SUY NIỆM NĂM C

Lm Jude Siciliano, OP

 

Chúa Nhật XXX Thường Niên -C-Lm. Jude Siciliano, OP

Huấn ca 35:12-14,16-18; Tvịnh 33; 2 Timôthê 4: 6-8:16-18. Luca 18:9-14

Trong dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế cùng cầu nguyện trong Đền Thờ, người Pharisêu được xem là người xấu trong câu chuyện. Anh ta kêu khấn một cách ngạo mạn làm sao! Nhưng anh ta không có vẽ là người xấu đối với những người đang nghe Chúa Giêsu. Người thu thuế có thể là một nhân vật phản diện đối với thính giả của Chúa Giêsu. Anh ta làm nghề thu thuế cho người La Mã. Khi Chúa Giêsu đề cập đến sự hiện diện của người thu thuế trong dụ ngôn, các thính giả nghe câu chuyện của Ngài kể có thể lập tức nghĩ rằng đó là "một người phản bội và có vị thế thấp nhất trong số những kẻ thấp hèn". còn gì nữa nếu không nghĩ gì về đời sống của hai người trong câu chuyện, thì cả hai đều nói lên giá trị đạo đức của họ khá rõ, như chúng ta có thể nghe trong lời cầu nguyện của họ.

Người Pharisêu là người tốt nên được những người thời đó ngưỡng mộ. Anh ta "thánh thiện" đến nỗi anh ta tuân giữ lề luật nhiều hơn những điều luật buộc làm. Sách Đệ Nhị Luật buộc phải nộp mười phần trăm cho thành quả của mùa màng, cây trái và gia súc. Nên lưu ý rằng: Còn người Pharisêu thì nộp tất cả "tiền thu nhập" của mình. Anh ta nộp vượt quá những gì mà lề luật quy định phải làm.

Vì vậy chúng ta có thể nói là cách tự diễn tả của anh ta về đời sống đạo đức thật đúng vì anh ta "không giống như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình". Đời sống anh ta tốt hơn đời sống "người thu thuế kia". Vấn đè với anh ta không phải là anh ta không là người tốt và tuân theo lề luật. Dân chúng thấy người Pharisêu ra khỏi Đền Thờ sau lúc cầu nguyện hôm đó, có thể sẽ đồng ý với anh ta về những sự việc tự đánh giá về chính mình của anh. Anh ta có thể được khen ngợi vì có đời sống gương mẩu. Trong khi đó người thu thuế sẽ bị coi thường về đời sống đạo đức của anh ta. Chúng ta đã thấy rõ hai người đó khác nhau như thế nào.

Đừng vội! Nên nhớ rằng Chúa Giêsu đang dùng dụ ngôn để hướng dẫn họ, và dụ ngôn không bao giờ đi theo hướng "đúng chuẩn" cả; cách dõi theo và xem xét của chúng ta thường theo một định kiến đã có từ trước và được xem như là cách đúng thật. Hãy thử dùng lối suy luận đơn thuần nàn của loài người thì không bao giờ có thể áp dụng cho dụ ngôn. Vì các dụ ngôn không theo đường lối khôn ngoan của loài người. Dụ ngôn hôm nay là một ví dụ điển hình. Khi chúng ta bước vào thế giới của dụ ngôn là chúng ta đang ở trong một thực tại hoàn toàn mới. Và đó là "Triều Đại Thiên Chúa".

Không ai có thể hiểu về cách nói của Chúa Giêsu khi gọi triều đại Ngài là "Tròn lý". Hãy cảm tạ Thiên Chúa! Đã cho chúng ta có cơ hội suy luận để đem đến cho chúng ta sự trọn vẹn suy tư trong đức tin để đem áp dụng vào cuộc sống sự công chính có thể hoàn toàn áp dụng vào đời sống của chúng ta? Thay vào đó, dụ ngôn hôm nay cho chúng ta thấy một lần nữa là các cách thức của Thiên Chúa hướng dẫn chúng ta không theo lý luận của loài người. Sự công chính của Thiên Chúa là ân sủng, và ân sủng không đi đôi với thang cân bằng của sự đo lường do quy chuẩn trong luật lệ của lẽ công bằng che khuất của loài người. Dụ ngôn hôm nay là nói về sự công bằng của Thiên Chúa. Công bằng đó có thể gây đau buồn và bị bỏ lỡ đối với những người tự nghĩ là mình đáng được.

Nếu điều gì mà người Pharisêu nói về anh ta là thật, thì vấn đề đó là gì? Thật thế, anh ta có cái nhìn thật sai lầm: anh ta đang cầu nguyện tập trung về đời sống của chính anh. Thử để ý xem; anh đã bao nhiêu lần nói về từ "con" nghĩa là chính anh. Trong lời cầu nguyện đó; Thiên Chúa như là một người đứng ngoài quan sát về lời cầu nguyện và danh sách những thành quả của anh ta.

Một số người nghĩ rằng lời cầu nguyện của chúng ta có thể làm thay đổi tấm lòng của Thiên Chúa. Thật ra lời cầu nguyện sẽ làm thay đổi chúng ta. Nhưng, không có gì trong lời cầu nguyện của người Pharisêu có thể khiến thay đổi dời sống của anh ta. Dường như anh ta nghĩ là đời sống quá tốt đẹp của anh ta đã làm cho anh ta đáng được hưởng ơn cứu chuộc, và Thiên Chúa cần phải tưởng thưởng anh ta vì việc làm tốt đẹp của anh đã theo đúng đường lối tôn giáo. Dân chúng khi nhìn thấy người Pharisêu hôm đó ra khỏi Đền Thờ một cách hài lòng vì anh ta đã làm tròn bổn phận tôn giáo của mình.

Nhưng, bạn có để ý người Pharisêu chỉ chú trọng về các thành quả của anh ta không? Đâu là ân huệ của Thiên Chúa ở trong đời sống của anh ta? Anh ta tập trung vào các công việc làm tốt của mình. Đến nỗi anh ta không thấy được hoạt động của Thiên Chúa trong đời sống của mình. Nguồn gốc của lòng tốt của con người không khởi sự phát sinh từ trong con người đó, nhưng nó đến từ Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng ban ân huệ và lòng tốt cho chúng ta để chúng ta phản ánh sự tốt lành của Thiên Chúa trong chúng ta.

Thánh Luca nói với chúng ta là Chúa Giêsu kể dụ ngôn "cho một số người sống tự hào cho mình là công chính". Đây là một câu chuyện khuyên chúng ta nên cẩn thận về thái độ của những người sống đạo, và những tổ chức tôn giáo trong chúng ta. Chúng ta tin chắc rằng chỉ có chúng ta mới biết sự thật và biết cách thức phải hành động như thé nào. Người Pharisêu tự hào mình là người công chính, và khinh chê bất kỳ ai không theo đường lối của anh ta. Từ "Người công chính" cho chúng ta rút ra dược kết luận về người tội lỗi và không còn chỗ cho lời đối thoại và bày tỏ sự khác biệt.

Người thu thuế không chú trọng đến chính anh ta, và những điều tốt lành anh ta đã làm. Nhưng, anh ta chú trọng đến việc anh ta đã không làm được. Thật ra, không như người Pharisêu, anh ta không nhìn vào chính mình, nhưng nhìn về Thiên Chúa. Anh ta cầu xin Thiên Chúa ban ơn vì anh ta không tự mình làm được. Anh ta hoàn toàn dựa vào Thiên Chúa, và anh ta phó mình trong tay Thiên Chúa. Khi anh ta ra khỏi Đên Thờ ngày hôm đó anh ta không như người ta thường thấy anh ta. Nhưng, Chúa Giêsu trông thấy sự khác biệt mà dân chúng không trông thấy là "khi anh ta trở về nhà, thì đã được công chính rồi ". Theo lời văn trong Kinh Thánh lời đó có ý nghĩa là anh ta đã được tha thứ tội lỗi. Vậy điều gì đã xãy ra? Người thu thuế làm gì để được "hưởng" sự tha thứ đó? Không gì cà. Anh ta là một người tội lỗi, hoàn toàn trở về với Thiên Chúa để xin ơn tha thứ, và lòng thương xót Thiên Chúa đã đáp lại.

Người hằng tiếp xúc với con người thật trong đời sống của chính mình nên Ngài sẽ biết đâu là sự liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa và với những người khác là ân huệ bởi Thiên Chúa tốt lành ban cho chúng ta. Nhưng, nếu chúng ta nghĩ đến đời sống phàm nhân của chúng ta, chúng ta cũng biết được đôi khi chúng ta yếu đuối và đôi khi dễ dàng sa ngã phạm tội. Vì thế lời cầu nguyện của người thu thuế hôm nay cũng là lời cầu nguyện của chúng ta nữa. "Lạy Chúa xin thương xót con là kẽ tội lỗi". Chúng ta đã đặt lòng tin tưởng của chúng ta vàoThiên Chúa là Đấng đã tạo dựng nên chúng ta, và đã ban bao nhiêu lý do cho chúng ta để ca ngợi về tất cả những sự tốt lành, đẹp đẽ trong chúng ta và xung quanh chúng ta. Chúng ta cũng biết chúng ta có thể tin tưởng vào Thiên Chúa để tha thứ cho chúng ta mỗi khi chúng ta quay lưng về Ngài và chỉ chú trọng về cuộc sống của chúng ta như người Pharisêu.

Ông John Shea nhắc đến kinh nghiệm của cha Thomas Merton, một tu sĩ dòng Trappist và tác giả nhiều sách về đời sống thiêng liêng. Một hôm cha Thomas đứng ở một góc đường ở thành phố Louisville ở tiểu bang Kentucky. Cha cảm thấy hết lòng yêu mến những người xung quanh cha và nghĩ cha không xa họ mà thật ra đang sống cùng họ. Cha nói "Cảm tạ Thiên Chúa, cảm tạ Thiên Chúa vì con cũng như những người khác. Con cũng chỉ là một người trong những người khác". Rồi, nghĩ xa hơn, cha Merton lên tiếng ca ngợi: "Thiên Chúa được tôn vinh vì Ngài đã nên một người trong loài người, một nhân vật trong loài người!" Vì thế trong khi chúng ta "hạ mình xuống" như Chúa Giêsu dạy, chúng ta nên nhớ với lời ca ngợi là chúng ta không chỉ là một thành phần hòa hợp trong nhân loại, nhưng chúng ta cũng hòa hợp với Thiên Chúa là Đấng, trong cử chỉ hạ mình, nhập thế làm người với chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô.

Ông Ben Sira có một trường dạy thanh niên 2 thế kỷ trước Chúa Kitô. Những lời dạy khôn ngoan của ông ta về các sự việc trong thế gian và về truyền thống Do Thái đã được người cháu nội ông gom góp lại để cho những người Do Thái tha phương cố gắng gìn giữ đức tin họ sống giữa những người ngoại. Ông Ben Sira nhắc các học sinh đặc biệt của ông ta là những ân huệ họ đã được lãnh nhận nơi bàn thờ không phải tự làm cho họ được Thiên chúa lắng nghe. Trái lại, như chúng ta nghe hôm nay trong bài đọc thứ nhất: Thiên Chúa nghe lời cầu xin của những người bé mọn nhất trong xã hội.

Bài sách Huấn Ca hôm nay nhắc lại bài tuần vừa qua về dụ ngôn người góa phụ kiên trì đòi công chính bởi vị quan tòa bất chính. Sách Huấn Ca nhắc chúng ta là nếu Thiên Chúa có thiên vị ai thì đó là Ngài thiên vị kẻ bị áp bức. "Lời nguyện của người nghèo vượt ngàn mây thẳm. Họ sẽ không ngơi nghỉ khi lời nguyện của họ chưa đạt tới đích, họ chưa an lòng" Những người trong sách Huấn Ca gọi là "kẻ thấp hèn" là những góa phụ và trẻ mồ côi, người quyền uy không để ý đến. Bởi thế, người nghèo chỉ kêu được đến Thiên Chúa. Sự dựa vào Thiên Chúa trong lời cầu nguyện không chỉ có trong những kẻ thấp hèn, mà cũng có thể có trong lời cầu xin của mỗi người trong chúng ta, những người muốn hạ mình trong đời sống, đặt vào bàn tay của Thiên Chúa. Huấn Ca cũng nhắc các học sinh đặc biệt nên làm như vậy. Sự Chúa Giêsu đến ít hơn 2 thế kỷ sau Huấn Ca, sẽ là một dấu chỉ thực sự về lòng thương xót của Thiên Chúa đang lắng nghe những người thấp hèn nhất.

Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP

30th SUNDAY -C-
Sirach 35: 12-14, 16-18; Psalm 34; 2 Timothy 4: 6-8. 16-18; Luke 18: 9-14

In the parable of the Pharisee and tax collector at prayer, the Pharisee is often depicted in a negative light – he’s the bad guy in the story. How vain and arrogant he is! But he wouldn’t be seen as the bad guy to those listening to Jesus. The tax collector would be the villain in the story to them. His job meant he collected taxes for the Romans. When Jesus mentions his presence in the parable his hearers would have instinctively thought, "Traitor – lowest of the low!" What’s more, if there were any doubt about the quality of their lives, both men stated their moral status quite clearly, as we can hear in their prayers.

The Pharisee is a good person who would have been admired by his contemporaries. He was so "holy" that he did more than was obliged by religious law. Deuteronomy required that a tithe be paid on the fruits of the flock and the harvest. Note that the Pharisee tithes his "whole income." He was going above and beyond what he was obliged to do.

So, we can presume that his description of his moral life is accurate: he is, "not like the rest of humanity–greedy, dishonest, adulterous." He leads a better life than "even this tax collector." His problem isn’t that he is not a good and observant person. People observing the Pharisee leave the Temple after prayer that day would have agreed with his self assessment. He was to be admired for his exemplary behavior; while the tax collector would be despised for his morally bankrupt life. The lines are clearly drawn – case closed.

Not so fast! Remember Jesus is telling a parable and parables never go in the "proper" direction–the one we anticipate and consider inevitable. Trying to use mere human logic and reckoning never really works with the parables. The parables don’t conform to conventual human wisdom. Today’s parable is a good example, that when we enter into the world of the parable we are in a whole new reality. It’s called "the kingdom of God."

No one could ever call the kingdom Jesus came to proclaim "logical." Thank God! What chance would we have if logic and pure human justice were applied to our lives? Instead, today’s parable shows us once again that God’s ways are illogical by human reckoning. God’s justice is about grace, and grace is not measured out using balancing scales like the kind depicted in the hands of our famous legal statute of Blindfolded Justice. Today’s parable is about God’s justice – it’s given to the truly sorrowful and missed by those who think they have to earn it.

If what the Pharisee said about himself was true, what’s the problem? Well, he is looking in the wrong direction. He is praying with his focus on his own life. Notice for example, how many times he refers to himself–"I". God seems no more than an outside observer to the man’s prayer and his list of accomplishments.

Some people think our prayer can change God’s mind. Actually, true prayer will change us. But there was no chance that the Pharisee’s prayer would have any transformative effect on him. He seems to think that his extra good life has earned him the reward of salvation; that God owes him a reward for his religious good works. People seeing the Pharisee leave the Temple that day would have seen a very satisfied person who had performed his religious duties.

But can you recognize the heresy of works in his focus on his own achievements? Where is the gift of God in the man’s life? The Pharisee is so focused on his good works that he fails to see God’s activity in his life. The source of a person’s goodness doesn’t begin in the person, it comes from God. God is the gift giver and our goodness reflects God’s goodness in us.

Luke tells us that Jesus address this parable, "to those who were convinced of their own righteousness…." It’s a cautionary tale about a tendency we religious people and religious institutions can have: the conviction that we alone possess the truth and know the way people should behave. The self-righteous Pharisee condemns anyone who does not meet his standards. The "righteous" draw a conclusion about the sinner and leave no room for dialogue and open exchange.

The tax collector focuses not on who he is, and not what meritorious things he has done; but on who he is not and what he has failed to do. In fact, unlike the Pharisee, he quickly turns his gaze away from himself and towards God. He is in need of God’s blessing and cannot achieve it on his own. He is totally reliant on God and surrenders himself into God’s hands. When he left the Temple that day he would look the same to those observing him. But Jesus marks the difference they would not be able to see in him – he "went home justified." In biblical language that means he was delivered from his sin. How did that happen? What did the tax collector do to "merit" this forgiveness? Nothing. He was a sinner who turned completely to God for forgiveness and God’s mercy responded.

The person who is in touch with his or her humanity will know that our relationship with God and others is a gift from our good God. But, if we are in touch with our humanity, we also know how fragile and sometimes fickle we can be and our potential to sin. So, the tax collector’s prayer today is our prayer as well, "O God, be merciful to me a sinner." We have placed our trust in our God who has created us and provided us with ample reason to give praise for all the beauty and goodness within and around us. We also know we can trust the same God to forgive us when we have turned away and made ourselves the primary focus of our lives–like the Pharisee.

John Shea recalls the revelatory experience Thomas Merton, spiritual writer, Trappist monk, had standing on a street corner in Louisville, Kentucky. Merton was overwhelmed by his love for all the people around him and how he was not separated from them, but one with them. He said, "Thank God, thank God that I am like other [people], that I am only a man among others." Then, in further wonder, Merton exults in praise that, "God… is glorified in becoming a member of the human race. A member of the human race!" ("The Spiritual Wisdom of the Gospels for Christian Preachers and Teachers, Year C: the Relentless Widow," Collegeville: Liturgical Press, 2006, page 299.) So, while we "humble self" as Jesus recommends, we remember with praise that we are not only united with each other in our humanity, but also with God who, in the great act of humility, became one of us in Jesus Christ.

Ben Sira ran an academy for youth two centuries before Christ. His wise teachings on worldly affairs and on the traditions of the Jewish faith were collected by his grandson for future generations of dispersed Jews, who struggled to practice their faith surrounded by nonbelievers. Ben Sira reminded his privileged students that their status and the value of their gifts at the altar did not automatically win a hearing from God. Rather, as we hear today in our first reading, God hears the prayers of the least in society.

Today’s reading from Sirach is reminiscent of last week’s parable of the widow’s insistent demand for justice from the unjust judge. Sirach reminds us that if God plays any favorites it is towards the oppressed, "The prayer of the lowly pierces the clouds, it does not rest till it reaches its goal." Those Sirach describes as "the lowly," exemplified by the widows and orphans, are overlooked by those with worldly power. Thus, the poor have only God to turn to. This reliance on God in prayer is not found only in the lowest, but can be a characteristic of each of us who are willing to humbly place our lives in God’s hands. Sirach is also reminding his privileged students that if God hears the cries of the poor, then they should do the same. Jesus’ arrival, less than two centuries after Sirach, would be a concrete sign of God’s compassionate ear for the lowest.

 

Chúa nhật 29 thường niên, năm C-2019

Xuất hành 17: 8-13; Tvịnh 120; 2 Timôthê 3: 14-4:2; Luca 18:1-18

Chúng ta, người giảng lời Chúa, phải cẩn thận về dụ ngôn được tường thuật trong phúc âm về người góa phụ và ông quan tòa bất chính. Không cẩn thận chúng ta sẽ truyền đạt một hình ảnh sai lệch về Thiên Chúa (Nên nhớ giới răn "các ngươi không nên thờ phượng một chúa lạ trước Ta"). Vì thế; nếu chúng ta không cẩn thận, chúng ta sẽ truyền rao một "chúa lạ" và dường như làm cả những điều mà chúng ta nghe nói có vẻ chính thật và có dụ ngôn làm chứng.

Cái bẫy nó nằm trong xu hướng của thời đại này là chúng ta chỉ muốn nói về nghĩa đen của lời văn. Ý tôi muốn nói chúng ta có thể bỏ mắt phần hình ảnh mô tả của các dụ ngôn này và áp dụng một công thức có tính hạn hẹp do bởi ngôn từ chúng ta giảng giải. Nó có thể được diển giải như thế này: Ông quan tòa là Thiên Chúa và chúng ta là góa phụ. Vì thế như bà góa phụ chúng ta cần phải cầu xin liên tục nếu chúng ta muốn xin Thiên Chúa điều chúng ta cần. Hãy tiếp tục như thế, rồi Thiên Chúa sẽ nghe... Có phải dụ ngôn muốn nói như thế không? Cách này hay cách khác như thế để giảng giải dụ ngôn, coi dụ ngôn như là điều tương tự chứ không phải lầ dụ ngôn. Lời giảng giải như thế sẽ gây ảnh hưởng trên đức tin của chúng ta: Nó sẽ mô tả một Thiên Chúa là Đấng cứng lòng và lời cầu nguyện liên tục của chúng ta như nước đổ lá môn trên trái tim chai cứng của một Thiên Chúa cứng cỏi. Hy vọng cuối cùng rồi cũng sẽ có ngày làm cho Thiên Chúa mệt mỏi. Và chúng ta cũng nên nhớ là ông quan tòa bất chính lại làm cho hình ảnh của dụ ngôn trở nên nguy hiểm nếu như Thiên Chúa là hình ảnh của ông quan tòa bất chính như trong sự tưởng tượng của người nghe dụ ngôn.

Nếu Thiên Chúa bị mô tả một cách sai lệch như thế thì chúng ta, những người đang cầu nguyện liên tục tha thiết về một điều gì sẽ cảm thấy cô đơn, tuyệt vọng vì không có ai đứng về phía chúng ta để bênh vực trước Đấng đầy quyền năng và dường như Ngài miễn cưỡng thuận chấp mà thôi. Nêu lời thuyết giảng như thế, cho dù người giảng thuyết không cố ý, thì rỏ ràng chúng ta đang diễn tả một "Thiên Chúa kỳ lạ" thật đấy. Chắc chằn đó không phải là cách mô tả về Thiên Chúa của Chúa Giêsu và mạc khải về thiên tính của Ngài. Hình ảnh sai lầm này chỉ nhấn mạnh một hình ảnh thời xưa của một Thiên Chúa tức giận vì tội lỗi chúng ta. Thiên Chúa đó sẽ trừng phạt chúng ta rất nhiều nếu không vì Chúa Giêsu, Đấng là đứa Con thân yêu của Thiên Chúa qua lòng trung kiên và hy sinh của Ngài đã chận đứng bàn tay giận dử của Thiên Chúa. Điều này qua Chúa Giêsu. Ngài phải là Đấng Tái Sinh của chúng ta – Để cùng với Chúa Thánh Thần liên kết giữa loài người chúng ta, với Thiên Chúa và qua Chúa Giêsu để gắn kết mật thiết hơn sự liên hệ còn lại.

Ngay cả nếu chúng ta không trích dẫn lời nói từ dụ ngôn trong phúc âm thánh Luca, chúng ta có thể dễ dàng đoán được tác giả là ai. Dụ ngôn đó có dấu chỉ các câu chuyện của thánh Luca. Vì đây là một lần nữa, chúng ta nghe tiếp tục một chủ đề mang đặc điểm nói về người nghèo, phụ nữ và lời cầu nguyện. Góa phụ thường là những người cô thế dễ bị tổn thương trong thời Kinh Thánh và trong các bài đọc. Và trong Kinh Thánh chúng ta thường thấy đề cập đến hai giới người: "góa phụ và mồ côi" là hai giới cô thế và thiếu thốn cần được giúp dở nhất.

Một góa phụ thường sẽ phụ thuộc vào con trai của họ hay một người đàn ông thân thiết trong gia đình để được giúp đở. Góa phụ thường là người cô thế dễ bị tổn thương nếu người đàn ông nhận phụ giúp bà ta không để ý đến nhu cầu của bà. Hay tệ hơn nữa, người đàn ông ấy lường gạt bà. Trong những trường hợp như thế. bà góa phụ sẽ phải chạy đến quan tòa là người có nhiệm vụ bênh vực quyền lợi của góa phụ và người nghèo. Nhưng ông quan tòa trong dụ ngôn lại không đẻ ý đến lời cầu xin của bà góa phụ, và ông ta cũng "chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì". Vậy bà góa phụ chẳng có lợi ích gì khi chạy đến một ông quan tòa như thế? Tất cả mọi sự đều có vẽ chống lại bà góa phụ và câu chuyện khá nghiệt ngã vì không ai giúp bà góa một tí nào cả.

Nhưng đây không phải là một gòa phụ bình thường. Bà ta đối đáp với quan tòa bằng chính bản năng bà với lời nói và sự kiên trì. Điều bà ta muốn chỉ là công lý được thực hiện. Nhưng đó lại là điều mà vị quan tòa không quan tâm đến để giúp bà ta. Điều còn lại duy nhất mà bà góa phụ đó hành xử là kiên trì van nài. Bạn có thấy đó là một câu chuyện buồn cười chăng, Thế nên, bằng sự kiên trì đó mà vị quan tòa vì sợ cái lì của góa phụ sẽ làm cho ông ta nhức đầu nhức óc phải không? Lời văn chính diển tả là quan tòa sợ bà góa phụ “tấn công” ông ta?. Theo bản văn gốc ghi rằng ông ta lo sợ là việc “tấn công” này sẽ làm ông bầm mắt. Tôi nghĩ người theo Chúa Giêsu, là những người thường từ chối quyền của mình đối với người giàu sang hay có quyền lực. cười mỉm chi khi Chúa Giêsu diển tả hình ảnh của một góa phụ "nguy hiểm" sẽ có hành vi mạnh mẽ đối với một quan tòa bất chính.

Câu chuyện bà góa phụ làm chúng ta nhớ đến những người bị mất quyền lợi trong xã hội chúng ta. Lúc này mùa bầu cử sắp đến, chúng ta sẽ nghe tiếng trình bày của những ứng cử viên và những chính trị gia phải không? Quyền lợi của ai đáng được ưu tiên? Tiếng nói của người nghèo và người cô thế và không có quyền hành gì sẽ bị áp chế bởi những cá nhân, những nhóm lợi ích và những nhóm người có quyền lực tài chính phải không? Đây thật sẽ là một cuộc bầu cử đặc biệt hiếm có nếu không xãy ra như thế. Thường thì những người nghèo, người thiểu số, người di cư, người vô gia cư, người bệnh tật, người cao niên và những người còn rất trẻ đều không phải là mục tiêu vận động tranh cử của những ứng cử viên và người bỏ phiếu viên. Chúng ta có thể nghe lời của bà góa phụ một cách khác, vì bây giờ bà ta lên tiếng thay cho những người mà không ai nghe nhắc đến mặc dù nhu cầu của họ thật là cần thiết. Lời bà góa phụ sẽ được nghe hôm nay không bởi những người lên kế hoạch của thành phố vì họ đang mãi lo về những việc như định xây cất một trung tâm điện lực, một bãi chôn rác thải, một nhà máy lọc dầu và nhà máy hóa dầu, hay kho an toàn dự trử dầu? Ai sẽ bị ảnh hưởng trong chính quyền thành phố và chính quyền liên bang khi có các quyết định phải giải tỏa ngôi nhà nào để xây một đường cao tốc mới? Hình ảnh một góa phụ đứng giữa những người di cư nơi biên giới lên tiếng "Hãy ra quyết định công bằng cho chúng tôi, chống với kẻ thù của chúng tôi".

Đây là một trong những dụ ngôn nói về “bao nhiêu là đủ" Chúa Giêsu diển tả một hình ảnh của một vị quan tòa bất chính, rồi ông ta sẽ phải bênh vực bà góa phụ cho rồi vì lời nói kiên trì của bà quấy rầy quan tòa. Nghe như thể quan tòa nói "nếu một người kiên trì liên lỉ như thế này rồi cũng sẽ được đáp lời thì Thiên Chúa cũng sẽ phải chịu thôi?". Tại sao? Vì thiên Chúa không lánh mặt khỏi chúng ta, và Ngài sẽ "bênh vực quyền lợi cho chúng ta" là những ngươi Thiên Chúa đã chọn. Lẽ cố nhiên, sự chống đối của chúng ta dựa vào dữ kiện là biết bao nhiêu điều bất công xãy ra trong xã hội chúng ta, nhất là đối với những người không có quyền lực. Chúng ta cầu xin cho mọi sự được công chính và ngay cả việc cầu nguyện cho chúng ta có thể đóng góp được phần nào trong điều đó. Tuy vậy, chúng ta thường bị cám dỗ trong những hoàn cảnh không khá hơn, đôi khi thấy tuyệt vọng. Cho nên đôi khi có thể làm chúng ta chán nản. Vì không thể làm mọi sự được nên công chính phải không? Chúng ta than phiền "vậy còn ích lợi gì đâu!". Ngay cả khi sự việc được thay đổi khá hơn, vẫn còn bao nhiêu bất công lớn cần giải quyết như trong các gia đình, cộng đoàn giáo xứ, và toàn thế giới. Chúng ta cảm thấy những nổ lực của chúng ta vẫn còn yếu kém và chúng ta muốn rút lui vào thế giới riêng của mình vì "có gì khác biệt nữa đâu?"

Những cảm nghĩ như thế làm chúng ta muốn buông thả những cố gắng của chúng ta về lời cầu xin và về việc làm cho triều đại Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói rỏ ra là sự việc rất khẩn cấp, là sức mạnh của quyền lực chống lại chúng ta còn nhiều và hình như làm cho Ngài lo lắng vì ảnh hưởng trên các môn đệ của Ngài. Ngài hỏi "nhưng khi Con Người đến, Con Người có còn thấy đức tin trên thế gian này không?" Đây là một câu hỏi nhỏ nhen, nhưng là một câu hỏi chính đáng dựa trên kinh nghiệm của giáo hội từ thưở đầu tiên: Môn đệ có công việc khó khăn phải làm, và phải cầu xin để làm cho đến khi Chúa Giêsu trở lại. Và trong lúc chờ đợi, nếu không có thành quả ngay thì sẽ làm cho chúng ta chán nản và đức tin chúng ta sẽ bị thách đố.

Nếu chúng ta muốn tìm thấy một hình ảnh của Đấng Tối Cao trong dụ ngôn này thì không nên nhìn vào ông quan tòa. Vậy có cách nào khác nữa không? Đây là một cách khác trong sách bà Barbara Reid nói về Tân Ước (Dụ ngôn cho các thầy giảng. Phúc âm của thánh Luca, năm C) Bà Reid đề nghị: tìm hình ảnh của Thiên Chúa trong bà góa phụ là người quyết chí chông lại sự bất chính, lên tiếng chống đối cho đến khi thành quả được công chính. Sự giảng giải như thế là điều thiết thực nơi tin mừng của Tân Ước. Đó là năng lực được tỏ ra trong sự yếu ớt. Kết luận cho chúng ta là, vật thì đây là hình ảnh của một Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta theo hình ảnh của Ngài. Nên chúng ta cũng sẽ ra công gây công chính ngay cả khi chúng ta phải chống đối lại những năng lực mạnh hơn chúng ta.

Tôi thích hình ảnh trong bài đọc thứ nhất để cầu nguyện. Mặc dù hình ảnh ông Môsê là gương mẫu mạnh mẽ về đức tin trong những lúc trãi qua những khó khăn, thế mà ngay cả trong khi chiến đấu với Amalek ông Môsê giang tay rồi mệt mỏi. Chúng ta có thể đồng cảm về hình ảnh của sự mệt mỏi đó. Chúng ta cảm thấy mệt mỏi khi giang tay cầu nguyện trong khi đời sống đang làm chúng ta suy sụp đi. Ngay cả ông Môsê cũng cần phải có người giúp đở. Nên ông Aaron và ông Hur giúp đở bằng cách nâng hai cánh tay ông Môsê lên. Mỗi người một bên để hai cánh tay ông Môsê luô cân bằng cho tới khi mặt trời lặn. Tất cả chúng ta cần sự giúp đở trong cuộc đấu tranh chống lại sự dử, chống lại thói xấu để trở nên trung thành trong lúc khó khăn.

Hãy nhìn xung quanh chúng ta trong lúc thi hành phụng vụ bí tích Thánh Thể này. Chúng ta trông thấy nghững người cao niên, người bệnh tật ở đây đang cầu nguyện. Chúng ta biết những người không ra khỏi giường được để dến nhà thờ. Nhưng, chúng ta biêt họ đang cầu nguyện, và đang trung thành với đức tin. Họ trao cho chúng ta sức mạnh và sự quyết tâm cho những lời cầu nguyện yếu ớt của chúng ta. Họ giúp chúng ta vẫn vẫn luôn "giăng tay" cầu nguyện. Có thể có ai đó để ý chúng ta trong giờ phụng vụ này. Chúng ta không nghĩ chúng ta là gương mẩu lớn lao về đức tin. Nhưng, biết đâu có người đang cảm thấy được giúp đở bởi sự cố gắng cầu nguyện chúng ta phải không? Chúng ta có thể giúp họ kiên nhẫn giang tay cầu nguyện trong niềm hy vọng.


Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP

29th SUNDAY -C-
Exodus 17: 8-13; Psalm 121; 2 Timothy 3: 14- 4:2; Luke 18: 1-18


We preachers need to be wary of today’s parable of the widow and the unjust judge, lest we convey a false image of God. (Remember the command, "Thou shall not have strange gods before me.") Well, if we are not careful, we are liable to preach a "strange god" and even seem to make what we say sound legitimate or backed up by this parable.

The trap lies in our modern tendency to be too literal. By that I mean, we tend to miss the imaginative aspects of these parables and apply a strict formula to them in our interpretation. It goes something like this: the judge is God and we are the widows. So, like the widow we need to pray incessantly if we want to get what we want from God. Keep at it, God will eventually give in – isn’t that what the parable seems to imply? This, or similar ways of interpreting parables, treats them as allegories – not parables. Look what such an interpretation does to our faith: it paints God as hard hearted and our constant prayer like water dripping on the stone heart of a reluctant God, hoping to eventually wear God down on our behalf. Remember too that the judge in the parable is unjust – making it even more dangerous to allegorize this parable, lest God take on the features of this judge in our hearers’ imaginations.

If God gets so misrepresented then we, who are praying earnestly and even desperately for something, are made to feel doubly alone, with no one on our side against the Almighty and seeming-reluctant God. If this is what we convey, no matter how unintentionally, then we will have preached a "strange god" indeed! Certainly not the God of Jesus’ words and actions. This false image will only reinforce an old stereotype of a God so offended by our sin, that God would punish us severely, were it not for Jesus, God’s beloved child who, by his faithfulness and sacrifice, stays God’s angry hand. This makes God sound schizophrenic – partially with us in Jesus, but ill disposed as our Creator – with the Holy Spirit going back and forth between us humans and the two trying to tie up the loose ends.

Even if we didn’t have the citation telling us that this is a parable from Luke’s gospel, we could easily guess its authorship. The parable has the signs of a Lucan tale, for again, we hear his often-repeated themes about the poor, women and prayer. Widows were especially vulnerable in biblical times and in the scriptures we often hear the reference to "widows and orphans" – two particularly defenseless and needy groups.

A widow would be dependent on her sons, or a close male relative to take care of her. She was especially vulnerable if the responsible males were indifferent to her welfare, or worse, had defrauded her. In such situations a widow would have recourse to a judge who was supposed to protect the rights of widows and the poor. But the judge to whom our widow turns has no regard for her plight and "neither feared God nor respected any human being." What chance would she have against a judge like this who disregards the basic commandments about God and neighbor? The cards are stacked against her and things look pretty grim for her ever getting her due.

But this is no ordinary widow! She confronts the judge using the only things she has on her side – her voice and her persistence. What she wants is justice, but from a judge who is not in the least bit interested in giving it to her. The only recourse she would normally have had is not in the least bit interested in her just cause. But by her persistence she wears down the judge who finally gives in to her. Don’t you find it amusing to hear the judge’s fear that a widow is going to come and "strike" him? The original language suggests that he is afraid she will give him a black eye. I hear Jesus’ listeners, so often denied their own rights before the rich and powerful, chuckling as Jesus paints this picture of a "dangerous" widow who will give a good boxing to a corrupt male judge.

The widow’s plight calls to mind those who are deprived of justice in our own society. As elections draw near, whose voices are going to be heard by both politicians and voters? Whose interests will be at the top of the list? Will the voices of the poor and powerless be outshouted by individuals and special interest groups who have more financial or voting power? It would be a rare election indeed if this didn’t happen. Most often the poor, minorities, immigrants, homeless, infirmed, aged and very young are not first on the minds of those running for office, or those casting votes. We can hear the widow’s voice in another way, for now she is speaking for those in our society who are not heard despite their just and desperate need. Will her voice be heard today by city planners deciding where to put a new power plant, city dump, petro-chemical plant, refinery? Who will influence municipal and federal governments when decisions are being made about which homes will be destroyed to build a super highway? Picture the widow standing among those disenfranchised at our borders and hear her voice, "Render a just decision for [us] against [our] adversary."

This is one of those "how-much-more parables." Jesus paints a picture of a despicable judge who eventually gives in to the persistent demands of the widow. It is as if he is saying, "If this kind of a person eventually responds, how much more will God?" Why? Because God is not turned against us and will "secure the rights" of God’s chosen. Of course, our struggle lies in the fact that so much in our world is unjust, especially for the disenfranchised. We pray for things to be put right and even pray that we can help make them so. Yet often, conditions don’t improve, sometimes they even get worse. Doesn’t that make you want to despair of every seeing things righted? So, we are tempted to cease our works and quite our prayers. "What’s the use?", we lament. Even when things improve a bit there still is an enormous mountain of wrongs to address – in our homes, church, community and world. We feel our efforts are so puny and so we are tempted to withdraw back into our private world saying, "What difference can I make?"

Such feelings tempt us to quit our efforts at prayer and works on behalf of God’s reign. Jesus expresses how serious the issues are, how powerful the forces against us are and seems to worry about the effects on his disciples. He asks, "But when the Son of Man comes, will he find faith on earth?" Not an idle, or speculative question, but one that is based on the experiences of the church from its beginnings: disciples have hard work and prayer to do until the Lord returns and the wait, without immediate signs of "success," can disillusion us and threaten our faith.

If we are looking for an image of the divine in this parable and don’t find it in the judge, is there another possibility? Here is another approach by the New Testament scholar Barbara Reid. (PARABLES FOR PREACHERS: THE GOSPEL OF LUKE, YEAR C. Collegeville: Liturgical Press, 2000.) She suggests finding the God-like figure in the widow who persistently pursues injustice, denouncing it until justice is achieved. This interpretation is consistent with the New Testament message that power is found in weakness. A conclusion we would draw for ourselves then is that if this is the God in whose image we are made, then we too should tirelessly pursue justice even if it is against more powerful forces than we can muster.

I like the first reading’s image for prayer. As powerful and exemplary a model of faith Moses was during hard times, nevertheless, as the battle against Amalek wears on, Moses’ raised hands "grew tired." We can identify with that fatigue, we who find it hard to keep our hands raised in prayer as life tries to wear us down. Even Moses needed help. So, Aaron and Hur support his hands, "one on one side and one on the other, so his hands remained steady till sunset." We all need help in our struggles against evil forces and in our desire to stay faithful in hard times.

Look around at those who worship with us at this Eucharist. We see the elderly, even infirmed, here – still praying. We know of those who can’t get out of bed to come to church, but we also know they are praying and staying faithful. They give strength and determination to our faltering prayer, they help keep our hands "raised." Perhaps someone notices us here at worship. We don’t think of ourselves as great models of faith, but who knows what straggling soul at prayer is helped by seeing us here? We may be helping them keep their faltering and tired hands "raised" in hope and prayer.

 




 CẦU NGUYỆN BẰNG TÂM TÌNH PHÓ THÁC VÀ TẠ ƠN

Chúa Nhật 30 THƯỜNG NIÊN (C)
Huấn ca 35: 12-14;Tvịnh 33; 2 Timôthê 4: 6- 8,16-18; Luca 18: 9-14

CẦU NGUYỆN BẰNG TÂM TÌNH PHÓ THÁC VÀ TẠ ƠN


Vậy lời cầu nguyện của người Pharisêu có gì lạ? Ngủỏ̀i Pharisêu là một ngủỏ̀i tốt, làm nhủ̃ng việc tốt hỏn lề luật tôn giáo đòi hỏi. Ông ta để ý đến nhủ̃ng sụ̉ dủ̃ xung quanh và dâng lời cám ỏn Thiên Chúa là ông ta không nhúng tay vào nhủ̃ng việc đó nhủ: "bao nhiêu kẻ khác, tham lam, bất chính, ngoại tình…" Ông ta là một ngủỏ̀i tốt. Ông còn điều gì nủ̃a để cám ỏn Thiên Chúa về đỏ̀i sống tốt và công chính của ông ta đâu. Vì sao? Ông ta còn sống tốt hỏn nhủ̃ng đòi hỏi của lề luật Do thái hồi thế kỷ thủ́ nhất. Lỏ̀i cầu nguyện của ông ta nghe ngay thật. Một ngủỏ̀i tốt cám ỏn Thiên Chúa vì đỏ̀i sống tốt của mình. Vậy thì có điều gì lạ lùng đâu? Chúng ta biết có điều lạ lùng là vì Chúa Giêsu dạy dụ ngôn vỏ́i cặp mắt xét xủ̉ ngủỏ̀i Pharisêu tốt bụng.

Chúng ta cũng thấy rằng trong bài đọc thủ́ hai, thánh Phaolô nói đến nhủ̃ng điều ông đã đạt được trong đủ́c tin: "tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đủỏ̀ng, đã giủ̃ vủ̃ng niềm tin". Thật ra là Phaolô còn mong đủọ̉c giải thủỏ̉ng "vòng hoa dành cho ngủỏ̀i công chính". Vì sao Phaolô lại không bị chê bai về việc khoe khoang đỏ̀i sống tốt lành của ông ta nhủ ngủỏ̀i Pharisêu đã làm?

Một ngủỏ̀i bạn tôi buôn bán nhà đất, vủ̀a nói đến châm ngôn nghề nghiệp ông ta: "Có 3 điều quan trọng khi mua nhà: nỏi chốn, vị trí, và vị thế". Chúng ta có thể áp dụng châm ngôn đó cho 2 ngủỏ̀i trong dụ ngôn hôm nay. Nỏi chốn mang dấu chỉ cho việc gì đang xảy ra. Hãy chú ý đến lỏ̀i ngủỏ̀i Pharisêu và ngủỏ̀i thu thuế trong Đền Thỏ̀ khi họ cầu nguyện.

Ngủỏ̀i Pharisêu lên Đền Thỏ̀, nhủng ông ta không cầu nguyện chung vỏ́i cộng đoàn. Ông ta đủ́ng riêng ra một mình, dâng lỏ̀i kinh, dùng tủ̀ ngủ̃ nói về ông ta: "Con" không nhủ…, "Con" ăn chay…, "Con" dâng cho Chúa một phần mủỏ̀i thu nhập v.v. Ông ta không đến Đền Thỏ̀ để cùng vỏ́i nhủ̃ng anh chị em Do thái khác để cầu nguyện vỏ́i nhau. Ông ta tự tách riêng ra khỏi nhủ̃ng ngủỏ̀i khác. Ông ta giủ̃ "vị thế" của ông ta, và nỏi đó không có nhủ̃ng ngủỏ̀i khác, nhủ: ngủỏ̀i đau yếu, ngủỏ̀i cần đủọ̉c giúp đỏ̃, ngủỏ̀i tội lỗi, ngủỏ̀i bị loại ra ngoài xã hội v.v… Về phần thiêng liêng, ông ta cũng tách rỏ̀i ra khỏi nghủ̃ng ngủỏ̀i khác. Mỗi năm lề luật chỉ buộc ăn chay một lần thôi, là ngày Đền Tội. Nhủng ngủỏ̀i Pharisêu ăn chay một tuần hai lần. Ông ta kể cho Thiên Chúa biết đỏ̀i sống của ông ta tốt lành nhủ thế nào. Ít ra chúng ta cảm thấy nhủ thế. Nhủng, lỏ̀i cầu nguyện của ông ta chú trọng đến ông ta chủ́ không hề biết đến Thiên Chúa. Thật ra Thiên Chúa không can thiệp gì đến đỏ̀i sống ông ta. Ông ta không cần Thiên Chúa để nên một ngủỏ̀i xủ́ng đáng tốt lành trong tôn giáo của ông ta.

"Vị thế" của ngủỏ̀i thu thuế cũng xa các ngủỏ̀i khác, nhủng vỏ́i lý do khác. Ngủỏ̀i thu thuế có thể bị nhủ̃ng ngủỏ̀i trong cộng đoàn khinh chê. Thật ra thì nhủ̃ng ngủỏ̀i thu thuế cũng là ngủỏ̀i Do thái làm việc để đủọ̉c một đỏ̀i sống an toàn, bằng cách thu thuế dân Do thái cho ngủỏ̀i La mã. Hãy để ý cách ngủỏ̀i thu thuế xủng hô. Ông ta không dùng tủ̀ "tôi". Ông ta không phải là chủ động trong lỏ̀i nguyện. Chính Thiên Chúa mỏ́i là chủ động. Thiên Chúa làm việc và ngủỏ̀i thu thuế là ngủỏ̀i lãnh nhận. "Lạy Chúa, xin thủỏng xót con là kể tội lỗi". Ông ta không chú trọng đến việc làm của ông ta, tốt hay xấu. Ông ta tín nhiệm vào lòng thủỏng xót củ̉a Thiên Chúa.

Chúa Giêsu khen thái độ khiêm nhủỏ̀ng của ngủỏ̀i thu thuế. Ngủỏ̀i thu thuế tụ̉ biết mình, ông ta không tỏ vẽ khác mình. Ông dụ̉a vào Thiên Chúa làm cho ông ta điều gì ông không tụ̉ mình làm đủọ̉c. "Lạy Thiên Chúa, xin thủỏng xót con là kẻ tội lỗi". Ông ta không xin Thiên Chúa thủỏng xót vì ông ta đã làm đủọ̉c điều gì. Ông lại không nài xin lòng thủỏng xót của Thiên Chúa soi chiếu những gì ông ta cần, nhủng ông ta cậy tín là Thiên Chúa sẽ ban cho ông ta.

Nhủ̃ng ngủỏ̀i nghe Chúa Giêsu có thể ngạc nhiên về dụ ngôn này. Họ có thể ca ngọ̉i ngủỏ̀i Pharisêu vì đỏ̀i sống của ông ta. Nhủng dụ ngôn diễn tả sụ̉ tủỏng quan thật sụ̉ giủ̃a chúng ta vỏ́i Thiên Chúa. Chúng ta không đáng đủọ̉c hủỏ̉ng ỏn huệ của Thiên Chúa, mặc dù việc làm của chúng ta tốt lành đến đâu đi nủ̃a, nhủng chúng ta dụ̉a vào lòng thủỏng xót và tha thủ́ của Thiên Chúa.

Dụ ngôn là một câu chuyện dạy cho ngủỏ̀i đạo đủ́c, nhất là nhủ̃ng ai trong chúng ta đang thuộc về hàng giáo phẩm, hay là giáo dân có chủ́c vụ. Chúng ta cần phải tỉnh thủ́c nghĩ đến nhủ̃ng nghèo hèn của đỏ̀i sống thiêng liêng của chúng ta. Trong bổn phận phục vụ những ngủỏ̀i đang cần đủọ̉c giúp đỏ̃, chúng ta có thể đặt chúng ta xa cách nhủ̃ng ngủỏ̀i mà chúng ta phục vụ. Đó là "vị trí" không tốt đẹp cho ngủỏ̀i môn đệ của Đấng ăn uống vỏ́i phủỏ̀ng tội lỗi. Tình thủỏng yêu của Thiên Chúa mà chúng ta tuyên xủng có thể trỏ̉ thành tự thương cảm cho chúng ta. Chúng ta có thể nhìn vào nhủ̃ng ỏn huệ mà Thiên Chúa ban cho chúng ta nhủ phần thủỏ̉ng cho thái độ của chúng ta. Cũng nhủ ngủỏ̀i Pharisêu, lỏ̀i cầu nguyện của chúng ta có thể trỏ̉ thành một lỏ̀i tụ̉ khen ngọ̉i mình. Khi ngủỏ̀i Pharisêu ra khỏi Đền Thỏ̀ ngày hôm đó, có lẻ ông ta hài lòng, nhủng ông ta không chắc là được tốt hỏn lúc trước khi ông bủỏ́c vào Đền Thỏ̀ để cầu nguyện. Lỏ̀i cầu nguyện của ông ta không phải là một lỏ̀i bày tỏ vỏ́i Thiên Chúa, để được lãnh nhận điều Thiên Chúa có thể ban cho ông ta. Thế nên lỏ̀i cầu nguyện của ông ta không đủa đến sụ̉ hiệp thông trọn vẹn vỏ́i Thiên Chúa. Nhủng ngủỏ̀i thu thuế khi ra khỏi Đền Thỏ̀ đủọ̉c lại được thay đổi vì ỏn huệ của Thiên Chúa.

Nhủ̃ng ai trong chúng ta có thể cảm thấy "vị thế" của mình xa cách nhủ̃ng ngủỏ̀i công chính trong cộng đoàn giáo hủ̃u vì chúng ta là nhủ̃ng ngủỏ̀i mỏ́i đến, nhủ̃ng ngủỏ̀i đã ly dị, nhủ̃ng ngủỏ̀i đồng tình luyến ái, nhủ̃ng ngủỏ̀i vô nghề nghiệp, nhủ̃ng ngủỏ̀i nghèo nàn, nhủ̃ng ngủỏ̀i thuộc chủng tộc hay màu da khác cần nghe lỏ̀i Chúa Giêsu dạy về ngủỏ̀i thu thuế. Có thể chúng ta không nhận biết được giá trị của chúng ta trong cộng đoàn, nhủng Chúa Giêsu nhắc nhỏ̉ chúng ta là trủỏ́c mặt Thiên Chúa chúng ta có giá trị như nhau vì ngủỏ̀i hạ mình xuống sẽ đủọ̉c nhắc lên. Là cộng đoàn giáo hủ̃u chúng ta cần nnỏ́ lại lỏ̀i Chúa Giêsu trong khi chúng ta nhìn đến nhủ̃ng ngủỏ̀i ngồi ỏ̉ các dãy ghế sau trong nhà thỏ̀, hay nhủ̃ng ngủỏ̀i ngồi ở các hàng ghế sau trong xã hội.

Hãy để ý "vị trí" của thánh Phaolô. Lúc ông viết cho đồ đệ Timôthê là khi ông đang ỏ̉ trong tù chỏ̀ đọ̉i sụ̉ chết. Phaolô bị bạn bè ruồng bỏ. Nhủng sụ̉ tín nhiệm của Phaolô dụ̉a vào Thiên Chúa không vi nhủ̃ng việc xủ́ng đáng của ông ta, nhủng vì Thiên Chúa là Đấng "đã cho Phaolô thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc, Đấng sẽ củ́u và đủa Phaolô vào vủỏng quốc của Thiên Chúa ỏ̉ trên trỏ̀i". Cũng nhủ ngủỏ̀i thu thuế, Phaolô không phải là chủ động trong lỏ̀i kinh. Phaolô là ngủỏ̀i thủ̀a hủỏ̉ng, ngủỏ̀i lãnh nhận lòng thủỏng xót của Chúa Kitô. "Chúc tụng Thiên Chúa vinh hiển đến muôn thuỏ̉ đỏ̀i đỏ̀i. Amen". Phaolô đã chọn "vị trí" đúng. Phaolô là ngủỏ̀i thủ̀a hủỏ̉ng ỏn huệ của Thiên Chúa, và ông ta biết. Vì thế Phaolô luôn luôn chúc tụng Thiên Chúa.

Chúa Giêsu dạy dụ ngôn này cho nhủ̃ng ai "biết mình là ngủỏ̀i công chính". Trong tiến Anh ngủ̃ tủ̀ "công chính" có nghĩa tiếng dội của âm thanh. Chúng ta không thích nhủ̃ng ngủỏ̀i "tụ̉ mình nên công chính" nhủ ngủỏ̀i Pharisêu. Nhủng, trong Kinh thánh, ngủỏ̀i công chính là ngủỏ̀i có sự hiệp thông trọn vẹn vỏ́i Thiên Chúa. Thật, đó là điều chúng ta mong muốn phải không? Phaolô đang mong đọ̉i "vòng hoa dành cho ngủỏ̀i công chính trao thủỏ̉ng cho mình", ngủỏ̀i công chính trung thành vỏ́i lỏ̀i giao ủỏ́c. Phaolô cho mình là ngủỏ̀i công chính không phải vì nhủ̃ng việc ông ta đã làm, nhủng bỏ̉i đủ́c tin dụ̉a vào Chúa Giêsu. Đủ́c tin đó làm cho Phaolô nên ngủỏ̀i "công chính".

Phaolô biết đó là ỏn huệ của Thiên Chúa, và bỏ̉i thế Phaolô không nghĩ mình là "ngủỏ̀i tụ̉ nên công chính". Trong dụ ngôn, ai là ngủỏ̀i trỏ̉ thành "công chính" trủỏ́c mắt Thiên Chúa? Đó là ngủỏ̀i thu thuế, là ngủỏ̀i có tủỏng quan đúng vỏ́i Thiên Chúa. Không phải vì việc làm xủ́ng đáng của ông ta nhủ ngủỏ̀i Pharisêu, ăn chay và dâng một phần mủỏ̀i thu nhập, nhủng là bỏ̉i ỏn huệ của Thiên Chúa mà ông ta xủ́ng đáng hủỏ̉ng.

Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP

30th SUNDAY -C-
Sirach 35: 12-14, 16-18; Psalm 34; 2 Timothy 4: 6-8. 16-18; Luke 18: 9-14

So, what’s wrong with the Pharisee’s prayer? He’s a good man who does more than religious obligation requires. He observes the evils of the world around him and gives thanks to God that he is not part of it, like "the rest of humanity, greedy dishonest, adulterous…." He is a very good man. What’s more he thanks God for his good behavior and upright life. Why, he even exceeds the religious demands of first century Judaism! His prayer sounds right: a good man thanking God for his good behavior. What’s the problem? We know there is a problem because Jesus is obviously telling this parable with a critical eye towards the good Pharisee.

We also note that in the second reading Paul enumerates his own accomplishments in the faith, "I have completed well; I have finished the race, I have kept the faith." In fact, he’s even looking forward to his reward, "the crown of righteousness awaits me…." Why isn’t Paul criticized for extolling his good life the way the Pharisee is?

A real estate friend recently quoted the famous dictum of his profession, "There are three things that count when buying a house: location, location and location." We can apply a similar guide to the two characters in today’s parable. Location is a clue to what is happening. Notice where the Pharisee and tax collectors are located as they pray.

The Pharisee went to the Temple, but he isn’t there praying with his community. He is by himself praying prayers in the first person singular. His prayer is full of "I’s" – I am not… I fast… I pay tithes… Etc." He has not come to be with and pray with his Jewish brothers and sisters. He is not praying for his community, or those in need. He is detached from anyone else. He has taken up "his position," and it is not a place that includes others – the needy, sick, sinners, outcasts etc. He also separates himself spiritually from others. There was only one required fast each year – the Day of Atonement. But he fasts twice a week. He is in crediting God for his laudatory life – at least it seems so, but the prayer’s focus is on himself, not God. God really doesn’t play any part in his life. He doesn’t need God at all to be an outstanding and recognized religious person.

The tax collector’s location is also apart from others, but for a different reason. He would have been despised by his community. After all, tax collectors were Jewish men who made their living, a very comfortable living, raising taxes from the Jews for the Romans. Note his grammar. He is not praying in the first person, singular – "I". He is not the subject of his prayer, God is. God is doing the work and he is a recipient of God’s mercy. "Oh God, be merciful to me, a sinner." He is not focusing on his actions, good or bad, he’s trusting in God’s mercy.

Jesus extols the tax collector’s humility: he knows himself, does not pretend to be anything other than himself. He relies on God to do for him what he can’t do for himself, "Oh God, be merciful to me a sinner." He can’t claim mercy based on his merits. But he can ask for it because he needs it and trusts God will give it to him.

Jesus’ listeners would have been surprised by this parable. They would have held the Pharisee in high regard by the evidence of his life. But the parable presents our proper relationship before God, not merited by any human action, however grand, but based on God’s merciful gift of forgiveness.

The parable is a cautionary tale for religious people, especially those of us in public ministry, ordained or lay. We have to be awake to our own spiritual poverty. In our service to others in need we might set ourselves apart serving "them." Not a good "location" for a disciple of the One who kept company and ate with sinners. The love of God which we profess can turn into self-love. We can look upon the gifts we have from God as rewards for our behavior. Like the Pharisee our prayer can easily become a boast. When the Pharisee left the Temple that day he may have felt satisfied, but he certainly wasn’t any different from the person he was when he entered and began to pray. His prayer was not an openness to God and the change God might want to bring about in him. He may have felt content as he left the Temple that day, but his prayer didn’t result in any growth in his relationship with God. But the tax collector left changed by God’s grace.

Those of us who might feel our "location" is apart from the upright members of the church, because we are newcomers, divorced, gay, unemployed, poor, racially and ethnically apart, need to hear Jesus’ words about the tax collector. We might not always experience our worth in the community, but Jesus reminds us of our worth before God – the humble will be exalted. As a church community we need to remember Jesus’ words as we look around at the folks physically or socially in the back pews of our parish church, or the "back pews" of our local community.

Note Paul’s "location." He’s writing to his disciple Timothy from prison, anticipating his death. He was ejected, abandoned by his companions. His trust in God isn’t based on his own merits, but on the Lord who, "will rescue me from every evil threat and will bring me safe to his heavenly kingdom." Like the tax collector Paul is not the subject of the sentence, he is the object, that is, the recipient of Christ’s graciousness. "To him be glory forever and ever. Amen." Paul has chosen the right "location" – he is on the receiving end of God’s graciousness, and he knows it. For that he continually praises God.

Jesus addressed the parable to "those who were convinced of their own righteousness." The English word "righteousness" has a negative sound. We don’t like people who are "self righteous" – like the Pharisee. But in the Bible a righteous person is in right relations with God. Isn’t that what we want? Paul is anticipating the "crown of righteousness" that awaits him. A righteous person has been faithful to the covenant. Paul credits his righteousness not from any work he can take credit for, but from his faith in Jesus. That faith makes him "righteous."

He knows it is a gift from God – and so he is not self-righteous. In the parable who turns out to be righteous, or just, in God’s eyes? It’s a tax collector who is in right relations with God, not because of any work he has done, like the Pharisee’s fasting and tithing, but by God’s gift – a gift he did nothing to earn.

vhd October 29, 2019 ..