| |
Chúa
tôn vinh kẻ khiêm nhường và
kẻ khiêm nhường tôn vinh Chúa
I.-
DẪN NHẬP
Trong
cuộc đời hoạt động của Chúa Giêsu, Tin Mừng đã cho chúng ta thấy,
Ngài luôn "đi đến" và "sống với" dân chúng.
Và bất cứ ở đâu, hoặc lúc nào: tại hội trường, trong đền thờ,
trên đường phố, ở nông thôn, ngoài bãi biển hay ở bờ hồ, trong
hoang địa hay trên núi, kể cả trong những bữa tiệc, v.v… Ngài
thường dùng các dụ ngôn hay ngụ ngôn mà giảng dạy, đến nỗi các
Tông Đồ phải thắc mắc: "Tại sao
Thầy lại dùng các dụ ngôn mà nói với họ?" (Mt13,10;
Lc 8,9-10). Phải chăng đây là phương pháp giảng dạy tuyệt vời
của Chúa Giêsu?
Như
chúng ta đã biết, thói quen của những người Pharisiêu là: trước
mặt Thiên Chúa, họ thường hay kể lể dài dòng những thành tích
đạo đức của mình; còn trước mặt người khác, nhất là những người
nghèo khó, thì họ lại coi thường và đòi người khác phải tôn trọng...
Chúa Giêsu không chấp nhận được hành động đạo đức giả đó của họ,
nên Ngài thường hay khiển trách họ là kẻ giả hình; vì họ thường
hay phô trương, tự cao tự đại, lại thích danh vọng, địa vị mà
chẳng bao giờ quan tâm đến những người, tàn tật, đui mù, nghèo
khổ... Hành động đó càng thể hiện rõ nét hơn trong khung cảnh
của một bữa tiệc.
Bài
Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện nhân dịp một bữa tiệc, Chúa
Giêsu kể một dụ ngôn về phép lịch sự của người “dự tiệc và đãi
tiệc”. Tuy nhiên, bài học của Chúa Giêsu không dừng lại chỉ ở
bài học xử sự theo kiểu cách lịch sự ngoài đời. Ngài muốn dạy
một bài học cao hơn và xa hơn, đó là bài học “tôn trọng người
khác”, bài học đó chính là bài học về “Đức khiêm nhường”: “Ai
tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn
lên” (Lc 14,11). Và như thế, còn hơn tôn vinh một
thương hiệu, một tác phẩm hay một danh nhân lỗi lạc..., Chúa Giêsu
chỉ tôn vinh kẻ khiêm nhường mà thôi.
II.-
TÔN VINH KẺ KHIÊM NHƯỜNG
Trong
bài đọc I, sách Huấn Ca dạy rằng: “Càng
tự hạ, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa” (Hc 3,18). Còn
trong bài đọc II cho thấy rằng: Người được ghi tên trên trời,
được dự đại hội của Thiên Chúa, là những người công chính và thánh
thiện (x. Dt 12,23). Và trong bản văn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu
dạy rằng: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ
xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 14,11).
Đại
ý của những câu này là chìa khóa về việc chọn chỗ ngồi, nhưng
lại ám chỉ về việc chọn cho mình một vị thế. Trước tiên, Thiên
Chúa ưu tiên cho con người quyền tự do lựa chọn, nhưng Ngài vẫn
cho những lời khuyên, để sự lựa chọn của con người khỏi lầm đường
lạc lối.
Ai
tôn trọng Lời Thiên Chúa thì sẽ có được sự khôn ngoan (x. Cn 15,33;
22,4) và sẽ biết được ý Chúa muốn, như lời khuyên của Ngôn sứ
Mikha: "Hỡi người, bạn đã được
nói cho hay điều nào là tốt, điều nào Thiên Chúa đòi hỏi bạn:
đó chính là thực thi công bình, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường
bước đi với Thiên Chúa của bạn" (Mk 6,8). Ai
tôn trọng Lời Thiên Chúa, thực thi công bình, nhân nghĩa, khiêm
nhường, người ấy sẽ chọn được vị thế đẹp lòng Thiên Chúa, và chắc
chắn sẽ được Thiên Chúa đề cao (x. 2Cr 10,18). Chính Chúa Giêsu
cũng đã từng chúc phúc cho kẻ khiêm nhường và dạy họ bài học khiêm
nhường của Ngài: “Anh em hãy mang lấy
ách của Tôi, và hãy học với Tôi, vì Tôi có lòng hiền hậu và khiêm
nhường” (Mt 11,29).
Ai
tự cao tự đại thì chính “Tính tự cao
hạ đứa tự cao xuống, người tự hạ sẽ được tôn vinh”
(Cn 29,23; 18,12). Và Thiên Chúa, chính Người sẽ hạ bệ hoặc nâng
ai lên, Vì “Thiên Chúa chống lại kẻ
kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (Gc 4,6;
Cn 3,34).
Đọc
những câu Kinh Thánh trên, quả thực, người viết như vỡ ra một
lẽ: về quyền năng của Đấng Tôn Vinh và vinh dự của người được
tôn vinh, có cái gì đó giống hệt như kiểu một giao ước, một tương
quan qua lại hai chiều giữa Thiên Chúa và loài người; người viết
tạm gọi đó là “giao ước khiêm nhường” liệu có được không? Vì,
Kinh Thánh cũng từng nói: Thiên Chúa tôn vinh kẻ khiêm nhường
và ngược lại kẻ khiêm nhường tôn vinh Thiên Chúa (x. Lc 1,52;
Hc 3,20).
III.-
THIÊN CHÚA CỦA KẺ KHIÊM NHƯỜNG
“Ai
tự tôn mình lên ở đời này sẽ bị Thiên Chúa hạ xuống trong Nước
Ngài và ngược lại, ai tự hạ mình xuống sẽ được Thiên Chúa tôn
lên”.
Lời
Chúa dạy hôm nay, xem ra đảo lộn trật tự giá trị đời thường, hay
ít ra cũng cho thấy có sự khác biệt giữa thế gian và Nước Trời.
Sự khiêm nhường tự hạ mà Chúa dạy không phải là sự chịu lụy, nhịn
nhục theo kiểu “nín thở qua cầu hay chịu đấm ăn xôi”. Nhưng là
một sự chọn lựa tự do trong tinh thần yêu thương và phục vụ; để
biết mình phải làm gì cho tình yêu tha nhân và phải biết sống
phục vụ hết mình như thế nào.
Con
đường đi tới Nước Trời, được Thiên Chúa Cha yêu thương trao ban
chính là thái độ sống khiêm nhường tự hạ: “Vì
sức mạnh của Ngài không dựa vào số đông, quyền lực của Ngài chẳng
ở nơi người mạnh thế. Nhưng Ngài là Thiên Chúa của kẻ khiêm nhường,
là Đấng cứu giúp người hèn mọn, Đấng đỡ nâng kẻ cô thế, Đấng bảo
vệ người bị bỏ rơi, Đấng Cứu Tinh của những ai thất vọng”
(Gđt 9,11). Vì thế, tính tự cao tự đại, hãnh diện về sức mạnh,
luôn là một cái gì rất chướng “thảy đều là tội lỗi” đối với Thiên
Chúa (x. Cn 21,4).
Thiên
Chúa ở bên người khiêm nhường. Ngài sẽ nâng cao người phận nhỏ,
người quyền thế bị lật đổ, người giàu có trở về tay không và kẻ
nghèo đói sẽ no đầy ơn phúc. Từ lời tiên báo của Tiên tri Êdêkien,
đến lời kinh Magnificat của Đức Maria và nay lời dạy của Chúa
Giêsu đều minh nhiên nói lên chân lý: Thiên Chúa đứng về phía
những người khiêm nhường, những người địa vị thấp hèn trong xã
hội, những người bị áp bức bất công, những người nghèo khổ, những
người tàn tật...
IV.-
GƯƠNG KHIÊM NHƯỜNG CỦA CHÚA GIÊSU
"Ai
tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn
lên"
(Lc 14,11). Tất cả cuộc đời của Chúa Giêsu nơi trần thế là một
mẫu gương minh chứng hùng hồn giáo thuyết khiêm nhường mà Chúa
đã dạy: Khi Chúa Giêsu dạy chúng ta bài học về sự khiêm nhường
tự hạ và khi mời gọi mọi người hãy đến học cùng Ngài là Đấng hiền
lành và khiêm nhường, Chúa Giêsu đã đi bước trước và thực hiện
triệt để những gì Ngài giảng dạy. Ngài thực sự là con người của
sự khiêm nhường tự hạ: Từ một địa vị Ngôi Hai Thiên Chúa, Ngài
đã hạ mình làm người bần cùng trong thế gian này; từ một người
Thầy, Ngài đã tự hạ mình rửa chân cho các môn đệ; từ một Đấng
phán một Lời mọi sự liền có, Ngài đã tự hạ vâng lời cho đến nỗi
bằng lòng chịu chết trên cây thập tự. Nơi Chúa Giêsu, sự khiêm
nhường đã đi đến tột cùng, không ai có thể khiêm nhường hơn Ngài.
Ngài khiêm nhường đến tự hủy như thế, cũng là để phục vụ con người
đến hết mình, và để yêu thương họ cho đến cùng. Chính nhờ thế
mà Thiên Chúa Cha đã siêu tôn Ngài (x. Pl 2,6-9).
Gương
khiêm nhường của Chúa Giêsu đã chinh phục và lôi cuốn biết bao
người, cả chúng ta nữa: theo Ngài, học cùng Ngài, tự hạ để trở
nên người hoàn thiện. Nhận thấy mình là con số không và Chúa là
tất cả. Chỉ có những ai hạ mình như thế mới đáng được Chúa tôn
lên.
Lịch
sử Giáo Hội cũng cho thấy nhiều mẫu gương khiêm nhường: như Đức
Maria, Thánh Cả Giuse, Thánh Gioan Tẩy Giả và các Thánh. Ngày
nay, Hội Thánh vẫn đang có và sẽ còn tiếp tục gương khiêm nhường
của Chúa Giêsu, âm thầm xả thân cho đồng loại, hạ mình làm những
công việc dơ dáy hôi tanh, để chăm sóc cho những người phong cùi
lở loét, những bệnh nhân nan y bất trị, những người hấp hối gặp
được trên đường phố, những trẻ em nghèo đói, thương tật trong
các nước chiến tranh, loạn lạc… họ là những người không thể trả
công và chính Chúa là người sẽ trả công thay cho họ: “Nào
những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến mà lãnh nhận gia sản vương
quốc dành cho các ngươi. Vì khi xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn;
Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp
rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các người
đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đã hỏi han” (Mt
25,34-36).
V.-
KHIÊM NHƯỜNG LÀ MỘT NHÂN ĐỨC
Khiêm
nhường là một trong những nhân đức căn bản và quí giá của con
người. Nhờ khiêm nhường con người khám phá được sự cao trọng của
Thiên Chúa và mở ngõ cho con người đi vào sự khôn ngoan. Giáo
huấn trong sách Châm Ngôn dạy rằng: “Kiêu
hãnh đi liền với ô nhục, khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường”
(Cn 11,2); và “Miệng kẻ dại có mầm kiêu
ngạo, môi người khôn bảo vệ người khôn” (Cn 14,3).
Tuy
nhiên, con người có quyền tự hào về mình: đó là những gì mình
đã đạt được, hay đã dày công mà có, nhất là do nỗ lực của cả một
cuộc đời…; những lúc ấy, hãy nhớ lời khuyên trong sách Huấn Ca:
“Con ơi, hãy tự hào một cách khiêm
nhường, và tự trọng đúng với giá trị của con” (Hc
10,28). Và nếu có tự hào, thì hãy tự hào trong Thiên Chúa, vì
tất cả là do tình yêu của Chúa mà có, còn mình vẫn luôn chỉ là
người yếu đuối, bất tài vô dụng.
Vậy,
khiêm nhường đích thực là nhìn nhận thực tế những gì là mình và
những gì mình có. Và đồng thời nhận ra giá trị những gì mình có
chỉ là hồng ân của Thiên Chúa, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào:
là hạnh phúc hay gian khó, lòng luôn cảm nhận được bình an, như
lời tạ ơn của Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu "Tất
cả là hồng ân của Chúa”.
Vì
thế, khiêm nhường luôn là một nhân đức cần thiết để trở nên người
trưởng thành, trở nên người khôn ngoan, và để trở nên người Kitô
hữu thánh thiện.
VI.-
ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG GẮN LIỀN VỚI ĐỨC BÁC ÁI
“Anh
em hãy ăn ở thật khiêm nhường, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình
bác ái mà chịu đựng lẫn nhau”
(Ep 4,2). Chúa Giêsu nhấn mạnh đến lòng khiêm nhường phải song
song với tình bác ái vô vị lợi. Ngay cả trong việc thiết tiệc
cũng phải giữ cho được tình bác ái. Phải quan tâm đến người nghèo
khổ, đến người bất hạnh... vì họ không có gì đến đáp (x. Lc 14,13-14).
Biết bao lần Chúa Giêsu đã ví Nước Trời như một tiệc cưới, trong
đó Thiên Chúa mời gọi không trừ một người nào. Ngài không màng
đến địa vị, chỗ đứng hay thân thế của bất kỳ ai trong xã hội.
Dưới mắt của Thiên Chúa, điều làm nên giá trị nhất của con người
không phải là tài năng, sự thành đạt trong xã hội, mà chính là
tình yêu phục vụ của ta đối với tha nhân.
Khiêm
nhường mà không bác ái, không phục vụ thì nào có ích lợi gì. Khiêm
nhường là phương thế để thể hiện tình yêu sẵn sàng dấn thân đến
với người khổ đau, phục vụ chăm sóc họ. Khiêm nhường chính là
thái độ biết quên mình để yêu thương, hiện diện và phục vụ mọi
người như Chúa Giêsu.
Chúa
Giêsu cũng không kết án những người có địa vị cao trong xã hội,
vì nếu người có quyền cao chức trọng mà biết hạ mình hy sinh phục
vụ người khác thì giá trị của đức khiêm nhường càng tăng hơn gấp
bội. Và chắc chắn, Chúa cũng sẽ khen thưởng họ gấp bội. Vì giá
trị đích thực của con người chính là sự phục vụ vô vị lợi: “Càng
làm lớn, càng phải tự hạ, như thế sẽ càng được đẹp lòng Thiên
Chúa” (Hc 3,18). Do đó, dù là người giầu sang, quyền
cao, chức trọng hay người nghèo hèn, mạt rệp nhất trong xã hội
đều được coi là người cao trọng trong Nước Trời, nếu người đó
biết sống yêu thương và phục vụ.
Và
như thế, giữa sự khiêm nhường và lòng bác ái có một sự gắn kết
hỗ tương với nhau, như lời quả quyết của Thánh Âutinh: “Không
gì cao trọng bằng đức bác ái, nhưng chỉ có đức khiêm nhường mới
duy trì được đức bái ái mà thôi”.
VII.-
LƯU TÂM ĐẾN NGƯỜI NGHÈO, TÀN TẬT, QUÈ QUẶT, ĐUI MÙ
"Hãy
mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, và người đui mù"
(Lc 14,13). Thiên Chúa luôn quan tâm nâng đỡ yêu thương và đứng
về phía những người nghèo khổ, mọn hèn, trẻ thơ, bà góa, người
nghèo… (x. Lc 1,52; Tv 147,6; Ez 21,13). Họ là những người thường
bị khinh miệt và thậm chí còn không được phép tham dự những lễ
nghi trong Đền thờ (x. 2Sm 5,8; Lv 21,18).
Thời
xưa cũng thế và thời nay cũng vậy. Chúng ta thường có khuynh hướng
xem nhẹ, thậm chí coi thường những người nghèo, những người thấp
hèn hơn chúng ta và tôn trọng những người giàu có, địa vị quyền
thế trong xã hội. Lời Chúa nhiều chỗ đã cho chúng ta thấy, trong
Nước Chúa không có phân biệt nô lệ hay tự do, Dothái hay Hylạp,
người giầu hay người nghèo... Cho nên, chúng ta phải biết trân
trọng nhau, ít ra là trong tương quan con người với con người,
xa hơn nữa là trong tư cách con cái Chúa, là anh chị em của nhau.
Như lời Thánh Phêrô dạy: “Tất cả anh
chị em hãy đồng tâm nhất trí, thông cảm với nhau, hãy yêu thương
nhau như anh em, hãy ăn ở nhân hậu và khiêm nhường”
(1Pr 3,8).
Vẫn
biết rằng tình yêu không loại trừ ai, như lời Chúa Giêsu dạy:
“Thầy ban cho anh em một điều răn mới
là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như
Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34), nhưng có một
ưu tiên phục vụ mà toàn thể truyền thống Kitô giáo minh chứng:
“Tình yêu ưu tiên và những quyết định
gợi hứng dành cho người nghèo đó là: ta không thể không ôm ấp
đám đông những người đói khát, thiếu thốn, những người vô gia
cư, những kẻ không được chăm sóc thuốc men, và trên hết là những
kẻ không hy vọng có được một tương lai tốt đẹp hơn. Không thể
không ghi nhận những thực tại hiện hữu này. Phớt lờ họ tức là
trở thành giống như “người giầu có” làm như vẻ không biết đến
người nghèo Ladarô đang nằm ngoài cổng nhà mình” (x.
Lc 16,19-31).
Chúng
ta cũng lưu ý cách riêng đến những người di dân, những người bản
xứ và các dân tộc bộ lạc, những phụ nữ và trẻ em, bởi vì họ thường
là nạn nhân của những hình thức bóc lột xấu xa nhất. Thêm vào
đó có số người vô danh, bị kỳ thị do văn hóa, màu da, chủng tộc,
đẳng cấp, tình trạng kinh tế hay là do cách họ suy nghĩ; đồng
thời có cả những người là nạn nhận của sự kỳ thị tôn giáo. Họ
cần được nâng đỡ và chăm sóc để bảo toàn được nhân phẩm và những
tổn hại.
VIII.-
NHẬN ĐỊNH VÀ ÁP DỤNG
Trong
Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, Thánh Công Đồng nhấn mạnh đến mối
quan tâm đến người nghèo như sau: “Vui
mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất
là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy
vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có
gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng
họ” (trích Gaudium et spes, lời mở đầu, số 1).
Giáo
Hội từ nguyên thủy và cho đến ngày nay, vẫn luôn bày tỏ một tình
yêu ưu tiên dành cho người nghèo và những kẻ không có tiếng nói,
bởi vì Chúa đã đồng hóa với họ một cách đặc biệt: “Ta
bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong
những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính
Ta vậy” (Mt 25,40).
Tuy
Giáo Hội không có những giải pháp kỹ thuật để cống hiến cho những
người nghèo, nhưng khi Giáo Hội loan báo chân lý về Đức Kitô,
về chính mình và về con người, thì bằng cách áp dụng chân lý đó,
Giáo Hội cống hiến sự đóng góp của mình cho việc giải quyết vấn
đề cấp bách của phát triển vào một hoàn cảnh cụ thể. Vấn đề ấy
là vấn đề nhân bản và luân lý.
Hiện
nay, các nhà lãnh đạo Kitô giáo vẫn không ngừng phát huy bổn phận
hướng dẫn và giải thoát người nghèo khỏi những hoạt động dối trá,
sai lầm, và gian ác… của trần thế; nhằm phát triển con người về
mọi mặt theo hướng “chân-thiện-mỹ”. Vì con người là tác nhân chính
và là mục đích của sự phát triển không ngừng. Nó phải được bắt
đầu và kết thúc với sự nguyên vẹn của con người, do được dựng
nên giống hình ảnh Thiên Chúa và được Thiên Chúa ban cho một phẩm
giá và các nhân quyền không thể bị tước bỏ.
Khi
lưu tâm đến người nghèo, Giáo Hội tăng cường mục vụ giữa những
người nghèo: Bằng cách chú ý tới những âu lo của họ và tới những
vấn đề công bằng ảnh hưởng tới đời sống của họ; mặt khác cũng
bao hàm sự cần thiết giúp đỡ họ để họ tự giúp lấy mình, ngõ hầu
họ có thể hành động để cải thiện hoàn cảnh của họ. Giáo Hội còn
phải trở nên một ngôi nhà đầy lòng quảng đại và cố gắng đón tiếp
những kẻ khó nhọc và gánh nặng, vì biết rằng trong Thánh Tâm Chúa
Giêsu, nơi không có ai là người xa lạ, họ sẽ được an nghỉ "Tất
cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Tôi, Tôi
sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của Tôi, và
hãy học với Tôi, vì Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm
hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28-29).
Khi
lưu tâm đến người nghèo, Giáo Hội không thể thờ ơ với đau khổ
của trẻ em, nạn nhân của sự bóc lột, bạo lực và sự dữ. Những sự
dữ ấy không chỉ do cá nhân gây nên, nhưng thường do những cấu
trúc tập thể thối nát. Hiện nay, việc bắt trẻ em lao động, tình
dục với trẻ em và hiện tượng ma túy là những sự dữ của xã hội
ảnh hưởng trực tiếp tới trẻ em, và những sự dữ đó còn kéo dài
theo những tệ nạn khác ở những nơi nghèo đói. Giáo Hội đang nỗ
lực làm tất cả những gì có thể để chiến thắng những sự dữ đó,
hãy hành động nhân danh những kẻ bị bóc lột nhất, để tìm cách
dẫn đưa những người bé mọn tới tình yêu của Đức Giêsu, bởi “vì
Nước Thiên Chúa thuộc về những người giống như họ”
(Lc 18,16).
Khi
lưu tâm đến người nghèo, Giáo Hội quan tâm cách riêng đối với
phụ nữ, hoàn cảnh của họ vẫn là một vấn đề nghiêm trọng trong
xã hội ngày nay, nơi mà sự kỳ thị và bạo lực đối với người phụ
nữ thường xảy ra trong gia đình, tại nơi làm việc và cả trong
hệ thống pháp lý nữa. Nạn mù chữ phổ biến trong giới nữ vẫn còn
nhiều, và thậm chí có nhiều phụ nữ bị đối xử hèn hạ như những
món hàng trong nghề mãi dâm, du lịch và công nghệ giải trí.
Trong
trận chiến chống lại mọi hình thức bất công và kỳ thị ấy, người
nữ phải tìm được nguồn trợ lực trong cộng đồng những người Kitô
hữu. Giáo Hội phải cổ võ những hoạt động cho nhân quyền nhân danh
người nữ. Mục tiêu là phải mang lại được một sự thay đổi thái
độ, nhờ sự hiểu biết đúng đắn hơn về vai trò của người nam và
người nữ trong gia đình, trong xã hội và trong Giáo Hội. Đề cao
phẩm giá và sự tự do của phụ nữ một cách cụ thể và hữu hiệu; đồng
thời, khích lệ vai trò của người nữ trong Giáo Hội bằng cách mở
ra cho họ những cơ hội lớn để hiện diện và hoạt động trong sứ
mạng tình yêu và phục vụ.
IX.-
KẾT LUẬN
Khi
Giáo Hội kêu gọi các Kitô hữu hành động và hy sinh chính mình
để phục vụ và phát triển con người, đặc biệt là với người nghèo.
Cũng nên nhắc lại một vài giá trị nền tảng của truyền thống Kinh
Thánh xưa, như Dân Ítraen xưa kia nhấn mạnh đến mối ràng buộc
không thể tách biệt giữa việc thờ phượng Chúa và chăm sóc người
yếu đuối, điển hình là “người góa bụa,
người ngoại kiều, và kẻ mồ côi” (x. Xh 22,21-22; Đnl
1018; 17,19), họ là những người dễ bị đối xử bất công trong các
xã hội thời đó. Và nhiều lần trong các sách Ngôn sứ, chúng ta
nghe tiếng kêu gào đến công lý, đến sự tổ chức đúng đắn cho xã
hội con người. (x. Is 1,10-17; Am 5,21-24)
Những
điều Chúa Giêsu dạy trong Tin Mừng hôm nay, cũng là một trong
những lời khuyên của Thiên Chúa đã từng được các Ngôn sứ giảng
dạy và ghi chép trong các sách Giáo huấn (x. Cn 25,6-7; Hc 7,4;
13,9-10). Nhưng hôm nay, lời này lại là lời xác quyết và xác thực,
do chính Đấng là Thiên Chúa tự hạ, bày tỏ mình qua đời sống khiêm
nhường và phục vụ đến hiến thân mình. Cũng tưởng rằng, Ngài hiến
thân mình cho ai cao trọng, nào ngờ, Ngài lại hiến thân mình cho
kẻ bé mọn.
Và
trong hành trình loan báo Tin Mừng, các Tông đồ Chúa cũng không
ngừng nhắc đi nhắc lại nhiều lần về phẩm chất cần phải có của
người tín hữu về đức khiêm nhường: “Anh
em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa
chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường”
(1Pr 5,5); “Đừng làm chi vì ganh tị
hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác
hơn mình” (Pl 2,3); “Hãy
đồng tâm nhất trí với nhau, đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích
những gì hèn mọn” (Rm 12,16); “Những
người giàu ở trần gian này, anh hãy truyền cho họ đừng tự cao
tự đại, cũng đừng đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên
Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng”
(1Tm 6,17); “Vậy anh em hãy tự khiêm
tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, để Người cất nhắc
anh em khi đến thời Người đã định” (1Pr 5,6).
Quả
thực, Thiên Chúa ta thờ là: “Một Thiên
Chúa, chỉ muốn lòng thương xót chứ không cần nghi lễ”
(Hs 6,6). Chúa Giêsu cũng từng nói những lời đó: “Ta
muốn lòng nhân từ chứ đâu cần tế lễ” (Mt 9,13), và
“Ta đến không phải để được người ta
phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn
người” (Mc 10,45). Noi gương khiêm nhường của Chúa,
các Thánh và các Kitô hữu trong mọi thời và mọi nơi cũng đã từng
sống khiêm nhường như vậy.
Trước
khi khép lại đề tài này, người viết xin nêu lên đây lời hùng biện
tâm đắc của Thánh Gioan Kim Khẩu: “Bạn
có muốn tôn vinh thân thể Đức Kitô không? Vậy thì đừng phớt lờ
Người khi Người trần truồng. Đừng tôn vinh Người trong đền thờ
bằng vàng và nhung lụa, mà lại để Người ở bên ngoài lạnh cóng
và trần truồng. Đức Giêsu, Đấng đã nói: “Này là mình Ta, này là
máu Ta”, cũng là Đấng đã nói “Bạn thấy Ta đói mà không cho Ta
ăn, Ta khát mà không cho Ta uống, Ta mình trần mà không cho Ta
mặc”. Ích gì nếu Bàn Tiệc Thánh Thể đầy chén thánh bằng vàng,
mà để Đức Kitô đang chết đói? Bạn hãy làm thỏa mãn cơn đói của
Người, rồi với cái gì còn lại, bạn hãy lấy đó mà trang hoàng bàn
thờ cũng được”.
Từ
đây, nguyên tắc sống khiêm nhường và phục vụ trở thành châm ngôn
sống cho mọi người Kitô hữu. Ai sống như vậy thì được nghĩa trước
mặt Chúa và được mọi người yêu mến ở đời này. Và ai duy trì lòng
khiêm nhường phục vụ của mình cho đến chết thì sẽ có cơ hội được
tham dự tiệc Thiên Quốc đời đời trong Quê Trời Hằng Sống.
“Nào
những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dành
cho các ngươi”
(Mt 25,34).
JB
Bùi Ngọc Điệp
|
|