa là Đấng sắp sửa ủy thác cho cô một sứ vụ. Cô vốn đã đầy ơn phúc rồi, và được vô nhiễm nguyên tội ngay từ giây phút cô được hoài thai; thế nhưng cô chưa hề biết được ơn gọi lạ lùng và phi thường, cùng với biển cả bão tố mà cô sẽ phải vượt qua. Chắc chắn một điều là Đức Maria thuộc về một đại cơ binh của những tâm hồn khiêm nhượng trong lòng, thành phần không bao giờ được các sử gia chính yếu bao gồm trong các cuốn sách lịch sử của họ, thế mà nơi Mẹ Thiên Chúa đã sửa soạn cho Con của Ngài đến.

Mẹ Maria đã không tự động điều khiển cuộc đời của Mẹ: Mẹ đợi chờ Thiên Chúa vạch đường chỉ lối cho Mẹ ra sao tùy ý của Ngài. Mẹ tỏ ra dễ dạy, và nhờ tính chất sẵn sàng của mình, Mẹ sửa soạn cho những biến cố cả thể cho việc tham phần của Thiên Chúa vào trần gian này. Sách Giáo Lý nhắc lại sự hiện diện liên lỉ và quan tâm của Mẹ nơi dự án hồng ân của Chúa Cha dọc suốt cuộc đời của Chúa Giêsu (see CCC, 2617-2618).

Mẹ Maria cầu nguyện khi Tổng Thần Ga-Biên truyền tin cho Mẹ ở Nazarét. Lời thưa "Này tôi đây" nhỏ bé nhưng lớn lao của Mẹ, một lời làm cho tất cả mọi tạo vật nhẩy mừng vào lúc ấy, đã được dẫn trước, suốt giòng lịch sử cứu độ, bởi nhiều lời "Này tôi đây" khác, bởi nhiều cuộc tuân phục tin tưởng, bởi nhiều người sẵn lòng chấp nhận ý muốn của Thiên Chúa. Không có một cách thức cầu nguyện nào bằng việc tỏ ra thái độ sẵn sàng, bằng một con tim cởi mở với Chúa: "Lạy Chúa, những gì Chúa muốn, khi nào Chúa muốn và cách nào Chúa muốn". Tức là bằng một con tim cởi mở trước ý muốn của Thiên Chúa. Thiên Chúa bao giờ cũng đáp ứng. Có bao nhiêu tín hữu sống cầu nguyện như thế! Những ai khiêm nhượng trong lòng nhất đều cầu nguyện như vậy: bằng một lòng khiêm nhượng thiết yếu, cứ cho là như vậy; bằng một tấm lòng khiêm tốn: "Lạy Chúa, những gì Chúa muốn, khi nào Chúa muốn và cách nào Chúa muốn". Họ cầu nguyện như thế, và không cảm thấy buồn bực khi các vấn đề xẩy ra cho ngày sống của họ, thế nhưng họ sẵn sàng đối diện với thực tại, và biết rằng bằng tình yêu khiêm hạ, bằng yêu thương để dâng lên ở từng trường hợp trải qua, chúng ta trở nên khí cụ cho ân sủng của Chúa. "Lạy Chúa, những gì Chúa muốn, khi nào Chúa muốn và cách nào Chúa muốn". Một lời cầu nguyện giản dị, thế nhưng lại là lời cầu nguyện chúng ta sử dụng để phó mình vào bàn tay của Thiên Chúa, để Ngài có thể dẫn dắt chúng ta. Tất cả chúng ta đều có thể cầu nguyện như vậy, hầu như chẳng có ngôn từ bày tỏ nào hết.

Cầu nguyện là những gì biết cách để làm lắng đọng tính hiếu động. Chúng ta tỏ ra hiếu động, luôn muốn có những điều trước khi xin có được chúng, và chúng ta muốn có ngay. Tính chất hiếu động này tác hại chúng ta. Cầu nguyện là những gì biết làm lắng đọng tính hiếu động này xuống, biết biến nó thành tính chất thuận lợi. Khi nào chúng ta hiếu động, chúng ta hãy cầu nguyện, và việc cầu nguyện sẽ mở lòng chúng ta ra và làm cho chúng ta cởi mở trước ý muốn của Thiên Chúa. Trong thời khoảng một ít giây phút Truyền Tin bấy giờ, Đức Trinh Nữ Maria đã biết làm sao để loại trừ nỗi sợ hãi của Mẹ, cho dù Mẹ cảm giác thấy rằng tiếng "xin vâng" của Mẹ sẽ gây ra cho Mẹ các cơn thử thách khốn khó khủng khiếp. Nếu trong việc cầu nguyện chúng ta biết được rằng mỗi ngày chúng ta sống đều được Chúa ban cho chúng ta như là một ơn gọi, thì lòng chúng ta sẽ được nở rộng ra, và chúng ta sẽ chấp nhận hiết mọi sự. Chúng ta sẽ biết thân thưa cùng Ngài rằng: Lạy Chúa, Chúa muốn gì nơi con. Xin Chúa chỉ cần hứa với con rằng Chúa sẽ hiện diện nơi từng bước con đi trên đường đời". Đó là điều quan trọng, ở chỗ, xin Chúa hiện diện nơi từng bước đi trên đường đời của chúng ta: tức là Ngài không bỏ mặc chúng ta lẻ loi cô độc một mình, Ngài không bỏ rơi chúng ta trong cơn cám dỗ, Ngài không ruồng bỏ chúng ta trong những lúc tệ hại. Kinh Lạy Cha đã kết thúc như thế: ơn chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta xin cùng Chúa.

Mẹ Maria đã hỗ trợ suốt cuộc đời của Chúa Giêsu bằng việc cầu nguyện, cho đến khi Người tử nạn và phục sinh; cuối cùng, Mẹ vẫn đã tiếp tục và hỗ trợ những bước đi đầu tiên của Giáo Hội sơ khai (see Acts 1:14). Mẹ Maria đã cầu nguyện với các vị môn đệ đã chứng kiến thấy cái cảnh ô nhục của thập tự giá. Mẹ đã cầu nguyện với tông đồ Phêrô đã tỏ ra quá sợ hãi và rồi cảm thấy hối hận than khóc. Mẹ Maria đã có đó, với các vị môn đệ, ở giữa những con người nam nữ được Con của Mẹ kêu gọi để thành lập Cộng Đồng của Người. Mẹ Maria không tác hành như vị linh mục ở giữa các vị, không! Mẹ là Mẹ của Chúa Giêsu, vị đã cầu nguyện với các vị, trong cộng đồng, như là một phần tử của cộng đồng này. Mẹ đã cầu nguyện với các vị và cầu nguyện cho các vị. Một lần nữa, lời cầu nguyện của Mẹ đã mở đường cho một tương lai sắp được nên trọn, đó là bởi tác động của Thánh Linh, Mẹ đã trở nên Mẹ Thiên Chúa, và cũng bởi tác động của Thánh Linh, Mẹ đã trở nên Mẹ của Giáo Hội. Khi cầu nguyện với Giáo Hội sơ khai, Mẹ trở nên Mẹ của Giáo Hội, bằng việc hỗ trợ các vị môn đệ ở những bước đầu tiên của Giáo Hội trong nguyện cầu, trong khi đợi chờ Thánh Linh. Một cách thinh lặng, luôn thinh lặng. Lời cầu nguyện của Mẹ Maria là một thứ thinh lặng. Các Phúc Âm trình thuật lại chỉ duy một trong những lời cầu nguyện của Mẹ ở Cana thôi, khi Mẹ xin Con của Mẹ cho những người đáng thương sắp bị một trận kinh hoàng xẩy ra trong bữa tiệc cưới. Chúng ta hãy tưởng tượng mà xem, đó là, có một bữa tiệc cưới nào mà cuối cùng uống sữa bởi không còn rượu hay chăng! Quả là một kinh hoàng! Mẹ cầu nguyện và xin Con Mẹ giải quyết vấn đề ấy cho họ. Sự hiện diện của Mẹ Maria ở nơi lời cầu nguyện và bởi lời cầu nguyện, và sự hiện diện của Mẹ giữa các vị môn đệ ở Căn Thượng Lầu, trong khi đợi chờ Thánh Linh, là bằng việc cầu nguyện. Mẹ sinh ra Giáo Hội như thế đó, Mẹ là Mẹ của Giáo Hội. Sách Giáo Lý dẫn giải rằng: "Nơi đức tin của người tỳ nữ khiêm hạ, Tặng Ân của Thiên Chúa", tức là Thánh Linh, "đã được chấp nhận trong khi Ngài đợi chờ ngay từ thuở mới có thời gian" (khoản 2617).

Nơi Đức Trinh Nữ Maria, cái trực giác tự nhiên của nữ giới được thăng hóa bởi mối hiệp nhất độc đáo nhất của Mẹ với Thiên Chúa nơi việc nguyện cầu. Đó là lý do tại sao, khi đọc Phúc Âm, chúng ta thấy rằng có những lúc Mẹ dường như khuất dạng, chỉ tái xuất hiện vào những lúc hệ trọng thôi: Mẹ Maria cởi mở trước tiếng nói của Thiên Chúa là những gì dẫn dắt tâm can của Mẹ, dẫn dắt các bước chân của Mẹ ở những nơi nào cần đến sự hiện diện của Mẹ. Sự âm thầm hiện diện của Mẹ, với tư cách là người Mẹ và là người môn đệ. Mẹ Maria hiện diện vì Mẹ là Mẹ, nhưng Mẹ cũng hiện diện vì Mẹ là người môn đệ tiên khởi, người đệ nhất môn đệ đã học biết được những đường lối của Chúa Giêsu hơn hết. Mẹ Maria không bao giờ nói: "Hãy đến đây, Mẹ sẽ chăm lo các thứ cho". Trái lại, Mẹ nói: "Hãy làm bất cứ điều gì Người bảo", bằng cách luôn chỉ về Chúa Giêsu. Tác hành này là mẫu thức của người môn đệ, và Mẹ là người môn đệ tiên khởi: Mẹ cầu nguyện như một Người Mẹ và Mẹ cầu nguyện như là một người môn đệ.

"Mẹ Maria giữ tất cả những điều ấy mà ngẫm nghĩ trong lòng của Mẹ" (Lk 2:19). Thánh ký Luca đã phác tả Người Mẹ của Chúa nơi trình thuật thơ ấu trong Phúc Âm của ngài. Tất cả mọi sự xẩy ra chung quanh Mẹ đều được ngẫm nghĩ trong thâm cung của lòng Mẹ: những ngày sống đầy hân hoan, cũng như những lúc đen tối nhất, khi mà ngay cả Mẹ cũng cố gắng để hiểu được những đường nẻo Ơn Cứu Chuộc cần phải trải qua. Tất cả mọi sự đều được qui tụ lại trong lòng của Mẹ, nhờ đó chúng băng qua cái sàng cầu nguyện và được biển đổi bởi việc cầu nguyện: cho dù là những thứ tặng vật của chư Vị Vương gia Chiêm tinh, hay là cuộc thoát chạy sang Ai Cập, cho đến Ngày Thứ Sáu khổ nạn kinh hoàng. Người Mẹ này giữ tất cả mọi sự, và trình bày chúng khi Mẹ trao đổi với Chúa. Có người so sánh trái tim của Mẹ Maria với một viên ngọc trai rạng ngời khôn sánh, được kết tinh và láng nhẵn bằng việc nhẫn nại chấp nhận ý muốn của Thiên Chúa, theo các mầu nhiệm của Chúa Giêsu được Mẹ suy niệm khi cầu nguyện. Tuyệt vời thay, nếu cả chúng ta nữa, đều có thể nên giống Người Mẹ của chúng ta một chút xíu nào đó! Bằng một con tim cởi mở trước Lời Chúa, bằng một cõi lòng thinh lặng, bằng một tấm lòng tuân phục, bằng một tâm can biết đón nhận Lời Chúa,

http://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2020/documents/papa-francesco_20201118_udienza-generale.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

Bài 14 Cầu Nguyện - Chúa Giêsu Giáo Huấn
11 tháng 11 năm 2020


Xin chào anh chị em thân mến,
Chúng ta tiếp tục giáo lý về cầu nguyện. Có người đã nói với tôi rằng: "Ngài nói quá nhiều về cầu nguyện. Nó chẳng cần thiết". Đúng, cầu nguyện là những gì cần thiết. Vì nếu chúng ta không cầu nguyện, chúng ta sẽ không có sức để tiến tới trong đời. Cầu nguyện giống như dưỡng khí của cuộc đời. Cầu nguyện để chúng ta có được sự hiện diện của Thánh Linh, Đấng luôn dẫn chúng ta tiến bước. Chính vì thế mà tôi nói nhiều về cầu nguyện.
Chúa Giêsu đã cống hiến cho chúng ta tấm gương cầu nguyện liên tục, được thực hiện một cách kiên trì. Việc trao đổi liên lỉ với Chúa Cha, trong thinh lặng cũng như trong tưởng nhớ, là đón bẩy cho tất cả sứ vụ của Người. Các Phúc Âm cũng tường trình về những huấn dụ của Người với các môn đệ, để các vị cũng nhất trí cầu nguyện mà không mệt mỏi. Sách Giáo Lý nhắc lại 3 dụ ngôn trong Phúc Âm Thánh Luca là những dụ ngôn nhấn mạnh đến đặc tính nơi việc cầu nguyện của Chúa Giêsu (khoản 2613).
Trước hết, cầu nguyện cần phải bền bỉ, như con người trong dụ ngôn, khi tiếp đón một người khách bất ngờ đến nhà vào lúc nửa đêm, đi gõ cửa một người bạn mà xin chút bánh. Người bạn ấy trả lời "không!" vì anh ta đã lên giường - thế nhưng người ấy cứ nài nỉ cho đến khi người bạn phải chỗi dạy mà cho người ấy ít bánh (xem Luca 11:5-8). Một yêu cầu bền bỉ. Thế nhưng, Thiên Chúa còn nhẫn nại hơn nữa với chúng ta, và ai gõ cửa một cách tin tưởng và kiên trì chực chờ ở cửa lòng của Ngài sẽ không bị thất vọng. Thiên Chúa bao giờ cũng đáp ứng. Bao giờ cũng vậy. Cha của chúng ta biết rõ những gì chúng ta cần; thái độ kiên định là những gì cần thiết, không phải để tỏ cho Ngài biết hay để thuyết phục Ngài, mà cần thiết để nuôi dưỡng lòng ước muốn và mong đợi nơi chúng ta.
Dụ ngôn thứ hai là dụ ngôn về người đàn bà góa bụa đến xin vị quan tòa minh oan cho mình. Viên quan tòa này là một con người băng hoại, một con người bất chấp luân thường đạo lý, nhưng cuối cùng, cáu tiết lên bởi người đàn bà góa cứ kèo nhèo, ông đã quyết định cho bà được thỏa nguyện (xem Luca 18:1-8)... Vị này nghĩ rằng: "Thế nhưng, tốt hơn nên giải quyết vấn đề này để bà ta khỏi tiếp tục đến quấy rầy ta mãi". Dụ ngôn này làm cho chúng ta hiểu rằng đức tin không phải là một chọn lựa nhất thời, mà là một thái độ can đảm trong việc kêu lên Thiên Chúa, thậm chí dám "tranh cãi" với Ngài, không chiều theo sự dữ và bất công.
Dụ ngôn thứ ba cho thấy một người biệt phái và một người thu thuế lên Đền Thờ cầu nguyện. Người thứ nhất hướng lên Thiên Chúa huyênh hoang khoe khoang công đức của mình; trong khi người kia cảm thấy bất xứng ngay cả việc tiến vào cung thánh nữa. Thiên Chúa không lắng nghe người thứ nhất cầu nguyện, lời cầu của những ai kiêu ngạo, Ngài lại lắng nghe lời cầu nguyện của con người khiêm tốn (xem Luca 18:9-14). Thiếu lòng khiêm nhượng cũng chẳng có vấn đề cầu nguyện thực sự. Chính lòng khiêm nhượng đặc biệt thúc đẩy chúng ta kêu xin nguyện cầu.
Giáo huấn của Phúc Âm thật là rõ ràng, đó là chúng ta cần phải cầu nguyện luôn, ngay cả lúc mọi sự dường như tan vỡ chẳng còn gì, khi Thiên Chúa như thể câm điếc và như thể chúng ta hoang phí thời giờ. Thậm chí tầng trời có đầy tăm tối chăng nữa thì Kitô hữu vẫn không thôi cầu nguyện. Việc cầu nguyện của Kitô hữu vẫn vững mạnh một cách tin tưởng. Có những ngày trong cuộc đời của chúng ta đức tin dường như là một ảo ảnh, một nỗ lực vô bổ. Trong đời của chúng ta có những lúc tăm tối, và vào những lúc ấy, đức tin chẳng khác gì như là một thứ ảo ảnh. Thế nhưng, việc cầu nguyện có nghĩa là chấp nhận ngay cả thứ nỗ lực vô bổ ấy. "Thưa cha, con cầu nguyện mà chẳng cảm thấy gì cả... Lòng con như thể khô khan, cằn cỗi làm sao ấy". Thế nhưng chúng ta cần phải tiếp tục nỗ lực hơn nữa trong những lúc gay go ấy, những lúc chúng ta chẳng cảm thấy gì. Nhiều vị thánh đã trải qua đêm tối đức tin này và tình trạng yên lặng của Thiên Chúa - khi chúng ta nhận biết thì Thiên Chúa lại chẳng đáp ứng gì - và những vị thánh ấy vẫn đã kiên trì.
Trong những đêm tối đức tin ấy, con người cầu nguyện chẳng bao giờ lẻ loi cô độc. Thật vậy, Chúa Giêsu chẳng những là chứng nhân và là thày dạy cầu nguyện; Người còn hơn thế nữa. Người đón nhận chúng ta vào lời cầu nguyện của Người, nhờ đó chúng ta được cầu nguyện trong Người và nhờ Người. Đó là công việc của Chúa Thánh Thần. Vì thế mà Phúc Âm mời gọi chúng ta hãy cầu nguyện cùng Chúa Cha nhân danh Chúa Giêsu. Thánh Gioan cống hiến những lời này của Chúa như sau: "Bất cứ điều gì các con xin nhân danh Thày, Thày sẽ ban cho, để Cha được hiển vinh nơi Con" (14:13). Sách Giáo Lý giải thích rằng: "niềm tin tưởng rằng các lời thỉnh nguyện của chúng ta sẽ được lắng nghe là vì dựa lời cầu nguyện của Chúa Giêsu" (khoản 2614). Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu cống hiến cánh bay là những gì lời cầu nguyện của loài người bao giờ cũng muốn muốn có được. 
Làm sao chúng ta có thể không nhắc lại ở đây những lời của Thánh Vịnh 91, đầy lòng tin tưởng, xuất phát từ một tâm can chỉ biết hy vọng cậy trông hết mọi sự nơi Thiên Chúa: "Ngài sẽ bao bọc bạn bằng cánh cung của Ngài, và bạn sẽ được ẩn náu trong cánh phủ của Ngài; lòng trung thành của Ngài là khiên thuẫn. Bạn sẽ không lo sợ cảnh hãi hùng ban đêm, hay tên bay ban ngày, hoặc cả dịch khí hoành hành ban đêm lẫn ôn thần sát hại ban trưa" (các câu 4-6). Chính ở nơi Chúa Kitô mà lời cầu nguyện huyền diệu này được nên trọn, và nơi Người mới có được tất cả sự thật ấy. Không có Chúa Giêsu thì lời cầu nguyện của chúng ta có nguy cơ biến thành một nỗ lực loài người, hầu như lúc nào cũng tiến đến chỗ thất bại. Thế nhưng Người đã nhận lấy nơi bản thân Người hết mọi lời kêu than, hết mọi lời than vãn, hết mọi niềm hoan hỉ, hết mọi lời nguyện cầu... hết mọi việc nguyện cầu của nhân loại. Chúng ta đừng quên rằng Thánh Linh là Đấng cầu nguyện trong chúng ta; chính Ngài là Đấng dẫn dắt chúng ta cầu nguyện, dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu. Ngài là tặng ân được Chúa Cha và Chúa Con ban cho chúng ta để duy trì việc gặp gỡ Thiên Chúa. Khi chúng ta cầu nguyện thì chính Thánh Linh cầu nguyện trong cõi lòng của chúng ta.
Chúa Kitô là tất cả mọi sự cho chúng ta, ngay cả trong đời sống cầu nguyện của chúng ta. Thánh Âu Quốc Tinh đã nói đến điều này bằng một diễn tả khôn ngoan mà chúng ta cũng thấy ở trong Sách Giáo Lý rằng: Chúa Giêsu "cầu nguyện cho chúng ta với tư cách là tư tế của chúng ta, cầu nguyện trong chúng ta như là Vị Thủ Lãnh của chúng ta, và được chúng ta cầu nguyện cùng như là Thiên Chúa của chúng ta. Vì thế, chúng ta hãy nhận thức tiếng nói của chúng ta ở nơi Người và tiếng của Người trong chúng ta" (khoản 2616). Đó là lý do tại sao Kitô hữu cầu nguyện thì chẳng sợ gì hết, họ tin tưởng vào Thánh Linh là Đấng được ban cho chúng ta như là một tặng ân, và là Đấng cầu nguyện trong chúng ta, bằng việc khởi động nguyện cầu. Xin Thánh Linh là Thày Dạy cầu nguyện, dạy chúng ta con đường cầu nguyện ấy.
(Sau bài giáo lý, ĐTC kêu gọi như sau:)
Hôm qua, Bản Tường Trình về trường hợp thê thảm của vị nguyên Hồng Y Theodore McCarrick đã được phổ biến. Tôi xin lập lại lòng gắn có của tôi với các nạn nhân bị lạm dụng tình dục, cùng việc quyết tâm nhổ tận gốc rễ thứ sự dữ này.
http://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2020/documents/papa-francesco_20201111_udienza-generale.html
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

+ December 30, 2020