| |
Chứng
từ đức tin
Chúa
Nhật 29 thường niên năm C (21-10-07)
Chứng từ đức tin (Lc 18,1-8)
Có
lẽ đối với một số lớn trong chúng ta, bài Tin Mừng hôm nay hình
như còn mới mẽ, ít được nghe tới. Nhưng
đó chính lại là cái hay, để chúng ta chăm chú nghe trọn bài,
chứ không bị chia trí ngay khi vừa nghe được vài ba câu như
đối với các bài Tin Mừng khác!
Thực
ra, bản văn bài Tin Mừng hôm nay rất dễ hiểu. Người ta có thể
nhận ra ngay được vấn đề
đang được đề
cập tới ở đây là gì: Đó là một người đàn bà góa, yếu đuối,
cô đơn, lẻ loi, không nơi nương tựa, không có tài khoản trong
ngân
hàng, vô danh tiểu tốt; nói tắt là một người hoàn toàn bất
lực để có thể tự vệ cho mình.
Và
trong cuộc sống hằng ngày, những hoàn cảnh tương tự như thế vẫn
đầy dẫy, vẫn xảy ra ngay trước
mắt chúng
ta. Nhưng đời là thế! Cuộc sống ô trọc chốn bể dâu này là thế!
Đó là lý do thường khiến người ta đành phải thúc thủ tự hỏi:
Thế thì trước một hoàn cảnh như thế, ai còn có thể làm được
gì nào?
Thế
nhưng thật tình cờ: một lối thoát bổng chốc xuất hiện: Người
đàn bà góa nghèo hèn đã đạt được mục đích
theo đuổi mình, nguyện vọng của bà đã lập tức được chấp nhận.
Sự kiện đó muốn nói lên rằng, chính ở đây, trong sự thay
đổi đột nhiên đó, lại chứa đựng ý nghĩa trọng yếu mà thánh sử
Lu-ca
muốn trình bày: Thiên Chúa sẽ lập tức ra tay nâng đỡ và bênh
vực cho những ai «đã được tuyển chọn» đang thành tâm kêu
cầu Người. Chính Phúc Âm đã ghi lại từng chữ rõ ràng như thế.
Dĩ
nhiên, điều đó không muốn nói lên điều gì khác hơn là chân
lý này: Thiên Chúa luôn luôn thương giúp;
Người rất sẵn lòng thương giúp; Người thương giúp một cách
mau mắn, vì chính Người là Đấng bảo vệ chở che những người
nghèo đói, những người khổ đau.
Nhưng
ở đây, một câu hỏi đầy tính cách thúc bách và thẳng thắn được
đặt ra: Phải chăng sự thật
là như thế?
Phải chăng đó chẳng qua là những ảo tưởng do lòng đạo đức bày
đặt ra, hoàn toàn trái ngược với những kinh nghiệm trong cuộc
sống cụ thể hằng ngày? Vâng, các phương tiện truyền thông đại
chúng, như báo chí, truyền thanh, truyền hình, v.v… lại trưng
dẫn những chứng từ cụ thể ngược lại! Và ngay khi gặp gỡ và
trao đổi với người khác, người ta cũng nghe được những điều hoàn
toàn
khác hẳn. Do đó, nhiều người đã cho việc cầu nguyện là vô ích,
không cần thiết!
Như
vậy, tất cả những kinh ngiệm đó, những điều mà người ta đã phải
trải qua trên chính bản thân mình, đều
đồng thanh muốn nói lên rằng: Đúng là Thiên Chúa chẳng bênh
vực giúp đỡ gì cả; người ta phải nhọc nhằn vất vã không biết
bao
nhiêu để ngồi chờ đợi sự trợ giúp của Thiên Chúa; những người
nghèo khổ cũng vẫn nghèo khổ, chứ chẳng bao giờ ngóc đầu lên
được; hàng triệu người hằng ngày vẫn phải sống trong cảnh khốn
cùng thảm khốc của mình, v.v… Phải chăng những người như thế
không thuộc về thành phần «được tuyển chọn» của Thiên Chúa,
tức những người chắc chắn sẽ được Thiên Chúa cứu chữa bênh vực,
như
Phúc Âm đã nói sao?
Vâng,
ở đây chúng ta đang thực sự phải đối mặt với một trong những
thách đố cực kỳ khó khăn và đau thương
nhất của đức tin; ở đây chúng ta đang thực sự phải trực diện
với vấn nạn hầu như hoàn toàn bất khả giải đáp: Vấn đề Thiên
Chúa có nhậm lời cầu xin của ta hay không! Nói thế không có
nghĩa là chúng ta được phép bỏ ngõ vấn đề và dừng lại ở đây.
Chúng
ta cần phải tìm ra câu trả lời!
Nhưng
phải chăng tôi có thể trả lời là: Thiên Chúa luôn luôn trợ giúp
theo cách thế của Người;
Thiên Chúa đã
biết rõ trước những gì hữu ích cần thiết cho chúng ta và những
gì không? Hay tôi có thể trả lời là: Người ta cần phải kiên
nhẫn chờ đợi trong ngày sau hết và nơi cuộc sống mai hậu, ở đó
mọi
sự sẽ được đền bù một cách hoàn toàn công bằng thỏa đáng?
Nếu
thế, thì tất cả chỉ mới trả lời có một nửa, chỉ mới trả lời
nửa vời mà thôi. Trong khi đó vấn đề khốn
cùng và nghèo đói đang đày đọa hàng triệu người khắp nơi trên
thế giới vẫn còn tồn đọng đó, chưa đuợc giải quyết xong, và
ngày nay đối với nhiều người nó đã trở thành một thách đố cho
đức
tin; hay nói rõ hơn, nó đã dẫn họ hầu như tới bờ của sự mất
đức tin, tức: Thiên Chúa không cứu giúp, Người vẫn im lặng và
bất
động, Người không hề ra tay, bởi vì đói khát, chiến tranh,
nỗi khốn cùng và chết chóc vẫn còn đó và ở khắp nơi: ở Palestina,
Li-băng, Pakistan, Áp-ga-nít-tan, Ấn-độ, v.v…!
Trong
một trường hợp như thế, chúng ta chỉ còn có thể có hai cách trả
lời:
Thứ
nhất, hoặc là: «Tôi không còn cầu nguyện nữa, tôi không còn tin
gì nữa cả và tôi không còn mong đợi gì
nữa cả. Bởi vì tất cả chẳng có nghĩa lý gì nữa!» Hàng ngàn
người nói rằng: «Ông bà xem, tôi là người thực tế; tôi đã trải
qua
nhiều kinh nghiệm; mọi chuyện rồi cứ thế, chẳng có cải thiện
được gì đâu; tất cả đều vô ích!» Vâng, có hàng ngàn người nói
như thế đó.
Và
bởi vì có hàng ngàn người suy nghĩ và nói như thế, nên trên thế
giới đã được cải thiện và đổi mới rất ít;
bởi vì hàng ngàn người đã hành động như thế, nên trên thế giới
đã có quá ít những điều thiện hảo được thực hiện; bởi vì có
hàng ngàn người tự thúc thủ và sống một cách bi quan yếm thế
như thế,
nên cả nhân loại bị dậm chân tại chỗ; bởi vì có hàng ngàn người
nói: «Đó là định mệnh, người ta đành bó buộc phải chấp nhận,
chứ không thể làm gì khác được nữa, vì mọi sự trước sau rồi
cũng chỉ vậy thôi», nên nhân loại đã không thể khá lên được.
Nhưng
thái độ mệt mỏi, chán nãn, buông xuôi, ngờ vực và thất vọng,
v.v…như thế đều không hòa hợp với tinh
thần Kitô giáo.
Thứ
hai, hoặc là: Tôi không bao giờ buông xuôi bỏ cuộc; cương quyết
tôi phải nỗ lực tranh đấu với cuộc
sống để vươn lên; tôi không thể bằng lòng với hoàn cảnh hiện
tại được; tôi sẽ đổi mới những gì tôi có thể đổi mới được,
vì trong cuộc sống này không bao giờ có gì mà không thay đổi
được;
tôi không muốn sống tiêu cực và ù lì thúc thủ; nhất định tôi
phải tiến lên, chứ không dừng bước hay lui bước lại trên con
đường đã đi qua; tôi không bao giờ dùng đến bạo lực, dù chung
quanh tôi đang đầy dẫy đủ thứ bạo lực; tôi không thoá mạ lại
khi tôi bị thóa mạ; tôi không bao giờ cùng vui cười khi thiên
hạ vui cười về những bất công, những mưu mô thâm độc, quỷ quyệt
và vô nhân đạo; tôi không dây mình vào những hành động bất
công để hưởng lợi; tôi sống và tranh đấu cho một thế giới tốt
đẹp
và nhân bản hơn, dù không ai biết đến điều đó; «tôi tin tưởng
vào điều thiện hảo nơi con người» (Anne Frank)(1) và luôn tìm
cách giúp cho người ấy có được dịp may mắn để thể hiện được
điều thiện hảo đó.
Vâng,
thưa các bạn thân mến, các bạn, những người đang đọc những dòng
chữ tôi viết đây, nếu như có hàng ngàn
người cùng nghĩ như thế, nếu như có hàng ngàn người cũng sống
như thế, và nếu như có hàng ngàn người cũng hành động như thế,
thì chắc chắn thế giới sẽ được canh tân đổi mới, tương lai
nhân loại sẽ tươi đẹp hơn. Những con người như thế sẽ luôn dũng
cảm
và đầy tin tưởng tiến bước không ngừng, luôn tìm kiếm, luôn
kêu xin, luôn gõ cửa, luôn hy vọng, luôn trông cậy và không bao
giờ
mỏi mệt, luôn luôn sốt sắng cầu nguyện, vì họ biết rằng họ
sẽ không bao giờ có thể thực hiện được hết mọi sự.
Những
người như thế: Một đàng, luôn luôn sốt sắng cầu nguyện và đầy
lòng
tin tưởng phó thác nơi Thiên Chúa,
bởi vì họ luôn xác tín được rằng mọi sự đều thuộcc về Người
và tùy thuộc một mình Người mà thôi; đàng khác, họ luôn can đảm
sống và hành động, vì họ biết rằng mọi sự đều đang chờ đợi
bàn
tay của họ, đều tùy thuộc vào họ, đều tùy thuộc vào các khả
năng sáng tạo mà Chúa đã ban cho họ.
Những
con người như thế luôn tâm niệm: «Nguyện xin cho Nước Cha trị
đến.» Và nếu như
họ thấy rằng Nước Thiên
Chúa chưa được hiển trị nơi nào cả, thì ít ra Nước Thiên Chúa
đã bắt đầu đặt được nền móng vững chắc trong trái tim họ.
Những
con người như thế luôn biết tin tưởng vào Thiên Chúa. Và chính
đức tin mang đến cho họ sự tự tín, sức
mạnh nội tâm và sự bình an trong tâm hồn, một sự bình an mà
không một quyền lực trần gian nào có thế ban tặng hay lấy đi
được.
Và
bởi vì họ tin tưởng vào Thiên Chúa và cầu nguyện cùng người,
họ đã không bị lạc đường, họ sống một cách
đúng đắn và hạnh phúc, và luôn thâm tín rằng: «Tốt nhất là
thà thắp lên một ánh sáng nho nhỏ, còn hơn là chỉ ngồi im nguyền
rủa bóng đêm!»
_____________
1.
Anne Frank, 1929-1945, người gốc Do-thái, năm 1945 cô bị mật
vụ Đức Quốc Xã bắt và giết hại tại trại tập
trung Bergen-Belsen. Cô đã nỗi danh qua cuốn «Das Tagesbuch
der Anne F.» - Nhật Ký của Anne F. mà cô đã để lại sau khi chết.
Lm
Nguyễn Hữu Thy - Vietcatholic.net
|
|