| |
Có
Chủ, Chủ nào?
Mấy năm nay, ruộng vườn thua lỗ, đất đai lên giá. Như nhiều
nơi trên đất Việt này, những người ở quê tôi đua nhau bán
đất. Có tiền rồi, người ta cũng “lên hương”: nào nhà cửa
mới, các vật dụng trong nhà mới, xe mới…
Tuần
vừa qua, tôi dâng thánh lễ an táng cho một thiếu niên mười
bảy tuổi. Thiếu niên này chết do… có tiền bán đất. Cách
đây chưa lâu, bà nội của em bán một miếng vườn cho một
nhà kinh doanh gì gì đó tận Đà Nẵng. Em là đứa cháu
nội duy nhất của bà. “Bà cưng thằng
cháu nội của bà nhất nhà,” bà nội em đã từng
tuyên bố như thế. Bán đất xong, việc đầu tiên, bà nội
mua ngay cho thằng cháu cưng một chiếc xe phân khối lớn,
dù em chưa đến tuổi được phép lái xe loại cao. Có xe,
“thằng cháu cưng của nội” đi học bằng xe, đi chơi bằng
xe, đi… trêu ghẹo bạn gái bằng xe cho… “oách” (điều này
khỏi nói ai cũng biết) và đi… nhậu cũng bằng xe…
Vào
một đêm mưa lất phất bay, cháu đi đến khuya chưa về. Bà
nội chờ cháu. Cả nhà chờ cháu. Mãi đến 2 giờ sáng,
người ta đưa cháu về gởi lại gia đình… bằng một xác chết
không còn đỉnh đầu, bởi đỉnh đầu nát bấy. Chiếc xe của
bà nội tặng đứa cháu cưng, để đánh dấu ngày bà nội
giàu có nhờ bán đất, ngày nào đẹp là thế, bây giờ cong
lại như muốn gãy đôi. Những người hữu trách cho biết trong
bao tử “cháu cưng của bà nội” toàn rượu đế. Cháu phóng
xe nhanh trên đường vế nhà sau chầu nhậu. Nhưng cháu không
phóng về đến nhà, lại lao thẳng vào phía trước của xe
tải chạy ngược chiều với cháu. Nhìn thầy xác cháu, bà
nội xỉu vì ép tim, làm mệt và cao máu, phải đi bệnh
viện. Cả nhà rối tung lên vì cháu chết bất ngờ quá.
Có ai ngờ, món quà quý bà nội tặng cháu vì thương cháu,
lại trở thành phương tiện chở cháu đi… gặp “Ông Trời.”
Đau đớn quá. Đau hơn cắt ruột, cắt gan.
Biết
trách ai bây giờ? Trách cháu nông nổi cạn nghĩ? Trách
bà nội cưng cháu? Trách gia đình bỗng dưng giàu có? Hay
trách đồng tiền, trách chiếc xe, trách của cải bội bạc?
Bài
Tin Mừng Chúa nhật 25 thường niên hôm nay cho thấy, Chúa
không trách tiền, không trách của cải. Chúa dạy người
ta phải biết cách sử dụng đồng tiền, sử dụng của cải.
Vì nếu có tiền, có của mà không biếc cách sử dụng,
người ta không chỉ giết chết một hay nhiều mạng sống,
mà nguy hiểm hơn, đau đớn hơn, đáng trách hơn: Người ta
sẽ giết chết sự sống vĩnh cửu của mình, thậm chí của
người khác nữa.
I.
Ý NGHĨA DỤ NGÔN NGƯỜI QUẢN LÝ BẤT TRUNG, GIAN LẬN
Đã
gọi là bất trung, gian lận, lẽ ra, Chúa phải kết án người
quản lý như thế, đàng này Chúa lại khen anh là người
quản lý khôn khéo. Thật ra, Chúa không khen ngợi hành động
gian trá của anh. Chúa không bao giờ đồng tình với sự
xấu: “Con cái đời này khôn khéo
hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.”
(Lc 16, 8). Khi gọi người quản lý là “con cái
đời này,” Chúa Giêsu đã không để anh đứng chung hàng ngũ
với “con cái sự sáng”. Anh chỉ thuộc về đời này, thuộc
về thế gian mà thôi. Nếu hiểu khôn ngoan là thái độ tốt
lành của người tìm kiếm Nước Thiên Chúa, thì người quản
lý trong dụ ngôn không phải là người khôn ngoan, chỉ là
người khéo léo. Anh chỉ được khen là khôn khéo vì “biết
dùng tiền của bất chính mà mua lấy bạn bè”
cho cuộc sống trần gian, chứ không hề được khen là khôn
ngoan vì đã tìm kiếm Nước Thiên Chúa.
Dụ
ngôn của Chúa được dựa trên quan niệm về quản lý của
thời đó. Thường những gia đình giàu hay mướn một quản
lý. Một khi người quản lý đã được tin tưởng, anh ta kể
như người có toàn quyền hành động, miễn là làm sao cho
cho tài sản của chủ không chỉ được bảo đảm mà còn có
thể gia tăng. Và khi làm lợi cho chủ, người quản lý có
quyền hưởng một tỷ lệ hoa hồng tương xứng. Người quản
lý trong dụ ngôn Chúa Giêsu kể, vì lý do nào đó, chủ
không còn tin tưởng anh, không muốn sử dụng anh tiếp tục
công việc quản lý cho ông. Vì sắp bị chủ sa thải, người
quản lý cảm thấy nguy hiểm cho tương lai đời mình. Anh
không thể ăn mày, cũng không thể cuốc đất. Anh nghĩ ra
một cách khả dĩ cứu vãn tình thế sau khi anh mất việc:
Anh gọi những người thiếu nợ chủ lại, lấy biên lai nợ
của họ trừ đi phần hoa hồng mà họ phải trả cho anh, chỉ
còn lại nguyên phần nợ của chủ. Như thế, anh không ăn gian
của chủ. Còn những người mắc nợ, chỉ trả nợ ít hơn,
nên họ sẽ mang ơn anh. Nếu anh thất nghiệp có thể họ sẽ
giúp đỡ anh. Cách làm này được Chúa khen là biết dùng
tiền của mà mua lấy tình người.
Qua
câu chuyện, Chúa muốn dạy ta rằng, cũng như người quản
lý trong dụ ngôn, ta hãy sử dụng tiền của sao cho tiền
của đó mang lại lợc ích đời đời cho ta. Đúng hơn, sống
trong cuộc đời này, ta phải thật sự tôn thờ Chúa trên
hết mọi sự, đừng coi trọng tiền của, đến nỗi quên mất
đức tin, quên mất mình là con của Chúa. Ta không được lao
vào việc kiếm tiền mà quên tất cả cuộc đời mai sau, đừng
chỉ vì tiền của mà trở thành bất lương, trở nên kẻ thù
nghịch với đời sống làm con Chúa.
II.
TỪ BỎ ĐỂ LÀM CON CHÚA
Mang
danh Kitô hữu, nghĩa là chúng ta được vinh dự nhận danh
Chúa Kitô làm tên gọi của mình. Danh của Chúa trở thành
tên chúng ta. Lẽ nào ta lại sống khác Chúa. Chúa đã sống
cả một đời từ bỏ, ta cũng hãy bắt chước Chúa sống siêu
thoát khỏi những ràng buộc của tiền của, của những tính
toán phù hoa trần thế.
Giàu
hay nghèo, không phải là tội. Tội nằm ở chỗ
ta không giữ được mình, mà chỉ sống tham lam, sống chỉ
lo cho đời này, không cần biết đến đời sau.
Giàu
hay nghèo không phải là điều đáng trách móc.
Điều đáng trách móc là thái độ nào của ta trước cái
giàu, cái nghèo của mình, của cuộc sống xung quanh.
Giàu
hay nghèo tự nó cũng không là phúc. Bởi giàu
chưa chắc đã hạnh phúc. Bỗng dưng bán đất rồi trở nên
giàu có, để rồi từ đó lãnh lấy nỗi đau mất mát, chắc
chắn cái giàu ấy, sẽ không bao giờ có ai muốn. Nghèo
chưa hẳn là bất hạnh. Nếu trở lại nghèo như ngày xưa, mà
giữ được mạng sống của cháu, mà trong gia đình có bà,
có cháu chia sẻ vui buồn cùng nhau, chắc đánh đổi tất
cả của cải, bà nội sẽ không chỉ không phiền hà gì, nhưng
còn vui lòng đón nhận.
Câu
chuyện bà nội mua cho cháu chiếc xe đẹp, xe mới để cháu
lao thân vào chỗ chết mà người viết ghi lại ở đầu bài
viết này, không thể đổ cho bà nội giàu có, không thể
đổ cho tiền của bạc nghĩa. Nhưng chắc chắn phải quy trách
nhiệm cho thái độ sống thiếu tinh thần trách nhiệm của
những người trong cuộc: Gia đình đã cưng chiều cháu, khiến
cháu hư hỏng. Thậm chí mua xe phân khối lón cho cháu khi
cháu chưa đến tuổi được phép lái xe như vậy. Gia đình
cũng không kiểm soát việc cháu sử dụng của cải như thế
nào. Bản thân cháu là đứa trẻ tệ bạc đối với tình thương
yêu của những người thân của mình. Không biết trước khi
có tiền và sau khi có tiền, tất cả những người trong
gia đình này có bao giờ nghĩ đến việc phải sống siêu
thoát, sống từ bỏ, phải vượt lên trên của cải để chỉ
giữ lấy cho mình đời sống đức tin, để mỗi ngày sống
lại thêm một ngày giống mẫu gương của Chúa Kitô, Thiên
Chúa làm người từ bỏ tất cả để trở nên một con người
hèn hạ giữa trần gian? Nếu đã từng ý thức danh hiệu
Kitô hữu của mình để nên giống Chúa Kitô, và chuyên lo
giáo dục con cháu sống đức tin, có lẽ gia đình này đã
không xảy ra đau thương và ân hận như đã nói? Cái chết
đớn đau ấy là cái giá phải trả cho việc biến mình thành
kẻ làm tôi tiền của. Bởi nếu đã ra sức làm tôi Chúa,
chứ không làm tôi tiền của, chắc đã không bị tiền của
cướp mất mạng sống oan uổng như thế. Bởi khi làm tôi Chúa,
người ta sẽ sống có tư cách, sống đàng hoàng, sống biết
yêu mình và yêu mọi giá trị tốt lành trong cuộc đời.
Sống “yêu” như thế là sao có thể gây ra tan vỡ và tai hại
đến thế. Lời Chúa mãi mãi vẫn là lời đanh thép đánh
vào tất cả những ai tự biến mình thành kẻ nô lệ tiền
của: “Không gia nhân nào có thể
làm tôi hai chủ... Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa,
vừa làm tôi tiền của được.” (Lc 16, 13).
Giàu
có thể phạm tội theo cách của người giàu.
Họ sống ích kỷ, chỉ biết lo cho bản thân, sống trong thụ
hưởng mà quên đồng loại của mình. Giàu dễ làm cho người
ta sống xa hoa, sống thiếu tình người, sống hời hợt. Sống
sang giàu có thể dẫn người ta lao vào trụy lạc, sa đọa,
khoe khoang, thậm chí mất đức tin…
Nghèo
có thể phạm tội theo cách của người nghèo.
Họ dễ bị cuốn hút vào việc kiếm tiền. Đồng tiền trở
thành nhu cầu số một chứ không phải đời sống tinh thần,
không phải đức tin vào Chúa. Có thể cái nghèo đưa họ
tới việc nghi ngờ Thiên Chúa, nghi ngờ lòng thương yêu,
nghi ngờ cả sự hiện hữu của Chúa…
Con
đường theo Chúa phải là con đường của sự từ bỏ.
Từ bỏ là con đường ngắn để đến gần Chúa. Cái hay của
người Kitô hữu chân chính biết sống từ bỏ đó là, họ
say mê cả cuộc đời như bất kỳ ai, nhưng họ vẫn say mê Thiên
Chúa trên hết mọi sự. Giữa những điều mau qua trong cuộc
đời mà họ say mê, họ bắt gặp vĩnh cửu, bắt gặp Thiên
Chúa, Đấng họ tôn thờ trên tất cả mọi lợi lộc trần thế.
Họ cũng làm việc, cũng vui chơi, nghỉ ngơi. Nhưng họ cũng
không quên cầu nguyện, tham dự thánh lễ, bác ái, thực
thi mọi nghĩa vụ của một Kitô hữu giữa đời. Họ sống
như mọi người, nhưng họ khác mọi người, vì họ nhìn thấy
Thiên Chúa và để Chúa của họ đi vào chiếm ngự toàn bộ
việc làm, toàn bộ suy nghĩ, toàn bộ hành vi, toàn bộ
đời sống, cả tâm hồn, cả thân xác của họ. Họ yêu đời
và họ yêu Chúa. Họ sống có lý tưởng. Chính Chúa là
lý tưởng duy nhất của đời họ. Người Kitô hữu là việc
và hiến dâng lên Chúa tất cả để thánh hóa tất cả những
gì thuộc về họ. Họ biết làm việc, làm hết sức lực,
nhưng họ cũng biết từ bỏ mọi sự để mãi mãi họ thuộc
về Chúa, và chỉ thuộc về Chúa mà thôi.
Vậy
với những gì Lời Chúa dạy hôm nay, và với những gì vừa
suy nghĩ, chúng ta hãy tự tra vấn lương tâm mình. Cái gì
là điểm tựa của đời tôi, tiền của hay Thiên Chúa? Không
thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của. Vậy
chủ nào đang ngự trị trong tôi?
Điều
cần phải tâm niệm và tâm niệm luôn luôn rằng: Chỉ có Chúa
là hạnh phúc thật của đời tôi!
Lm.
VŨ XUÂN HẠNH
|
|