| |
MẤT
– TÌM – MỪNG
Trong cuộc đời truyền giáo, Chúa Giêsu có nhiều dịp tiếp
xúc nhiều hạn người, nhiều tầng lớp xã hội. Theo Tin
Mừng, Chúa đặc biệt ưu ái người nghèo, nghèo vật chất
và nhất là nghèo phẩm giá. Chúa lui tới, gặp gỡ, ăn
uống với họ. Chúa bày tỏ tình yêu đối với họ là tình
yêu thương xót, thông cảm, bao dung, tha thứ và đón nhận.
Chúa đi ngược hẳn lối suy nghĩ của những người lãnh đạo
trong đạo, ngoài đời của xã hội Dothái đương thời. Họ
khinh miệt những người nghèo. Họ xa tránh và gọi những
người nghèo ấy là “phường tội lỗi”.
Hôm
nay, bằng ba dụ ngôn, Chúa dạy những “nhà lãnh đạo Dothái”
bài học của lòng yêu thương thông cảm.
I.
MẤT – TÌM – MỪNG
Bài
Tin Mừng hôm nay, với ba dụ ngôn, để diễn tả nỗi lòng
yêu thương cao cả của Thiên Chúa, có nhiều động từ được
Chúa Giêsu lặp đi lặp lại, đó là những động từ: “mất”
(6 lần), “tìm” (8 lần), “mừng” (8 lần).
- Người
ta bị mất, người ta đi tìm. Tìm thầy, người ta vui mừng.
- Cái
bị mất càng quý giá, càng phải tìm. Tìm thấy, nỗi
vui mừng càng lớn.
Con
người lưu lạc khỏi vòng tay Thiên Chúa, Thiên Chúa lạc
mất con người. Cả dòng lịch sử cứu độ trải dài hàng
thế kỷ là hành động của Thiên Chúa tình yêu đi tìm con
người. Bởi thế, dòng lịch sử cứu độ đã ghi một dấu
ấn tích cực, đó là dấu ấn của cả Hội Thánh Chúa và
biết bao nhiêu anh chị em đã đáp lại sự tìm kiếm của
Chúa.
Con
người, đối với Thiên Chúa, đó là quà tặng quý giá dành
cho chính bản thân Người. Bởi con người đáng quý, cho nên
sự bội nghĩa vong ân của họ gây nên nỗi đau lớn nơi lòng
Thiên Chúa. Một khi Thiên Chúa đã tìm thấy con người qua
sự đáp trả của họ, đó là một niềm mừng vui không xiết.
Chúa Giêsu diễn tả niềm vui này bằng nhiều hình ảnh:
-
Người chủ chiên, sau khi tìm thấy con chiên tự ý bỏ đàn
ra đi, đã “vui mừng vác chiên lên
vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà
nói rằng: ‘Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy
con chiên lạc”.
-
Người phụ nữ cất mọi công sức đi tìm đồng bạc bị lạc
mất: “Đốt đèn, quét nhà, tìm kỹ
lưỡng cho đến khi tìm thấy”. Khi tìm thấy, “bà mời các
chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: ‘Chị
em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm thấy đồng bạc
tôi bị mất”.
-
Nhất là người cha nhân hậu, sau bao năm mỏi mòn trông đợi
đứa con phụ nghĩa bạc tình, ông vui mừng hết sức khi tìm
thấy con ông trở về. Niềm vui của ông vỡ òa trong ngày
chính ông được chạm đến cuộc đời đứa con hư hỏng: “Mau
mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu, hãy đeo nhẫn vào
ngón tay cậu, và xỏ giày vào chân cậu. Hãy bắt con be
béo làm thịt để chúng ta ăn mừng, vì con ta đây đã chết,
nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”.
Ba
động từ MẤT – TÌM – MỪNG
xuyên suốt ba dụ ngôn, trở thành một tình ca hay, ca ngợi
lòng yêu thương vừa kỳ diệu, trường kỳ, sâu thẳm trong
hành động tìm kiếm con người của Thiên Chúa, vừa cho thấy:
Tội lỗi đáng ghét, đáng loại trừ, nhưng người có tội,
dù tội của họ nặng đến mức độ nào, vẫn đáng thương,
đáng được tha thứ một khi họ biết ăn năn.
Một
con chiên lạc, một đồng bạc bị mất, một đứa con hư hỏng.
Thực ra đó là hình ảnh của loài người tội lỗi, là linh
hồn con người cần được tình yêu tha thứ của Chúa đón
nhận. Linh hồn còn quý giá hơn bội lần đối với con chiên,
quý giá hơn đồng bạc, quý giá hơn đứa con hoang đàng.
Bởi vậy, một khi tìm lại được linh hồn con người, thì
không phải chỉ cả nhà vui, người chủ vui, hàng xóm vui,
nhưng cả thiên đàng đều vui: “Trên
trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải”.
II.
THÁI ĐỘ NÀO CHO CHÚNG TA?
Thứ
nhất: Biết mình có tội.
Cả
vô tình lẫn cố ý, nhiều lần ta trở thành “người anh cả”
trong dụ ngôn thứ ba, đã không thể thông cảm, không thể
đón nhận anh em mình đứng lên sau khi đã vấp ngã, lại
còn ganh ghét, lên án, kết tội. Đó là thái độ của những
biệt phái và luật sĩ mà bài Tin Mừng nhắc đến nói riêng,
các nhà lãnh đạo trong đạo ngoài đời của xã hội Dothái
nói chung. Chính thái độ loại trừ một cách độc ác này
đã “bị” Chúa dạy liên tiếp bằng ba dụ ngôn đáng giá,
để nhắc nhở họ về tình trạng tội lỗi của chính họ.
Họ cũng cần được tha thứ, cũng cần được Thiên Chúa yêu
thương đón nhận như mọi người. Họ phải khôn ngoan nhìn
mình để khám phá con người thực của mình hơn là nhìn
người anh em để đổ vạ, để lên án.
Hơn
bao giờ hết, chính lúc này đây, lúc mà ta đang lắng nghe
và suy niệm Lời Chúa, hãy biết rằng, Chúa dạy ta đừng
xét đoán, đừng lên án anh em, bởi không phải anh em có
tội, nhưng là chính bản thân ta có tội. Chúa đang dạy
ta hãy cúi đầu nhìn nhận mình tội lỗi mà ăn năn tội
và cầu xin ơn tha thứ như lời thú nhận của người con thứ
trong dụ ngôn thứ ba: “Thưa Cha, con
thật đắc tội với Cha”.
Thứ
hai: Đừng đánh mất hy vọng.
Dù
ta xấu thế nào, tội nặng đến đâu, ta vẫn không có quyền
thất vọng. Hãy tin mãnh liệt rằng, trước khi ta trở về,
Chúa đã đi tìm ta. Chẳng những Chúa không bỏ rơi người
có tội, ngược lại Chúa chủ động đi tìm. Chúa tìm đến
lúc tìm được mới thôi. Ngày nào ta còn xa Chúa, ngày
ấy Chúa còn mòn mỏi trông ngóng, chờ đợi, đau khổ. Chúa
tìm ta, Chúa cần ta, Chúa thương ta, Chúa nâng niu ta. Một
khi đã tìm lại được ta, Chúa không chỉ đón nhận như đón
nhận người con ân hận trở về. Nhưng lòng Chúa mở hội,
lòng Chúa vui mừng khôn tả.
Ta
không có quyền thất vọng trước tình yêu hãi hà của Chúa.
Tại sao ta lại thất vọng trong khi Chúa đang tha thiết chờ
đợi ta trở về cùng Chúa? Tại sao ta không xác tín rằng,
với ơn Chúa, ta sẽ có đủ nghị lực đứng lên trở về với
Chúa? Người con hoang đàng trong dụ ngôn thứ ba toàn làm
điều xấu, chỉ duy nhất có một hành động đẹp mà thôi:
Đứng lên trở về cùng cha. Dẫu chỉ một, nhưng hành động
ấy quá đủ để anh lại được ngự giữa tình yêu của cha.
Dù ta phạm tội đến mức độ nào đi nữa, thì cũng hãy
dứt khoát thực hiện một hành động rất đẹp mà người
con hoang đàng đã thực hiện: Ra đi, trở về cùng Cha và
thưa với Cha rằng: Lạy Cha, con đã lỗi phạm đến Cha. Hãy
nhớ một điều rất quan trọng: Thất vọng là động lực nguy
hiểm lôi kéo ta càng ngày càng xa Chúa. Do đó, thất vọng
càng nhấn chìm ta. Càng đẩy ta lún sâu vào vũng bùn dơ
bẩn của tội lỗi. Thất vọng là giết chết cuộc đời mình,
giết chết tương lai vĩnh cửu của mình, giết chết cơ hội
trở về với tình yêu của Chúa.
Thứ
ba: Tin vào khả năng mình sống thánh thiện.
Ai
trong chúng ta cũng có khả năng làm việc thiện. Đó là
thực tế. Ngay cả một người dù bậm trợn nhất, xấu xa
nhất, thì nội tâm anh ta vẫn khao khát hướng về sự thiện.
Tin
vào khả làm việc thiện, sẽ đưa ta tới một niềm tin quan
trọng khác: Ta có thể đứng lên thay đổi đời sống và hoán
cải lòng mình. Hình tượng người con hoang đàng quyết trở
về với cha của anh là bằng chứng mà Chúa đã dùng để
nhắc ta hãy tin vào khả năng mình nên thánh thiện. Lịch
sử Hội Thánh đã ghi nhận nhiều tấm gương sống đúng như
Lời Chúa dạy qua hình ảnh người con hoang đàng. Chẳng
hạn: thánh Phêrô, thánh Âugustinô, Thánh Phanxicô Asisi, á
thánh Charles de Foucauld… Tất cả những con người thánh
ấy, đều đã có một thời gian sai phạm, nhưng đã tự tin
đứng lên về cùng Chúa. Họ đã thành công. Họ đã nên thánh.
Chính tình yêu của Chúa đã trao cho họ động lực hoán
đổi đời mình. Cũng vậy, Chúa vẫn bao bọc đời ta bằng
tình yêu triều mến của Chúa. Tin tưởng Chúa không bỏ ta,
ta sẽ đủ nghị lực, đủ mạnh mẽ mà dứt khoát giả từ tội
lỗi, trở về cùng Chúa..
Lm.
VŨ XUÂN HẠNH
|
|