Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Lá năm C 14/4/2019

“Dáng em thu nhỏ trong lời nguyện”

(Lc 22: 14-23, 56)

 Khi giờ đã đến, Đức Giêsu vào bàn, và các Tông Đồ cùng vào với Người. Người nói với các ông: "Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa."

 Rồi Người nhận lấy chén, dâng lời tạ ơn và nói: "Anh em hãy cầm lấy mà chia nhau. Bởi vì, Thầy bảo cho anh em biết, từ nay, Thầy không còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến khi Triều Đại Thiên Chúa đến."

 Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói: "Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy." Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói: "Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em.

 "Nhưng này bàn tay kẻ nộp Thầy đang cùng đặt trên bàn với Thầy. Đã hẳn Con Người ra đi như đã ấn định, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người." Các Tông Đồ bắt đầu bàn tán với nhau xem ai trong Nhóm lại là kẻ toan làm chuyện ấy.

 “Dáng em thu nhỏ trong lời nguyện”
“Phơ phất hồn thiêng cánh bướm ma”. 
Gót nhỏ lên thuyền một kiếp xưa, 
Em về trăng mọc bến chân như 
Người em hơi thở say mùi huệ 
Mây trắng vương buồn mắt thái sơ.”

(Đinh Hùng -  Trái Tim Hồng Ngọc)

 Trình thuật thánh Luca, nay kể đôi điều hơi lạ về cuộc thống khổ của Chúa trong giai đoạn chót ở đời người, như đã chép. Điều hơi lạ, còn ở chỗ thánh sử kể về tâm trạng Chúa trầm tĩnh lặng thinh, như tâm tình đồng thuận. Trong khi thánh Mátthêu và Máccô kể về Chúa trong trạng thái ới gọi Cha Ngài đến cứu, rồi thổn thức: sao Cha nỡ bỏ Con, còn lẩn tránh. Trong khi, thánh Luca viết về tâm tình Chúa thinh lặng nguyện cầu là Ngài cốt đặt mình trong tay Cha, Đấng mà Ngài hết lòng tín thác.

 Ngoài ra, thánh Luca còn đưa cái chết của Chúa vào với truyền thống văn học La Mã và Hy Lạp mà người người vẫn gọi đó là “cái chết rất quí tộc”. Nói cách khác, thánh Luca xem nỗi chết của Chúa tựa hồ như cái chết của người La Mã hoặc Hy Lạp rất tốt lành. Sự chết chóc, song hành với nỗi chết của nhà hiền triết Socrates.

 Như nhà hiền triết Socrates, Chúa chấp nhận cái chết trờ đến, nhưng Ngài không từ khước. Và, nhờ vào cái chết cao sang, “quí phái” như thế, Ngài thứ tha hết mọi chuyện của con người. Ngài không hãi sợ, cũng chẳng vãn than, âu sầu, thảm não khi giáp mặt với nỗi chết, thống khổ. Tựa hồ nhà điền kinh từng chuẩn bị kỹ lưỡng mọi chuyển biến đến với mình, Ngài vẫn sẵn sàng.

 Ngài còn đổ mồ hôi lấm bết những máu lúc Ngài tiến về phía trước, hầu đón nhận cái chết thực sự đang đi đến. Bằng vào động thái này, Ngài chứng tỏ cho mọi người chúng ta biết thế nào là sống vinh quang, chết cao cả.

 Cái chết của Chúa, nhìn theo cách này, lại đã mang ý nghĩa của mẫu gương lý tưởng hầu giúp ta đi vào đoạn kết của cuộc sống, rất sẵn sàng. Và, đó cũng là ảnh hình về cái chết của Phó tế Stêphanô từng được chứng minh ở sách Công vụ.

 Người đọc bài “Thương Khó theo thánh Luca” hôm nay có thể hiểu cung cách mà thánh Luca trình bày về cái chết của Chúa và của chính cá nhân mình, tức là cái chết của đấng thánh hiền quyết tâm chết cho Đạo, vì Đạo. Quả thật, Đức Chúa là Đấng đã chết cho Đạo theo cung cách rất lý tưởng. Ngài chết, là để chứng tỏ rằng Ngài tin vào những điều Ngài từng nói nên đã làm. Làm như thế, không có gì đáng trách.

 Và, không có trường hợp nào xảy đến để người đời kình chống Ngài. Dưới tầm nhìn của người La Mã, Hy Lạp cũng như Do thái và của Kinh Sách, Ngài là Đấng anh minh, công chính vẫn rất mực. Ngài hứa đem cõi trời thiên quốc đến với những ai yêu cầu Ngài.

 Ngoài ra, Ngài cũng là Đấng Tẩy trừ hết mọi sự. Tẩy và trừ, mọi quyền uy/bạo lực và những gì xấu xa mà người đời vẫn tìm cách áp đảo kẻ vô tội, yếu kém, bất bạo động. Kẻ vô tội, là người có quyền uy lạ lùng để tẩy và trừ mọi tội lỗi.

 Thánh Luca nhìn Chúa chết lặng trên thập tự nhưng, qua đó, Ngài lại đã thiết lập nên loại hình cộng đoàn rất ư đặc biệt. Chính cộng đoàn dân con Chúa cũng đã hết mình xả thân nguyện cầu và quyết sống theo ý Chúa; sống học hỏi kinh thánh, chăm lo cho người sống ngoài lề xã hội, quyết tạo nơi đặc biệt cho các vị nữ phụ mộ đạo vẫn được dân con trong Đạo coi như nhóm người rất đáng kính trọng.

 Cùng một lúc, thánh Luca còn thấy nơi thành viên cộng đoàn dân con Đạo Chúa như người hôm nay sẵn sàng với “cái chết quí phái” là chết cho Đạo, vì Đạo nếu cần. Bởi, cũng như Đức Giêsu, dân con Đạo Chúa tin vào những gì mình nói và hành động, rất căn bản.

 Trình thuật buổi kiệu rước đón Chúa Vượt Qua, thánh Luca mô tả Chúa đi về Giêrusalem không bằng xe tứ-mã hoặc song-long dát vàng rực sáng. Ngài cũng chẳng uy nghi ngồi trên ngựa như bậc tể tướng thời đế quốc. Không thấy vua quan vương quyền, xưng hùng xưng bá ở đâu quanh quất khi Ngài đến. Ngài đến, chỉ như nông dân tầm thường ngồi trên lừa, đi chậm rãi. Phía trước Ngài, không là đám kỵ mã “vũ khí đến tận răng”, mà chỉ đôi ba lũ trẻ nhỏ vui đùa, chạy nhảy.

 Đi theo Ngài, lại chẳng là đám quan quyền/phục dịch sẵn sàng nhận bàn giao việc hành chánh/quản trị, mà là đám dân thường tâm huyết biết rõ Ngài hoạt động cho họ, ở với họ. Đó, là cách Chúa hiện thực giữa họ theo kiểu cách rất con người.

 Tất cả mọi người nhất mực tin rằng Vinh quang Chúa nay thể hiện trọn vẹn qua việc Ngài “cho đi” chính mình Ngài với phẩm chất rất người. Họ không tin Chúa đưa vinh quang ấy vào chốn không lối thoát.

 Nhưng vinh quang Ngài vẫn diễn tiến theo cách cao sang, rất quí tộc. Họ tin rằng vinh quang ấy nay trở thành mẫu gương quyết định nơi con người của Chúa bằng xương bằng thịt; và nơi việc Ngài thực hiện công cuộc “Vượt Qua” tại chính Giêrusalem này. Đức Giêsu Kitô Con Thiên-Chúa, nay đi vào thành thánh Giêrusalem của Chúa, đó là thời khắc để dân con mọi người cử hành mừng kính lễ Vượt Qua đích thực, cho đời người.

 Đọc Tin Mừng Thương Khó theo thánh Luca, người đọc sẽ nhận ra một đôi chi tiết không thấy có ở nơi nào khác. Không thấy, cả trong Bài Thương Khó theo thánh Máccô vốn là nguồn Tin Mừng giúp thánh Luca có hứng mà ghi chép. Đôi chi tiết ấy là:

 -Vai trò của người dân ở Giêrusalem trên đường thánh giá Chúa đi ngang, đặc biệt là giới phụ nữ sống ở Giêrusalem;

-Lời Chúa trên thập tự cầu Cha tha thứ cho kẻ bách hại Ngài vì họ không biết việc họ làm;

-Đối thoại giữa hai tử tội treo cạnh thập giá Chúa;

-Chúa quả quyết với tên tử tội đã tỏ lòng hối cải;

-Lời cầu vào lúc cuối của Đức Giêsu: Lạy Cha, con xin dâng phó hồn con trong tay Cha;

-Đối đáp của quần chúng chứng kiến cảnh Chúa chịu chết trên thập giá.

 Trong khi đó, thánh Luca lại đã thay thế một số dữ kiện tìm gặp ở trình thuật thánh Máccô, đó là:

 -Lời thú của viên bách quản khi thấy sự việc diễn tiến rất rõ ràng: anh không là con dân của Đức Chúa nhưng chỉ là người tốt, rất biết chuyện.

 Ngoài ra, một số chi tiết thấy xuất hiện ở Bài Thương Khó theo thánh Máccô, nhưng thánh Luca lại đã bỏ sót, là:

 -Trình thuật có qui một số điều về thân phụ của Alexander và Rufus;

-Tên gọi đồi Golgotha;

-Rượu và nhựa thơm;

-Giờ thứ ba;

-Tử tội treo cạnh thánh giá Chúa, lại là các tay ăn trộm;

-Người qua đường nhìn vào cảnh tượng đang diễn tiến, rồi cười chê; 

-Lời Chúa khóc than kêu cầu, cứ nghĩ Cha Ngài bỏ rơi.

           Tựu trung, thánh Luca tuy có dựa vào văn bản gốc về Tin Mừng Thương Khó do thánh Máccô thuật lại, nhưng thánh Luca vẫn diễn tả mọi việc theo phong thái của riêng mình.

 

Lm Kevin O’Shea, CSsR

Mai Tá lược dịch

 

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thánh năm C 14/4/2019

 “Trời còn làm mưa vùi trên nỗi đau”
“Lời ru ấy mãi cho u sầu 
Bàn chân nuối tiếc thương lạc loài.”

(Ngô Thụy Miên – Mắt Thu)

 

(Mt 13: 55)

Mưa vùi trên “Mắt Thu” của ai thế?  Cả người ngoài đời lẫn trong Đạo ư? Thế nhưng, trước khi đi vào những nhận định có hơi “trái khuấy” ở đây, lại xin mời bạn/mời tôi, ta nghe tiếp những ý-lực còn vương-vãi nơi nhạc bản, ở bên dưới:


“Trời còn làm mây buồn qua mắt ai 
Làm tan biến giấc mơ hoang đường 
Rồi buồn trôi theo giòng mưa xuống 
Giận hờn ngày xưa còn vương mắt em 
Làn môi thắm hết ru bao chiều 
Vùng ân ái chết trong mây hồng 
Một lần vào thu mình đang có nhau 
Hàng cây lá rớt trên mi thường 
Bàn tay trắng đan tình với tay 

Ngày đó khi một lần, một lần tiếng hát 
Đồng lõa đưa em vào vùng trời lấp lánh 
Bằng những cánh sao trời đầy đôi mắt ngước trìu mến. 
Anh, anh xa dần ngàn đời hoang vắng 
em đi về buồn chưng kẽ tóc 
bước chân này còn trọn kiếp hoang vu. 

Và rồi mùa thu về trong mắt em 
Hàng cây lá úa xanh xao nhiều 
Vòng tay khép kín đôi mi nồng 
Chuyện mình ngày xưa đành xin lãng quên 
Cuộc tình đã chết theo thu tàn 
Người về đấy xin chọn giấc mơ 

Và rồi mùa thu về trong mắt em 
Hàng cây lá úa xanh xao nhiều 
Vòng tay khép kín đôi mi nồng 
Chuyện mình ngày xưa đành xin lãng quên 
Cuộc tình đã chết theo thu tàn 
Người về đấy xin chọn giấc mơ 

Em có nhớ không một lần khi lá thu bay 
Là lần em đến thăm tôi 
Chung bước yêu đương hẹn hò 
Em có nhớ không một lần khi gió heo mây 
Mình ngồi đan giấc mơ say giận hờn sao vẫn chưa phai 

Một mình đi lang thang trong mùa đông rét mướt 
nghe bơ vơ hồn mình lạc loài 
Buồn dậy lên trên dung nhan gầy xanh cuả tuổi 
trên tháng ngày hằn vết đời mình 
Trời mùa Đông hong khô đi niềm tin sỏi đá 
trên đôi tay này mình còn gì 
Và giòng sông trôi đi vô tình mang tất cả 
cuộc đời này của người hay tôi.”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

“Mùa Đông hong khô niềm tin sỏi đá” ư? Úi chà! Gì mà ghê gớm thế? Vậy thì, có gì làm ướt át niềm tin của người đi Đạo đâu nào?

 Điểm khác biệt giữa người trong Đạo như thế còn hiểu được. Có chăng một khác-biệt giữa người vợ ở Nhật Bản và cả Trung quốc chứ? Dưới đây là câu trả lời, tuy chưa đủ:

 “Nếu bạn đang có ý định lấy vợ người nước ngoài đặc biệt là vợ Nhật hoặc vợ Tàu thì hãy đọc ngay bài viết này nhé          

 Bạn có bao giờ nghe đến câu “Ăn cơm Tàu , ở nhà Tây , lấy vợ Nhật” và thực sự hiểu ý nghĩa của câu này không? Hãy cùng Thăng Long OSC tìm hiểu những điểm thú vị từ trong câu nói thú vị này nhé .

 Bài viết ở đây nói về 14 đặc điểm thú vị về vợ Nhật và vợ Tàu , có thể đây là suy nghĩ phiến diện của mình tôi bởi ở đâu cũng có người này, người kia . Nhưng tôi xin đính chính lại đây là bài viết nói về những đặc điểm chung chứ không phải tất cả ai cũng vậy nhé .

 1. Phụ nữ Nhật Bản dạy con cái họ dũng cảm chiến đấu với những điều sai trái, dù cho có bị thua cuộc, họ vẫn thua trong danh dự tuyệt đối.
– Phụ nữ Trung Hoa dạy con cái trốn tránh, bỏ đi, phớt lờ những điều sai trái. Họ bảo rằng ông Trời sẽ trừng phạt chúng.

 2. Phụ nữ Nhật Bản tin rằng Nhật Bản là đất nước tuyệt vời nhất.
– Phụ nữ Trung Hoa tin rằng cỏ nhà kế bên có thể xanh hơn.

 3. Phụ nữ Nhật Bản thường tin rằng cưới một người ngoại quốc là một sự sỉ nhục.
– Phụ nữ Trung Hoa thường cảm thấy rằng cưới một người ngoại quốc là một vinh hạnh lớn lao.

 4. Vợ Nhật thường hiền lành lúc bình thường, nhưng rất “hư” lúc lên giường.
– Nhiều người vợ Hoa hiền lành trên giường, nhưng rất “hư” khi không còn ở trên giường.

 5. Đa số phụ nữ Nhật Bản có tính tình như một người phụ nữ đích thực, chiều chồng, hỗ trợ chồng, nuôi dạy con, có trách nhiệm.
– Trung Hoa là đất nước có nhiều cuộc tình 1 đêm và ngoại tình nhiều nhất thế giới.

 6. Đa số phụ nữ Nhật Bản đều có lòng hiếu thảo, lễ phép, xem mẹ chồng như mẹ mình.
– Đa số phụ nữ Trung Hoa đều muốn mẹ chồng chết đi càng sớm càng tốt.

 7. Vợ Nhật đối xử với chồng rất tử tế, và kính trọng. Trở về nhà sau một ngày làm việc mệt mỏi, người vợ sẽ nói, “Anh vất vả quá.”
– Vợ Hoa đối xử với chồng bằng những lời phàn nàn, mắng nhiếc. Trở về nhà sau một ngày làm việc mệt mỏi, người vợ sẽ hét, “Ông đi đâu giờ này mới về!”

 8. Đa số con gái Nhật Bản sẽ chọn một người con trai cỡ tuổi mình để cưới và xây dựng cuộc đời mình với anh ta.
– Những cô gái trẻ người Hoa sẽ luôn tìm một ông già giàu có, và không màng gì đến chuyện mình có là người vợ thứ mấy của ông ta.

 9. Mẹ Nhật Bổn dạy con gái họ biết chăm sóc chồng, và luôn kính trọng bố mẹ chồng.
– Mẹ Trung Hoa dạy con gái họ rằng phải luôn kiểm soát chặt chẽ tiền bạc của cải của chồng.

 10. Phụ nữ Nhật Bản có thể chịu được một người nghèo, những tuyệt đối không chịu được một người đàn ông hèn nhát, yếu đuối.
– Phụ nữ Trung Hoa thì ngược lại.

 11. Phụ nữ Nhật Bản cho rằng những người đàn ông nam tính là những người hấp dẫn nhất.
– Phụ nữ Trung Hoa cho rằng những người đàn ông nam tính là những kẻ độc tài trưởng giả.

 12. Đa số phụ nữ Nhật Bản đều rất khoan dung với chuyện chồng mình thiếu chung thủy.
– Đa số phụ nữ Trung Hoa đều rất khoan dung với chuyện chính mình thiếu chung thủy.

 13. Phụ nữ Nhật Bản hầu như không bao giờ nói xấu đàn ông Nhật trước đám đông hay trên truyền thông.
– Phụ nữ Trung Hoa luôn luôn lớn tiếng chửi bới, chỉ trích đàn ông Hoa dưới nhiều hình thức.

 14. Những lời nói đầu tiên của một người phụ nữ Nhật Bản trong đêm tân hôn là: “Nếu em không chăm sóc anh được tốt đêm nay, hãy bỏ qua cho em nhé.”
– Những lời nói đầu tiên của một người phụ nữ Trung Hoa trong đêm tân hôn là: “Nhanh lên đi, rồi còn đếm tiền xem mình kiếm được bao nhiêu nữa.”

 Mỗi phụ nữ có tính cách khác nhau, phụ nữ mỗi nước cũng khác nhau vì thế các bạn nam nên tìm hiểu kỹ trước khi quyết định kết hôn với con gái Nhật hoặc Tàu nhé

 Có câu hỏi khác, lại cứ bảo: Khác biệt trên có thấy rõ ở nơi khác, như nhà đạo? Trả lời cho câu hỏi không mấy dễ dàng này, đề nghị bạn đề nghị tôi, ta đi vào mục hỏi đáp của đấng bậc vị vọng ở Sydney, có những lời như sau:

 “Rất nhiều bản văn ngoài Kinh thánh nói về Đức Giêsu, đã hợp-lực với thánh kinh nói về Ngài. Một số bài viết sớm nhất hồi thế kỷ thứ nhất do sử-gia Do-thái-giáo là Flavius Josephus để lại trong lịch sử Đạo Chúa. Sử gia Josephus sinh năm 37 sau Công nguyên vốn là thượng tế và là người Pharisêu đã hoàn tất 4 tác-phẩm vào cuối thế kỷ này. Nhưng, công-trình nhiều tham-vọng nhất của ông lại xuất hiện vào năm 93 thời đầu có tựa đề là Thời Cổ Sử, một loại dã sử của người Do-thái-giáo do ông dựng.

 Trong cuốn này, ông mô tả việc thượng-tế Ananias đã tận-dụng cái chết của tổng trấn La Mã tên là Festus, cả hai đều được đề cập ở Tân Ước để tuyên án chết cho thánh Giacôbê tông-đồ rồi bảo: “Ông triệu tập một Đại Công Nghị rồi truyền đem ông Giacôbê, em trai của Đức Giêsu và một số môn-đồ khác ra trình-diện. Lúc đó, ông ta kết tội các ngài đã vi-phạm luật-lệ và truyền lệnh đem các ngài đi ném đá cho đến chết.” (X. The Antiquities đoạn 20, câu 200)

 Các chi tiết trên rút từ câu chuyện do sử gia Do-thái-giáo cung-cấp, lại cũng phù-hợp với những gì được viết ở Tân Ước rồi truyền lại cho chúng ta đến ngày nay. Quả thật, ông Giacôbê Hậu là em trai của Chúa như Tin Mừng thánh Mátthêu đoạn 13 câu 55 có trình-thuật. Và, bởi ông là người thân thuộc của Chúa, nên sử-gia Eusêbius và Hêgêsippus mới cho rằng ngài bị người Do-thái-giáo giết hại vào mùa Xuân năm 62.

 Một đoạn khác, sử gia Josephus lại cũng qui về Đức Giêsu rõ hơn “Cổ Sử” trong đó có ghi rõ là: vào thời này, có ông Giêsu là nhà thông-thái đã xuất-hiện. Quả đúng như lời họ vẫn coi Ngài là người như thế do bởi Ngài là Đấng tạo nhiều kỳ-tích đáng kinh-ngạc và là Bậc Thày Dạy của những người công-nhận sự thật, cách vui vẻ. Ngài đã thắng nhiều người Do-thái-giáo và Hy-Lạp. Quả, Ngài là Đấng Kitô đích-thực.

 Khi Philatô thấy những người có địa-vị cao sang trong Đạo đòi treo Ngài lên thập-giá, tức: những người, ngay từ đầu, đã yêu thương Ngài hết mình, lại thương yêu Ngài khôn kể xiết và không ngừng yêu Ngài mãi mãi. Ngày thứ ba, Ngài đã xuất-hiện với họ hầu tái-lập sự sống như các ngôn-sứ khi xưa từng nói trước nhiều việc về Ngài. Sau đó, mọi người lại gọi những kẻ tin vào Ngài là Kitô-hữu, tức: “người-của-Chúa” người-thuộc-về-Đức Kitô mãi đến hôm nay, trước sau như một.” (X. sđd đoạn 18 câu 63-64).

 Thời Khai Sáng ở thế kỷ thứ 18, nhiều người lại đặt vần-đề về tính xác-thực của bản văn nói trên. Nhưng hôm nay, các nhà nghiên-cứu thần-học trong Đạo của Chúa cũng như Do-thái-giáo đã đồng-thuận với nhau về tính xác-thực của bản văn trên, dù có nhiều điều do các vị sao chép Kinh thánh đã thêm thắt vào trong đó, rất nhiều điều.

 Chẳng hạn như, câu nói “Ngài chính là Đức Kitô” có thể là do Kitô-hữu thời sau này thêm thắt vào cho rộng nghĩa. Tuy nhiên, ở đây ta thấy nhiều bản văn ngoài Kinh thánh cũng nói về Đức Giêsu ngay từ thế kỷ đầu rồi. Ngoài ra, cũng có nhiều văn bản khác quan trọng không kém được rút từ nguồn văn do sử-gia Tacitus người La Mã viết ra.

 Trong cuốn Annals xuất-hiện năm 115 sau Công nguyên, tác-giả nêu lý do bảo rằng: sở dĩ bạo-chúa Nêrô thời đó giết hại các Kitô-hữu là để đánh bạt mọi ngờ vực cho rằng chính ông ta đã ra lệnh nổi lửa đốt thành La Mã năm 64: “Bạo-chúa Nêrô đã trói buộc và kết tội Kitô-hữu từng bị dân chúng ghen ghét nên mới cho rằng chính họ từng hành-hạ người cùng đinh/thấp cổ bé họng, ở trong dân.

 Thời Tiberius trị vì, danh xưng “Kitô” từ đó xuất-hiện nên đã gánh chịu mọi hình-phạt cực kỳ ghê gớm dưới trướng quan tổng trấn Pontiô Philatô. Và, thêm một dị-đoan tai-hại khác cũng bị kềm chế một thời-gian dài, nhưng sau đó lại bộc-phát dữ dội, không chỉ nội nhật trong vùng Giuđêa mà thôi, nhưng cả ở Rôma nữa (Annals 15: 44).

 Thêm nữa, ở đây có một sử-gia khác người La-Mã cũng qui về cái chết của Đức Kitô ngay từ thế-kỷ đầu. Ngoài ông ra, còn có sử-gia rất “tầm cỡ” là Pliny Trẻ, tức quan toàn quyền thời bấy giờ từng được giao-phó trọng-trách trông coi xứ Bithynia, nay là nước Thổ Nhĩ Kỳ bây giờ. Pliny Trẻ là cháu của Pliny Già, một học-giả bách-khoa chết vào năm 79 thoạt vào lúc núi lửa Vesuvius bộc phá thành Naples, nước Ý.

 Trong thư gửi Hoàng đế Trajan năm 111, ông có xin Hoàng-đế cho biết ý-kiến về việc hành-hạ người đi Đạo như thế là đúng hay sai. Ông còn viết, là: người đi Đạo cam-quyết rằng các lỗi lầm cộng với tội vạ này khác đều không có gì quan-trọng.

 Nhóm người này chỉ hội họp vào lúc trước khi mặt trời mọc vào một ngày nhất-định trong tháng mà thôi. Và, họ cũng chỉ họp nhau hát những bài vịnh ca hầu vinh danh Đấng Kitô của họ là Đức Chúa, mà thôi. Họ thắt chặt tình thân thương với nhau bằng lời thề hứa, không nhằm mục tiêu bất chấp luật-lệ, nhưng chỉ cốt xa lánh nạn trộm cắp, cướp bóc và ngoại tình, thôi.” (Xem Thư trên đoạn 10 câu 96).

 Dựa vào tài liệu kể trên cùng các văn-bản khác, điều này có nghĩa: chẳng có gì để ta phải thắc mắc hoặc nghi-nan về sự hiện-hữu của Đức Giêsu cả.”  (X. Lm John Flader, History’s evidence for Jesus, The Catholic Weekly ngày 31/12/18 tr.17)

 Chứng cứ lịch sử kể về Đức Giêsu, lâu nay được các đấng vị vọng trích dẫn, là trích và dẫn từ đoạn Tin Mừng sau đây:

 “Người về quê,

giảng dạy dân chúng trong hội đường của họ,

khiến họ sửng sốt và nói:

Bởi đâu ông ta được khôn ngoan

và làm được những phép lạ như thế?

Ông không phải là con bác thợ sao?

Mẹ của ông không phải là bà Maria;

anh em của Ông

không phải là các ông Giacôbê, Giôxếp, Simôn và Giuđa sao?

Và chị em của Ông

không phải đều là bà con lối xóm với chúng ta sao?

Vậy, bởi đâu Ông được như thế?"

Và họ vấp ngã vì Ngài.”

(Mt 13: 54-56)

 Nếu chỉ căn cứ vào các chứng-cớ lịch sử về Đức Giêsu nói ở trên thôi, chưa chắc đã thuyết phục được mọi người; chí ít là người ngoài Đạo. Vậy nên, ta hãy đi vào vùng trời truyện kể để may ra  thấy được chút ánh sáng nào đó, rất khác biệt.

 Thôi thì, đề nghị bạn/đề-nghị tôi, ta hãy nhìn vào truyện kể ở bên dưới, rồi tính sau.

 “Truyện rằng,

 “Nuôi con dưỡng già” là quy luật bất thành văn từ ngàn đời này. Tuy nhiên, ngày nay khi đọc tin tức, có rất nhiều bài viết về “người già vô gia cư, con tranh chấp tài sản của bố mẹ”, bạn có nghĩ rằng quan niệm “nuôi con dưỡng già” vẫn còn đúng?

 Có một người mẹ đơn thân nuôi con, chồng bỏ đi từ sớm, cô ấy sống bằng nghề dạy học, với thu nhập khá khiêm tốn đã nuôi dưỡng con trai khôn lớn thành tài.

 Lúc còn nhỏ, con trai rất ngoan ngoãn, vâng lời. Cô vất vả nuôi dạy con đến tuổi trưởng thành, và cậu con trai được đi Mỹ du học. Sau khi con trai tốt nghiệp đại học đã ở lại Mỹ làm việc, kiếm được khá nhiều tiền rồi mua nhà, và lấy vợ, sinh con, xây dựng một gia đình hạnh phúc đầm ấm.

 Người mẹ già này, dự định sau khi nghỉ hưu sẽ đến Mỹ đoàn tụ cùng con trai và con dâu, hưởng phúc gia đình vui vẻ sum vầy. Chỉ ba tháng trước khi cô sắp nghỉ hưu, cô đã nhanh chóng viết một lá thư cho con trai, nói với con về nguyện vọng này.

 Vào đêm trước ngày nghỉ hưu, cô nhận được thư hồi âm của con trai gửi từ Mỹ về, mở thư ra xem, trong thư có kèm một tấm ngân phiếu 30 ngàn đô la Mỹ.

 Cô cảm thấy rất lạ, bởi vì từ trước đến giờ con trai không bao giờ gửi tiền về, cô vội vàng mở thư, bức thư viết rằng:

 “Mẹ à, sau khi vợ chồng con cùng nhau bàn bạc, quyết định là không thể đón mẹ đến Mỹ sống chung được. Cứ cho rằng mẹ có công nuôi dưỡng con trước đây, toàn bộ chi phí đó, thì tính theo giá cả thị trường bây giờ khoảng 20 ngàn đô Mỹ. Nhưng con sẽ gửi thêm một chút, là tấm chi phiếu 30 ngàn đô này. Hy vọng từ nay về sau mẹ đừng viết thư cho con nữa, cũng đừng kể lể về những việc như thế này nữa.”

 Sau khi người mẹ đọc xong lá thư này thì nước mắt đầm đìa. Cô lặng im một hồi lâu, thật khó mà chấp nhận được sự thật này. Nhưng với tấm lòng người mẹ bao la như biển cả, cô không trách con trai, chỉ cảm thấy tủi phận cho một đời góa bụa. Khi trẻ đơn độc nuôi con, bây giờ cần nơi nương tựa vẫn lẻ bóng, lòng cô đau như cắt!.

 Sau đó, cô tìm đến cửa Phật, và bắt đầu học Phật Pháp. Học được một thời gian, cô cảm thấy tâm thái nhẹ nhõm, suy nghĩ cũng thông mọi chuyện. Cô dùng 30 ngàn đô đó để đi du lịch khắp thế giới, lần đầu tiên trong đời, cô được mở mang tầm mắt thấy được quang cảnh thế giới này thật đẹp biết bao.

Như cởi được tất cả mọi sân si, hờn giận, cô thanh thản viết cho con trai mình một bức thư, như sau:

“Con trai à, con muốn mẹ đừng viết thư cho con nữa, thế thì, cứ xem như lá thư này là bổ sung cho bức thư con đã gửi mẹ trước đây. Mẹ nhận tấm séc rồi, cũng đã dùng nó để thực hiện một chuyến du lịch vòng quanh thế giới.

Trong chuyến đi này, mẹ đột nhiên cảm thấy rằng nên cảm ơn con, cảm ơn con đã giúp mẹ hiểu thấu được mọi chuyện, có thể buông bỏ nhân tâm,  khiến mẹ nhận ra tình thân quyến, tình bạn và tình yêu của con người trên thế gian này đều không phải là vĩnh cửu, chỉ như như bèo dạt mây mà trôi, tất cả đều đang thay đổi từng ngày.

Nếu ngày hôm nay mẹ không thông suốt, vẫn còn ôm giữ bao nhiêu sân si, hờn giận, đau khổ  thì có thể một vài năm nữa, mẹ có lẽ sẽ không sống nổi. Sự tuyệt tình của con khiến mẹ ngộ được chữ “duyên” nơi trần gian này, chẳng phải duyên hợp lại tan đó sao! Tất cả đều là vô thường!  Mẹ cũng học được cách giữ tâm mình thanh tĩnh và ung dung tự tại. Mẹ đã không còn con cái nữa, tâm đã vô lo, nên mới có thể đi đến bất cứ nơi đâu mà tâm không mảy may vướng bận.”

“Thật đáng thương cho cái tâm của các bậc làm cha mẹ trên thế giới này”, vì họ luôn muốn điều tốt đẹp nhất cho con cái của mình, nhưng kết quả cuối cùng lại chưa hẳn là tốt nhất.

Có một câu nói rằng: “Nhà của cha mẹ là nhà của con cái, nhà của con cái không bao giờ là nhà của cha mẹ. Sinh con là nhiệm vụ, nuôi con là nghĩa vụ, nhưng dựa vào con là sai lầm.”

Mặc dù không phải tất cả con cái đều vô lương tâm như người con trai trong câu chuyện này. Nhưng những bậc làm cha mẹ nhất định không nên nghĩ rằng sẽ dựa vào con cái của mình. Chân thành mà nói, bạn hãy chỉ dựa vào chính bản thân mình. Con cháu nếu có hiếu thảo với bạn, thì đó cũng là phúc đức của bạn. Còn nếu chúng không hiếu thảo, thì bạn cũng không thể cưỡng cầu mà có được. Cách tốt nhất là hãy sớm lên kế hoạch “dưỡng già” ngay từ bây giờ, sẽ không bao giờ là quá muộn cả!. 

Truyện kể hay chuyện để phiếm, tức “Chuyện Phiếm Đạo vào đời” trước sau như một, vẫn diễn tả mọi tình-huống trong đời, có lúc vui có lúc buồn. Bởi, đời người là như thế. Như một truyện kể, để đời, trong đời người.

 

Trần Ngọc Mười Hai

Và những truyện để kể cũng hệt như

Chuyện Phiếm Đạo/Đời

Mà thôi.

 

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Lá năm C 20/3/2016

Tin Mừng (Lc 19: 28-40)

Nói những lời ấy xong, Đức Giêsu đi đầu, tiến lên Giêrusalem. Khi đến gần làng Bếtphaghê và làng Bêtania, bên triền núi gọi là núi Ôliu, Người sai hai môn đệ và bảo: "Các anh đi vào làng trước mặt kia. Khi vào sẽ thấy một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh cởi dây ra và dắt nó đi. Nếu có ai hỏi: "Tại sao các anh cởi lừa người ta ra", thì cứ nói: "Chúa có việc cần dùng! Hai người được sai liền ra đi và thấy y như Người đã nói. Các ông đang cởi dây lừa, thì những người chủ nói với các ông: "Tại sao các anh lại cởi lừa người ta ra?" Hai ông đáp: "Chúa có việc cần dùng."
Các ông dắt lừa về cho Đức Giêsu, rồi lấy áo choàng của mình phủ trên lưng lừa, và giúp Người cỡi lên. Người đi tới đâu, dân chúng cũng lấy áo choàng trải xuống mặt đường. Khi Người đến gần chỗ dốc xuống núi Ôliu, tất cả đoàn môn đệ vui mừng bắt đầu lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa, vì các phép lạ họ đã được thấy. Họ hô lên: Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời!
Trong đám đông, có vài người thuộc nhóm Pharisêu nói với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, Thầy trách môn đệ Thầy đi chứ!" Người đáp: "Tôi bảo các ông: họ mà làm thinh, thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên!"
                                         “Dáng em thu nhỏ trong lời nguyện,”
                            “Phơ phất hồn thiêng, cánh bướm ma.”
                                                (Dân từ thơ Đinh Hùng)

Thu nhỏ trong lời nguyện hoặc phơ phất hồn thiêng, vẫn là và sẽ là lối sống của nhiều người.
Sống phù hợp Đạo Chúa, người Công giáo vẫn hay hát cả khi vui, lẫn lúc buồn. “Hát là cầu nguyện, những hai lần”. Người nhà Đạo hát rất chăm. Suy tư rất nhiều. Có những bài ca làm tỉnh giấc, như bài “How Great Thou Art”, nghe chưa được chuẩn cho lắm, chí ít là tiểu khúc, câu 3. Như tác giả dẫn ý: Hân hoan tình Chúa rất bao la, chẳng ngại hồn đau vẫn cứ là Con Một Hiền lành theo cõi chết ôm trọn tội người, trọn ý Cha.
Vâng, tiểu khúc trên, dù mang cả một truyền thống ý nghĩa, vẫn coi cái chết của Đức Kitô, như hành động chuộc tội, do Cha muốn. Nhận định như vậy, tức bảo là: khổ đau và sự chết của Đức Giêsu là giá chuộc mạng mà Ngài đã trả cho bọn xấu để ta chia sẻ sự sống với Cha, như chọn lựa cái chết của Đức Giêsu phải được coi như hành động duy nhất làm Cha nguôi giận về tội người. Chính vì thế, mà Cha vẫn tiếp tục thương yêu loài người như khi trước.
Nghe nhạc ướt át như thế, đôi lúc làm ta sợ, vì thế nên kiểm xem lời ca ý nhạc có chuẩn hợp với thần-học không. Một đằng, thần học khẳng định rằng: tình thương yêu đặc biệt Chúa ban, rất cao sang vời vợi. Tình yêu Ngài, ngang qua mọi thăng trầm của cuộc sống, khi vui lúc buồn.
Đằng khác, khi hát, ta kể nhiều về nỗi khó khăn, buồn phiền mà Đức Giêsu gánh chịu. Xem thế, há chẳng phải ta chủ trương: Đấng Tạo Hoá đầy lòng bao dung, vẫn đẩy Người Con Thân Yêu vào nỗi chết, có tủi nhục? Há ta coi đây như phương cách duy nhất khiến Ngài hài lòng, sao?        
            Áp dụng vào xử án, đôi lúc cũng nên hỏi: quan án có để cho đương can vô tội chết lặng trong lỗi phạm? Và như thế, Đức Chúa, vị Quan Án Tối Cao, có quyền bính gì trên sự dữ/ác thần, chăng? Đây là cách duy nhất để Ngài kiểm nghiệm sự hy sinh cao cả của Con Yêu Dấu của Ngài, sao?
Các vấn nạn ấy, gây ảnh hưởng lên đời sống đức tin của người đi Đạo. Đôi lúc, điều này làm ta xa vời niềm tin đích thực, lâu nay thường được nhắc nhớ, rằng: Chúa trên cao vẫn thương mọi người, dù cho con người có lầm lỡ, lỗi phạm nhiều điều.
            Ngày nay, ta nghe nhiều về các nạn nhân, không còn chọn lựa nào khác, đã rơi vào bẫy cạm của lỗi phạm. Thật ra, trong nhiều trường hợp, việc ấy không do họ. Mà, do người khác đối xử không theo lẽ Đạo. Người khác, là những người có tự do trong đối xử rất “khác người”. Rất lạ kỳ, buồn bã.
Người khác đây, vẫn là người biết nhiều, hiểu nhiều. Nhưng, đứng ở góc cạnh nào đó, ta sẽ cùng với “người khác” ấy, biểu đồng tình cho rằng: Đức Kitô là nạn nhân của thánh ý Cha. Khi Ngài chấp nhận khổ đau, và nỗi chết. Hiểu như thế, tức cho rằng: Cha vẫn muốn có hy sinh, vẫn muốn chuộc mạng, để đổi chác lấy tội con người, hòng tha thứ?
Hiểu như thế, sẽ kéo theo ngộ nhận rằng: mình là nạn nhân của Chúa, không chừng. Nếu Cha muốn Đức Kitô phải khổ và chết, thì phía ta, sao lại buồn khi lĩnh nhận thánh giá tưởng-chừng-như-là-quá-nặng?
            Suy tư theo chiều hướng này, sẽ thêm nghi ngờ, là bài Thương khó thánh Mác-cô ghi lại, có thể đã nhấn mạnh tính miễn cưỡng của Chúa khi Ngài chấp nhận khổ ải. Quả là, thánh sử có nhắc việc Ngài ngồi cùng bàn với phường giá áo, túi cơm. Làm bạn với bọn phản phé. Làm thầy những người chối bỏ sự thật, bỏ của chạy lấy người… Nhưng không thể hiểu như thế.
            Không thể theo khuynh hướng này. Bằng không, sẽ có người ngờ: thánh Mar-cô ám chỉ Chúa hoảng sợ trước cái chết ô nhục, gần kề. Và, trong chiều hướng ấy, sẽ nghĩ là: khi Ngài cất tiếng “Lạy Cha”, tức là Ngài kêu lên lời ai oán để cứu mình khỏi cơn buồn phiền, sao?
Cuối cùng, hiểu theo chiều hướng này, sẽ có người nghĩ rằng: Đức Kitô nhận “làm theo ý Cha”, nhưng phút cuối, vẫn thấy như mình bị bỏ rơi trên thập giá? Không. Đó không phải là thần học.
Suy cho kỹ, hiểu theo các chiều hướng này, chắc chắn có sai sót. Đọc kỹ, đoạn Chúa chấp nhận thánh ý Cha tại Vườn Âu Sầu, thay vì hiểu theo hướng xấu, đổ riệt mọi lỗi cho Cha, có lẽ nên coi đây như một khẳng định. Khẳng định rằng: Đức Kitô một lòng chung thuỷ với đường lối Ngài tuân theo, trong hành xử với Cha.
Với con người. Ngài vẫn một mực tuân phục Cha. Tuân phục đến chết. Vẫn thương yêu con người, và yêu thương đến hơi thở cuối cùng.
            Có thế, Đức Kitô mới trấn át giới chức đạo-đời, thời bấy giờ. Ngài qui chiếu khẳng định nòng cốt này, đến nỗi họ thấy không làm gì được, ngoài chuyện ra tay ám hại Ngài. Xem thế, qua việc chấp nhận cái chết trong tuân phục, Ngài hy sinh đến phút cuối. Ngõ hầu chứng tỏ cho mọi người thấy:Ngài thương yêu loài người đến cùng.
Điều này cho thấy: Chúa đã sống thực. Sống tư cách rất “người”. Vì trung thực với cuộc sống thủy chung, Ngài bị quyền lực đen tối sự dữ/ác dẫn đến nỗi chết về thể xác, chết rất nhục.
Hôm nay, có kinh qua thống khổ của thập giá; và chết cho chính mình, ta mới nhận ra được cái giá phải trả, khi giáp mặt thực trạng của người phạm lỗi, trái luật. Và có như thế, mới sống đúng yêu cầu của Vương Quốc Nước Trời. Vương Quốc bình an và công chính.
            Tuần thánh năm nay, ta cử hành tuyên xưng mầu nhiệm sống xứng hợp Đạo. Bằng vào cử hành tưởng niệm sự sống, nỗi chết và sự sống lại của Chúa, ta cầu mong được chuyển thể từ tâm trạng sai lầm -nghĩ mình là nạn nhân do Chúa muốn ta hy sinh, đau khổ- để tiến tới trở thành kẻ có ý thức chọn lựa. Chọn, lối sống mẫu mực yêu thương của Chúa, Đấng suốt đời trung thành, thuỷ chung. Trung thành trong thuần phục. Thuỷ chung trong thương mến.
            Cầu và mong, cho ta biết trân quý sự sống vì có trân quý ta mới thực sự từ bỏ thái độ tiêu cực của những người luôn nghi kỵ, chống đối. Chống Vương Quốc Nước trời, ở trần gian. Cầu và mong, ta dõi bước chân mềm của Chúa.
Biết rập khuôn bắt chước lối sống thuỷ chung, trong hành xử giữa Cha và Con. Dù, sự việc có xảy đến thế nào, và đường đời có gian nan đi nữa có Đức Kitô là mẫu mực cho sự thủy chung/tuân phục, thì dù gặp muôn vàn khổ ải đến cùng cực, ta vẫn cứ đầu cao mắt sáng, hiên ngang lên mà chúc tụng.
Chúc tụng Ngài, cả vào lúc cộng đoàn kẻ tin đang sầu buồn, than khóc ngày Chúa chịu khổ nạn. Bởi, với người dõi bước theo Chúa, sẽ chẳng có gì là tang tóc, đáng để ta than khóc cả. Mà, tất cả vẫn là yêu thương và đồng cảm.
Đạo Chúa là Đường dẫn ta đi vào đời, lắm gian nan nhưng không là tang chế, với ta.

Lm Richard Leonard, sj biên soạn - 
Mai Tá lược dịch. 

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thánh năm C 20/03/2016

“Hầy hô! Hây hồ! Ta đi vô vườn dừa,”
“Hầy hô! Hây hồ!
Nhịp nhàng khoan thai bước khẽ
Đi trong mưa nhè nhẹ.
Hầy hô! Hây hồ! Hây hố!”
(Phạm Duy – Ngày mùa êm ru)
(1 Thessalônikê 5: 12-19)

Ít khi nào, bần đạo bầy tôi đây lại trích-dẫn hoặc trích-dịch những bài ca nghe rất “êm ru ngày mùa” như bài ở trên do nghệ-sĩ họ Phạm, sáng tác. Bài ca này, cứ hát đi hát lại mãi câu “Hầy hô!” với lại “Hây hồ!” suốt, chỉ mỗi nghe qua đã thấy oải.
Ấy là thế đấy! Có nghe đi/nghe lại cũng chỉ bấy nhiêu câu, rất ngày mùa như sau:

“Hầy hô! Hây hồ! Hấy hô!
Gà chuồng le te gáy rõ
Ta nghe ta đợi chờ…

Hầy hô! Hây hồ! Hấy hô!
Ngoảnh nhìn quanh ta vẫn nhớ,
Ôi êm ru ngày mùa…   

Hầy hô! Hây hồ! Hây hô hấy hô ngày mùa!
(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Ngày mùa có “êm ru” đến độ ca đi/hát mãi có mỗi câu như thế cũng chẳng thấy gì là êm và ru hết!
Thế nhưng, đời người có nhiều thứ cũng “êm-ru-bà-rù” nhưng lại ngán như cơm nếp nát, chẳng ai muốn ăn. Thật thế ư? Vâng. Không tin, xin quí chư huynh/chư đệ hay tỷ/muội ở ngoài đời hãy giúp giùm tìm hiểu thực/hư thế nào, rồi sẽ rõ.
Hôm nay, bầy tôi đây, chỉ muốn bàn chuyện nhà Đạo rất Công-giáo, thôi. Bàn chuyện đạo của người Công-giáo nhiều lúc suy đi/nghĩ lại, thấy cũng nản. Nản, nhưng vẫn xin bạn và tôi, ta cứ hạ hồi tính chuyện thích thú, còn bây giờ: hãy bàn chuyện gì có dính đến Đức Giáo Tông/Giáo-chủ, để xem sao. Hy-vọng sẽ êm ru không “bà rù” chút nào hết.
Chuyện Đức Giáo Tông với truyền-thông, có nhiều điều xem ra cứ bàn đi bàn lại, mãi không chán. Đúng thế, bạn ạ. Hết bàn rồi tán, lại còn tản-mạn những tin tức …mình về Đức Giáo Tông nhà Đạo mình, tưởng cũng được vài ba trang giấy, những viết và lách cho trọn một đời.
Chuyện Đức Giáo Tông, có gì mà ghê gớm thế?
Thôi thì, bạn và tôi, ta cứ từ từ tìm cách moi đầu/moi óc ra mà bàn suốt, rất như sau. Nhưng, trước hết và trên hết, là chuyện liên-quan đến hai ba vị Giáo chủ, đấy các cụ ạ.
Trước hết và trên hết, lại là chuyện mới xem ra, qua phỏng-vấn Đức Phanxicô ở đâu đó, trên máy bay hoặc với báo/đài của nước Ý xem ra cũng rất Đại-lợi, bởi bên cạnh đó lại có những chuyện bên lề, rất đáng bàn như sau:

“Trang mạng “Vatican Insider” của Ý cho biết: trong vòng 24 tiếng đồng-hồ sau khi công-bố phỏng-vấn, đã có hơn trăm bài báo và bình luận được đăng trên truyền-hình Trung Quốc. Trong bài xã-luận, Giám-đốc báo “Global Times”, nhật-báo tiếng Anh được xem như báo bán chính-thức của đảng Cộng-sản, cho rằng “thiện-chí của Đức Giáo hoàng góp phần làm dịu các quan-hệ giữa Trung-Quốc và Vatican.”

Báo Nhân-Dân khen ngợi sự khuyến-khích đối-thoại và kiến-tạo hoà-bình của Đức Phanxicô. Báo này có nhắc lại việc góp phần của Toà thánh trong quan-hệ ngoại-giao giữa Cuba và Hoa Kỳ. Báo này còn khẳng-định việc “xích lại gần nhau” giữa Trung Quốc và Vatican là điều mà nhiều người dân Trung quốc mong muốn”, nhưng cũng chận lại các người “chống-đối sợ rằng Vatican hy-sinh quyền-lực của họ.”

Một số người Công-giáo Trung quốc lo sợ kết-quả của việc “xích lại gần nhau” về ngoại-giao của Toàn thánh Vatican và Bắc Kinh là quá sớm, với cái giá phải trả là hy-sinh một số sự/việc, bắt đầu là việc tự-do tổ-chức Giáo-hội Trung quốc…” (Nguồn: cath.ch, Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển-dịch, phanxico.vn)

Có phản-ứng hay không phản-ứng, các sự-kiện mang tính chính-trị được lồng vào địa-hạt tôn-giáo, là chuyện “dài nhân dân tự-vệ” ở thời trước. Có tìm và hiểu hay không hiểu và tìm, thì các hệ-lụy rút từ công-bố chính-thức, mới là chuyện của ta và người, bàn đến hôm nay.
Chuyện của ta hôm nay, chỉ là “chuyện bên lề” gồm các tin (rất) tức ở nhiều nơi và của nhiều người. Tin (rất) tức …mình, lại vẫn là chuyện để ta ngồi buồn… bèn có đôi giòng chảy lai rai cho đỡ …ngứa cái miệng.
Và hôm nay, xin bạn và tôi, ta có đọc những giòng này hay không, cũng xin hai chữ bình-an, rồi đi vào sự việc rất “Đạo”, sau này. Nhưng, trước khi đi vào chi-tiết, cũng nên về lại với bài ca và nốt nhạc ghi trên, mà hát cho “êm ru ngày mùa” của Giáo-hội, là: hội của những người sống Đạo trong đời. Vậy, hãy cứ hát những lời rằng:

“Hầy hô! Hây hồ! Hây hô
Gà chuồng le te gáy rõ
Ta nghe đợi chờ…

Hầy hô! Hây Hồ! Hây hô!
Ngoảnh nhìn quanh ta vẫn nhớ
Ôi êm ru ngày mùa…

Hầy hô! Hây hồ! Hây hô…
Hầy hô! Hây hồ! Hây hô…
(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Cứ ngoảnh lại mà nhìn quanh ta đi, sẽ thấy rất nhiều “sự” xảy ra không như mình tưởng hoặc nghĩ. Tức, những thứ và những sự rất “kể lể” như truyện kể ở bên dưới để “minh-hoạ” một lập-trường-sống vẫn nghe và vẫn nhìn theo cách con nhà có Đạo, ở đời thường, như sau:

“Truyện rằng:
“Cô vốn là một người con gái xinh đẹp. “Vệ tinh” xung quanh cô nhiều không kể xiết, nhưng cô bỏ ngoài tai tất cả để chọn anh – một công nhân làm việc ở nhà máy, thu nhập còn không đủ cho 3 bữa ăn hàng ngày. Cô chấp nhận từ bỏ cả gia đình, thậm chí là công việc đầy tương lai của mình để cưới anh.
Sau khi kết hôn, anh và cô mượn được nhà kho của một người bạn, họ sắp xếp lại thành một tổ ấm giản dị. Mùa đông đến, căn nhà kho trống trải hút gió lại càng trở nên lạnh giá. Khi ấy chưa đủ tiền mua chăn, cô thường bị giật mình tỉnh dậy giữa đêm vì lạnh. Những lúc đó, anh chỉ biết ôm chặt cô vào lòng, dùng hơi ấm của cơ thể sưởi ấm cho cô.
Một ngày cô trở về nhà với vẻ mặt thất thần nhợt nhạt, anh lo lắng hỏi cô có phải bị bệnh rồi không? Cô chỉ mỉm cười nói: “Em hơi mệt thôi!” rồi hân hoan rút từ trong túi ra một tờ bạc nhét vào tay anh: “Chúng mình có tiền rồi anh ạ, mình đi mua một chiếc chăn thật ấm để đắp nhé.” Anh sững người ngạc nhiên nhìn tờ tiền trong tay cô, giọng run run: “Làm sao em lại có nhiều tiền vậy?” Cô vui vẻ kể lại cho anh tiền là do cô kiếm được khi đi phát tờ rơi. Cô phải đứng từ sáng đến tối mới được trả ngần ấy tiền. Nói rồi cô vội vàng kéo anh ra khỏi nhà, không cho anh hỏi thêm điều gì nữa. Họ mua môt cái chăn vừa tầm tiền. Từ đó, giữa đêm cô không còn bị giật mình thức giấc nữa.
Vài năm sau, anh tìm được công việc tốt hơn, rồi kiếm được nhiều tiền, tự mở công ty. Không bao lâu anh đã xây cho cô một ngôi nhà khang trang, mua ô tô cùng rất nhiều đồ dùng đắt tiền khác. Anh nói muốn dành cho cô một cuộc sống ấm no đầy đủ bù đắp lại những tháng ngày khó khăn vất vả trước đây. Cuộc sống bỗng vụt thay đổi khiến cô có phần bàng hoàng chưa kịp thích nghi với điều kiện mới.
Ngày chuyển nhà, anh bảo những đồ đạc cũ trong căn nhà kho của họ trước đây anh đều muốn vứt đi không giữ lại bất cứ cái gì. Nhưng cô khăng khăng nói muốn giữ lại cái chăn để đắp. Và rồi một thời gian dài nữa họ vẫn dùng cái chăn cũ ấy, giờ đây nó đã trở nên xù xì cũ kĩ, còn bị rách khá nhiều chỗ. Anh không ngừng phàn nàn với cô: “Thôi bỏ cái chăn cũ này đi em, mình có thể mua một cái chăn mới ấm áp và tốt hơn rất nhiều. Em xem cả nhà mình toàn những đồ đắt tiền, nhìn cái chăn cũ này trong nhà trông thật chướng mắt”. Nhưng cô vẫn cố chấp nhất quyết giữ lại cái chăn cũ ấy, vì chỉ khi đắp nó cô mới cảm thấy ấm áp và được che chở.

Một hôm, anh về nhà mang theo một cái chăn mới và nhất quyết bảo cô bỏ cái chăn cũ đi. Lần này dù không nỡ nhưng cô vẫn nghe theo lời anh. Từ đó, hàng đêm cô ngủ không còn ngon giấc nữa, trong lòng cô lúc nào cũng cảm thấy thấp thỏm lo lắng khiến cô lại không ngừng giật mình giữa đêm. Và mỗi lần tỉnh dậy như thế, hai mắt cô lại đầm đìa nước. Anh vốn không biết rằng để mua được cái chăn đó cô đã phải đi bán máu lấy tiền chứ không phải đi phát tờ rơi như cô nói với anh. Lần đầu tiên bán máu, biết bao đau đớn, cũng chỉ vì muốn có cái chăn này. Vậy mà anh lại nỡ vất bỏ nó. Cô dần cảm thấy anh không còn yêu cô như xưa nữa.
Một ngày anh có việc gấp phải ra ngoài, quên mang theo máy tính xách tay quen thuộc. Trên màn hình của anh vẫn hiện lên trang blog anh viết hàng ngày. Và cô bất chợt đọc được dòng chữ anh hình như mới viết không lâu.
“Ngày hôm ấy em từ đâu về khuôn mặt tái xanh nhợt nhạt khiến cho tôi lo lắng vô cùng. Rồi em nói em đi phát tờ rơi để mua chăn cho hai đứa. Tối hôm đó chúng tôi nằm ngủ ấm áp trong chiếc chăn mới, thấy em nằm cuộn tròn trong lòng tôi say trong giấc ngủ, tôi thương em biết bao. Đã bao đêm rồi em không được ngủ ngon đến vậy. Và rồi tình cờ tôi nhìn thấy trên tay em có một vết sưng nhỏ, dường như bị kim tiêm đâm vậy. Tôi bỗng hiểu ra tất cả. Hóa ra em nói dối tôi em đi phát tờ rơi, thực ra em đã đi bán máu để có tiền mua chăn, chỉ vì một cái chăn mà em đã phải khổ sở đau đớn đến vậy. Đêm đó tôi đã khóc vì thương em và cũng thầm hứa sẽ cố gắng làm việc, phấn đấu trở thành một người thành đạt, để có thể bù đắp lại những ngày tháng khốn khó này cho em. Và giờ đây tôi đã thực hiện được lời thề đó. Hôm qua tôi quyết định đến trạm hiến máu, tôi chỉ muốn cảm nhận một chút nỗi đau em từng trải qua. Khi chiếc kim tiêm đâm vào mạch máu, một cảm giác nhói buốt lan dọc khắp cơ thể. Nhưng tôi không thấy đau, ngược lại, rất hạnh phúc. Tôi lấy tiền bán máu và đi mua chiếc chăn mới này. Tôi muốn nó là món quà bất ngờ dành cho em…”
Nước mắt cô đã ướt đẫm tự độ nào. Hóa ra tình yêu của anh dành cho cô vẫn sâu đậm và lớn lao đến vậy. Mùa đông năm nay anh đã đổi máu của mình tặng cho cô chiếc chăn ấm, có lẽ đó cũng sẽ là chiếc chăn ấm áp nhất cô có trong đời…(Sưu tầm)

            Nên chăng áp dụng câu truyện trên vào trường hợp của các đấng bậc vị vọng trong đạo?
            Phải chăng, các cặp vợ chồng ngày nay vẫn sống đẹp như cặp phối-ngẫu trong truyện kể trên? Áp-dụng trường-hợp hành-xử của đấng bậc chốn chóp bu nhà Đạo, cũng thế ư? Cũng thế là thế nào? Phải chăng sự việc cũng đơn-sơ/chân-chất như nhiều người tưởng?
            Thôi thì, trước khi trả lời câu hỏi này, tưởng cũng nên về với vườn hoa thơm phức những lời vang đầy khuyến-dụ mà người đời gọi là Kinh Sách rất thánh, có những giòng như sau:

            “Thưa anh chị em,
chúng tôi xin anh chị em hãy quý trọng
những ai đang vất vả vì anh chị em,
để lãnh đạo anh chị em nhân danh Chúa
và khuyên bảo anh em.
Hãy lấy tình bác ái mà hết lòng tôn kính những người ấy,
vì công việc họ làm.
Hãy sống hoà thuận với nhau…
hãy khuyên bảo người vô kỷ luật,
khích lệ kẻ nhút nhát,
nâng đỡ người yếu đuối,
và kiên nhẫn với mọi người.
Anh chị em hãy vui mừng luôn mãi
và cầu nguyện không ngừng.
Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh.
Anh em hãy làm như vậy,
đó là điều Thiên Chúa muốn…”
(1 Thessalônikê 5: 12-19)

Chiếu lời vàng ở trên, nhiều bạn lại đến hỏi bần-đạo: phải chăng, đấng bậc ở chốn chóp bu nhà Đạo, đã từng thực-hiện lời dặn như thế, chứ? 
Hỏi những câu tương-tự, thì ai mà trả lời cho thoả-đáng, chứ! Vâng. Thay vì trả lời/trả vốn cho đúng cách/đúng sự thực, thiết tưởng ta cứ đi vào với lời bình (rất) luận hoặc nhận-định rất chuẩn của giới truyền-thông/báo chí, để rồi có lập-trường/nhân-sinh sao cho phải lẽ.
Vâng. Đúng như thế. Thôi thì, mời bạn và mời tôi, ta thử xét lời bàn của sử gia Vatican là Alberto Melloni từng phát-biểu về chuyến gặp mặt giữa hai đấng bậc chóp bu Công-giáo và Chính-thống Nga, sau đây:

“Alberto Melloni, một sử-gia chuyên về Vatican lại cũng biểu-lộ cho thấy, là: cuộc họp thượng-đỉnh ở Cuba hàm-ẩn ý-nghĩa của thứ địa-lý chính-trị, bởi lẽ cuộc họp mặt này lại diễn ra ngay vào lúc các nhà ngoại-giao tầm cỡ của Hoa-kỳ và châu Âu đang cùng nhau hợp-tác tính chuyện cách ly nước Nga khỏi vòng cương-toả của nước lớn. Giáo-hội Nga lại chặt-chẽ đặt mình cùng hàng với chính-phủ của nước này. Ông Melloni nói thêm: cuộc họp cấp cao với Giáo-hoàng Công-giáo chắc chắn phải có sự đồng-thuận của ông Putin. Chấp-thuận gặp gỡ, cho phép tổng thống nước Nga có được cung-cách khác-biệt mà ông có thể dùng đến hầu tránh khỏi mọi ly-gián. Với Putin, thì gặp gỡ như thế rất có lợi, bởi đây là thứ chính trị tùy thuộc địa lý/địa-hình của các nước.

Riêng Giáo Hoàng Phanxicô đã chứng tỏ mình là con người đầy tham-vọng, một diễn-viên ngoại-giao trên chính trường thế-giới. Ông giúp các nhà môi-giới bán-buôn có được sự hoà-giải giữa Hoa-kỳ và Cuba, và nhất thứ là ông lại đạt được sự tôn-kính từ ông Castro, tổng-thống Cuba. Đổi lại, ông Castro giúp giàn xếp các kế-hoạch gặp gỡ vào tuần tới.

Giáo Hoàng Phanxicô cũng thẳng-thắn tiến về phía trước để hoàn-thành một mục-đích khác mà lâu nay Vatican hằng trông ngóng, đó là việc tái-tạo các bang-giao quốc tế với Trung-Quốc. Giáo-hoàng Phanxicô từng cho biết ao-ước của ông muốn trở-thành vị Giáo-hoàng đầu tiên sang thăm nước Trung Hoa lục địa.

Tuần này, Giáo hoàng Phanxicô sẽ dùng cuộc phỏng-vấn với tờ Asia Times, một ấn-bản bằng tiếng Anh phát-hành tại Hồng Kông để chuyển-tải lời chúc mừng Năm mới Âm-lịch đến nước này và đưa ra lời trấn-an vốn dĩ bảo rằng: một nước Trung Hoa đang lớn mạnh không có nghĩa là đe-doạ cho ai hết.

Vị Giáo-hoàng này đã nói trong cuộc phỏng-vấn rằng: “Với tôi, Trung Quốc lâu nay vẫn là trọng-điểm của sự cao cả. Là một đất nước vĩ-đại; và hơn cả quốc-gia nữa, mà là một nền văn-hoá vĩ-đại có sự khôn-ngoan hiểu-biết rất vô-tận.” (X. Elisabetta Povoledo, Pope Francis set for historic meeting with leader of Russian Orthodox Chursh, New York Times 06/02/2016)

Xem xét thế rồi, nay ta cũng nên có giòng chảy lịch-sử về vai trò chóp bu trong Đạo, theo tầm nhìn của một số học-giả chuyên ngành, như sau:

“Khi đế quốc La Mã chinh-phục toàn thế-giới lúc ấy, giới ngoại-đạo đã triển-khai từ xứ miền Babylon lan rộng đến nhiều nước khác nhau và từ đó, hệ-thống đạo-giáo của La Mã cũng từ đó xuất-hiện với nhiều người. Điều này bao gồm cả ý-niệm cùng vai-trò của vị Trưởng-tế cao-cấp nhất mà người Âu Châu dùng cụm từ “Pontiff” là dựa vào tên tuổi của Pontifex Maximus. Thế nên, giới ngoại-đạo Babylon, lúc đầu được thể-hiện dưới triều vua Nimrod, sau này kết-hợp dưới quyền-uy thế-lực của một đấng trị vì là Julius Caesar. Khi ấy, vào năm 3 trước Công nguyên, là lúc Hoàng đế Julius Caesar đã chính-thức được coi là “Pontifex Maximus” của đạo-giáo bí-ẩn, nay thiết-lập tại Rôma.
Có điều lạ, là: vào thời Đức Giêsu đang rao giảng, người nghe Ngài giảng có mang đồng tiền kẽm khắc hình Hoàng đế Augustus Caesar (27-14 trước Công nguyên) đến cho Đức Giêsu coi, và Ngài hỏi: “Tiền này khắc hình ai thế? Và họ trả lời: hình Hoàng-đế Caesar…” (Mt 22: 17-22)

Các hoàng-đế La Mã (trong đó có cả Constantine thời sau này) đã tiếp tục duy-trì chức-năng của Trưởng-tế Pontifex Maximus mãi đến niên-biểu 376 khi Gratian vì các lý-do tôn-giáo đã từ chối nó. Ông ta coi danh-xưng và chức-năng này mang tính “ngẫu-thần” rất báng-bổ. Mãi cho đến khi ấy, Giám mục thành La Mã được nâng quyền-bính chính-trị và thanh-thế. Kết quả là, vào năm 378, Đức Giáo-hoàng Demasus, Giám-mục thành La Mã được bầu là Trưởng-tế tối cao, tức: Pontifex Maximus, là vị thượng-tế cao-cấp nhất của các quyền-lực thần-bí được chính-thức công-nhận.

Cũng từ đó, Rôma (tức: La Mã) đã được coi là thành-trì quan-trọng nhất trên thế-giới, và tín-hữu Đạo Chúa lại đã coi vị Giám-mục thành La Mã như “Giám-mục của các giám-mục” làm đầu Hội-thánh. Điều này gây ra tình-huống có một không hai trên thế-giới. Và, một người duy-nhất được coi là “Đấng làm đầu” của mọi tín-hữu cả Đạo Chúa lẫn giới ngoại-đạo. Đến khi ấy và vào các năm tiếp theo sau, giòng chảy ngoại-đạo và Đạo Chúa đã đan xen và cùng chảy với nhau và vào nhau tạo những gì được gọi là Hội thánh Công-giáo La Mã, dưới sự lãnh-đạo của vị Trưởng-tế cao-cấp nhất, mà ngày nay ta gọi là Đức Giáo Hoàng, hay Giáo-Chủ…” (X. Alexander Hislop, The Two Babylons, New York: Loizeaux Brothers 1959, tr. 207) 
             
            Nói thế tức bảo rằng: các tôn-giáo đều có gốc-nguồn từ ngoại-giáo ư? Có quá đáng lắm không? Có lẽ là không. Bởi đó là lịch sử hoặc dã-sử về các đạo-giáo cũng như Công giáo La Mã mình. Bởi, Đạo Chúa đâu do Đức Giêsu thiết-lập, nhưng lại xuất-phát từ Do-thái-giáo, rất Babylon. Babylon xưa, là nguồn-cội của nhiều Đạo đã biến-hoá và phát-triển khắp thế-giới theo chiều ngang/dọc và có thể cả chiều cao, cũng không chừng!
Có thể nói: dù muốn dù không, người người không thể chối bỏ lịch-sử ngàn năm văn-vật rất Babylon. Chí ít là chuyện Đạo và đặc-biệt là chuyện giữ Đạo và sống Đạo. Vấn-đề có thành hay không là hỏi rằng: dù ở hoàn-cảnh/môi-trường nào đi nữa, người ta –tức ta và người – đã và sẽ sống Đạo ra sao? Đạo ấy từ đâu đến? Do Ai? Và của Ai?
Hôm nay, nói thế không phải để chê-trách, cãi cọ chuyện này nọ, nhưng chỉ bảo nhau bằng ca-tư rất “êm ru” ở bài hát rất bên trên, rằng:

“Hầy hô! Hây Hồ! Hây hô!
Ngoảnh nhìn quanh ta vẫn nhớ
Ôi êm ru ngày mùa…

Hầy hô! Hây hồ! Hây hô…
Hầy hô! Hây hồ! Hây hô…
(Phạm Duy – bđd)

Nhớ và hát thế rồi, hẳn tôi và bạn cũng sẽ không quên lời nhắc nhở của bậc thánh-hiền vẫn cương-quyết nhắc hoài và nhắc mãi những câu như:

“Hãy sống hoà thuận với nhau…
hãy khuyên bảo người vô kỷ luật,
khích lệ kẻ nhút nhát,
nâng đỡ người yếu đuối,
và kiên nhẫn với mọi người.
Anh chị em hãy vui mừng luôn mãi
và cầu nguyện không ngừng.
Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh.
Anh em hãy làm như vậy,
đó là điều Thiên Chúa muốn…”
(1 Thessalônikê 5: 12-19)

Sống vui mừng, hoà-thuận mãi với mọi người. Hẳn, đó là lời khuyên và bàn rất muôn thuở.

Trần Ngọc Mười Hai
Nay chả dám khuyên
Chả dám bàn với những ai
ngoài chính mình mình, mà thôi. 

 

April 11, 2019