Suy Niệm Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi

by Trầm Thiên Thu

June 11, 2019

 

 

LÝ GIẢI TAM VỊ NHẤT THỂ

Các Kitô hữu có khó tưởng tượng có Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần là Một Chúa mà lại có Ba Ngôi?
1. ĐÓ LÀ VẤN ĐỀ
Câu trả lời không dễ, thế nên việc đầu tiên của chúng ta là giải thích lý do tại sao đáng để tìm hiểu. Trước tiên, niềm tin của chúng ta tìm cách hiểu. Aristotle nói: “Mọi người đều muốn biết” (metaphysics – siêu hình học). Tuy nhiên, đó không chỉ là niềm tin tìm cách hiểu, đó cũng là lòng yêu mến của chúng ta. Khi yêu mến ai, người ta muốn biết mọi thứ về người đó. Quan trọng nhất là người ta muốn biết điều gì làm cho người đó chính là người đó. Lòng yêu mến của chúng ta dành cho Thiên Chúa mời gọi chúng ta nhận biết Ngài sâu sắc đến tận cùng.
Lý do thứ hai là sự hiểu biết như vậy có sức mạnh giúp chúng ta giải thích niềm tin của chúng ta cho người khác hiểu. Thứ ba, đào sâu bí ẩn về Thiên Chúa không giúp đỡ nhưng khơi dậy sự thắc mắc của chúng ta và làm cho chúng ta ngạc nhiên về sự uy nghi của Thiên Chúa. Thần học có thể trợ giúp chúng ta chiêm ngưỡng. Thứ bốn, cách đánh giá về vẻ đẹp của chân lý sẽ làm sâu sắc lòng yêu mến của chúng ta dành cho Thiên Chúa.
2. GIÁO LÝ VỀ CHÚA BA NGÔI
Điều chúng ta đang tìm hiểu là giáo lý khá đơn giản: Một Thiên Chúa có Ba Ngôi. Tín điều Công Đồng Nicê nói: “Chúng tôi tin kính một Thiên Chúa”. Với lời xác định đó, chúng ta đặt niềm tin vào Ba Ngôi: Ngôi Cha, Ngôi Con, và Ngôi Thánh Thần. Điều này hoàn toàn có trong Kinh Thánh. Ví dụ:
– Tôi và Chúa Cha là một. (Ga 10:30)
– Nơi Đức Kitô, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể. (Cl 2:9)
– Chúa Giêsu bảo các môn đệ ra đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. (Mt 28:19)
Hãy mở rộng một chút. Chúng ta tuyên xưng có một Thiên Chúa, không có ba Thiên Chúa. “Ba” đó không là ba bản thể mà là ba ngôi vị. Có một Thiên Chúa, mỗi ngôi hoàn toàn là Thiên Chúa. Chúa Cha là Thiên Chúa hoàn toàn, Chúa Con là Thiên Chúa hoàn toàn, Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa hoàn toàn.
Điều này có vẻ rắc rối hoặc nghịch lý đối với một số người. Thế là thế nào?
3. GIẢI THÍCH KHÔNG TÁC DỤNG
Một trong những cách giải thích hay nhất trong lịch sử Giáo Hội khả dĩ giúp tìm ra điều không tác dụng. Cách nói ẩn dụ nổi tiếng của Thánh Patrick về cây lá chụm hoa (three-leaved shamrock – cây có ba lá hoặc cây me đất, người Ai-len lấy hình cụm ba lá của cây này làm quốc huy) không còn là nó bởi vì mỗi lá trong cụm ba lá đó tách rời nhau. Chúa Cha không hiện hữu tách rời với Chúa Con hoặc Chúa Thánh Thần.
Một cách ẩn dụ phổ biến là nước. Chúng ta có thể nói có một chất nước hiện hữu trong ba trạng thái – băng, lỏng, và khí. Nhưng cách ẩn dụ này không đạt bởi vì nước không bao giờ hoàn toàn vừa là tảng băng, vừa là chất lỏng, và vừa là chất khí cùng một lúc. Nhưng Thiên Chúa luôn là Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần. Ngài không là Chúa Cha vào một lúc nào đó, Chúa Con lúc khác, và Chúa Thánh Thần lúc khác. Tách ba ngôi như vậy là tà thuyết Cách Tân (Modalism, cũng gọi là Sabellianism vì do Sabellius khởi xướng hồi thế kỷ II), cho rằng các ngôi vị không là thực thể, mà chỉ là “cách thức” Thiên Chúa hiện ra cho chúng ta.
Một cách ẩn dụ khác là sự sống động của một khối cầu kim loại chiếu sáng. Nó có một chất – chính kim loại đó. Nhưng có ba thứ cùng chia sẻ trong chất đó. Thứ nhất, có trạng thái tròn. Trạng thái tròn đó là thứ bao quanh toàn bộ khối cầu. Thứ nhì, có màu sắc. Chúng ta hãy tưởng tượng đó là màu đồng xám mà chúng ta có khi chà xát dầu trên ngón tay. Toàn bộ khối cầu là màu sắc này. Thứ ba, khối cầu rất bóng láng. Giống như hình dạng và màu sắc, sự bóng láng là thứ áp dụng đối với cả chất liệu của khối cầu. Chúng ta có thể nói rằng có một khối cầu bằng kim loại, tròn, màu đồng xám, và bóng láng.
Nhưng cách ẩn dụ này không còn nữa. Điều chúng ta đang nói đến là đặc tính của khối cầu, chứ không là bản chất. Chúng ta có thể vẽ nó bằng màu khác. Chúng ta có thể đập nó lõm vào, bớt phần trơn láng. Chúng ta có thể dùng búa lớn để làm cho nó không còn tròn trịa nữa. Nó là vật chất, có thể thay đổi, và có thể phân chia – khác với Thiên Chúa.
4. GIẢI THÍCH THIÊN CHÚA LÀ MỘT VÀ BA
Thánh giáo phụ Augustino có cách giải quyết vấn đề ẩn dụ về Tam Vị Nhất Thể. Nhìn sâu vào thế giới vật chất, nhìn vào trong trí tuệ phi vật chất. Ngài hỏi rằng trong chúng ta, có ai thấy cái gì là một và là ba cùng một lúc không? Thánh Augustino tìm ra câu trả lời là trí tuệ có trí nhớ, kiến thức, và tình yêu của chính nó.
Trí nhớ của trí tuệ là nguồn gốc của kiến thức. Khi tự ghi nhớ, trí tuệ sinh ra sự hiểu biết về chính nó. Và khi nó thấy chính nó là gì, thì ở một con người lành mạnh, trí tuệ sẽ yêu quý chính mình.
Toàn bộ trí tuệ ở trong mỗi cái ba này. Mọi thứ nó là, nó nghĩ, và nó làm bao gồm trong trí nhớ của nó. Cũng vậy, khi tự nhận biết, nó biết toàn bộ chính nó. Theo ý nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói rằng toàn bộ trí tuệ bao gồm trong sự nhận biết của nó về chính nó. Nó là toàn bộ chính nó mà nó yêu và bao gồm trong tình yêu đó.
Thánh Augustinô chú giải rằng có những cái ba này – trí nhớ, kiến thức, và tình yêu. Nhưng không có ba trí tuệ, chỉ có một. Thế nên trí tuệ vừa là một vừa là ba. Đó là một – trí tuệ, nhưng cũng là ba – trí tuệ, kiến thức, và tình yêu.
Ghi chú: Tôi đơn giản hóa và kết hợp những gì thực sự là hai điều tương tự mà Thánh Augustino đề cập. Phiên bản đơn giản hóa này cũng được Thánh Thomas Aquino sử dụng. Cũng có thể đọc tác phẩm “On Trinity” (Về Tam Vị Nhất Thể) của Thánh Augustino, và tác phẩm “Summa Contra Gentiles” của Thánh Thomas (tác phẩm “Summa Contra Gentiles” còn gọi là “Liber de veritate catholicae fidei contra errores infidelium” – Sách về Chân lý Đức tin Công giáo chống lại sai lầm của những người không tin, gồm 4 cuốn, viết trong thời gian 1259-1265).
Chúng ta có thể thấy sự rõ ràng song song giữa trí tuệ và Tam Vị Nhất Thể. Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần tượng tự trí nhớ của trí tuệ, kiến thức, và tình yêu của chính nó.
Giáo lý Công giáo gọi Chúa Cha là “nguồn gốc và căn nguyên của thần tính” – giống như cách mà trí nhớ của chúng ta là nguồn gốc của kiến thức và tình yêu của chính nó. Chúa Con kết hiệp với sự tự nhận biết của Thiên Chúa, đó là lý do mà Ngài cũng được gọi là Ngôi Lời và Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa (x. Ga 1:1 và 1 Cr 1:24). Cuối cùng, Chúa Thánh Thần kết hiệp với tình yêu của Thiên Chúa (x. Rm 5:5).
Vì thế, sự tương tự của trí tuệ không chỉ giải thích điều có vẻ nghịch lý về cách thức của điều gì đó (hoặc người nào đó) có thể là một và ba, điều đó cũng giải thích cái ba mà chúng ta hiểu – Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.
5. GIẢI THÍCH LÝ DO CÓ BA NGÔI
Có hai vấn đề chưa được trả lời. Bởi vì chúng ta ở ngoài không gian, các câu trả lời ngắn cũng đủ. Thứ nhất, tại sao cái ba nơi Thiên Chúa gọi là các ngôi vị?
Hãy nhìn điều này: Thánh Thomas Aquino nói rằng một ngôi là “một thực thể riêng của một bản chất hợp lý”. Mới đầu nghe có vẻ khá hay. Nhưng khoan đã! Có điều gì đó không ổn trong chúng ta khi nghĩ về các cá nhân trong Thiên Chúa. Chắc chắn Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần không là ba ngôi riêng biệt có cùng bản thể Thiên Chúa theo kiểu nói rằng John, Joe, và James là ba con người có cùng một nhân tính.
Thánh Thomas nhận thấy điều bất ổn này. Ngài nói rằng “cá tình” chỉ xảy ra khi chúng ta nói về vấn đề mà chúng ta có, nhưng Thiên Chúa thì không. Vì thế, khi nói về Thiên Chúa, chúng ta phải nhận biết rằng chúng ta sử dụng chữ “ngôi” với ý nghĩa khác so với khi chúng ta nói về con người. Khi nói về Thiên Chúa, Thánh Thomas nói rằng chúng ta phải sử dụng cách định nghĩa của Richard of St. Victor về ngôi vị là “sự hiện hữu không thể hiểu của thần tính” (incommunicable existence of the divine nature).
Nói cách khác, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần thực sự hiện hữu, và Ba Ngôi có thể phân biệt với nhau. Chúa Cha là Thiên Chúa, Chúa Con là Thiên Chúa, và Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa. Nhưng Chúa Cha không là Chúa Con, và Chúa Con không là Chúa Thánh Thần.
Theo cách nào đó, vì dụ về John, Joe, và James có thể giúp chúng ta hiểu điều này. Nếu một người hoài nghi hỏi làm sao có thể có ba ngôi của một bản chất hợp lý thì hãy nói rằng bạn và bạn của bạn, và người thứ ba đang sống để chứng tỏ điều có thể. Sự khác nhau nhiều giữa Thiên Chúa và nhân loại là “không có các cá nhân”. Bạn càng hiểu sự thật đó thì bạn càng có thể hiểu rằng Thiên Chúa chỉ có một và có ba ngôi.
Có thể có sự khôn ngoan trong cách nhượng bộ của Thánh Augustino, rằng chúng ta thực sự không thể biết ngôi vị có nghĩa gì khi áp dụng cho Thiên Chúa: “Khi hỏi ‘ba cái gì?’ thì ngôn ngữ loài người gặp khó khăn vì thiếu từ ngữ. Cho nên chúng ta nói ba ngôi vị, chứ không nói chính xác, mà là để im lặng”.
6. TẠI SAO CÓ BA NGÔI?
Vấn đề thứ hai là lý do có ba ngôi. Tại sao không là bốn hay năm? Trong tác phẩm “Summa Contra Gentiles”, Thánh Thomas chỉ ra sự tương tự về trí tuệ của Thánh Augustino để trả lời. Khá đơn giản. Không hơn ba lý do là Thiên Chúa nhớ, biết, và yêu chính Ngài. Không cần bất kỳ ai khác.
Do đó, tín điều Chúa Ba Ngôi là điều chúng ta có thể hiểu được. Nhưng cách hiểu của chúng ta khá hạn chế, và không thể tránh có lúc chúng ta lặng lẽ thắc mắc về mầu nhiệm cao cả này.
STEPHEN BEALE
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Lễ Chúa Ba Ngôi – 2019
Xin mời tham khảo thêm:
✠ CHÚA BA NGÔI VÀ ĐỜI SỐNG TÂM LINH – https://tramthienthu.blogspot.com/2016/05/chua-ba-ngoi-va-oi-song-tam-linh.html
✠ HIỂU GIỚI TÍNH QUA MẦU NHIỆM CHÚA BA NGÔI – https://tramthienthu.blogspot.com/2017/06/hieu-gioi-tinh-qua-mau-nhiem-chua-ba.html
✠ NHẬN THỨC VỀ CHÚA BA NGÔI – https://tramthienthu.blogspot.com/2017/06/nhan-thuc-ve-chua-ba-ngoi.html

 

NHÂN DANH THIÊN CHÚA

THIÊN CHÚA CHÍ LINH TAM VỊ NHẤT THỂ
CHÚNG NHÂN HÈN MỌN MỘT ĐỜI ĐA ĐOAN
Một Chúa Ba Ngôi là đệ nhất mầu nhiệm, phàm nhân không thể giải thích đầy đủ, chỉ tương đối để có thể hiểu với trí tuệ phàm nhân mà thôi. Thánh Phaolô nói: “Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được! Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa? Ai đã làm cố vấn cho Người?” (Rm 11:33-34).
Chắc là chúng ta không quên truyện kể về Thánh GM TS Augustinô, một người giỏi giang, thông minh xuất chúng, đã từng suy luận về Chúa Ba Ngôi mà không sao hiểu nổi, đành “bó tay” và đầu hàng vô điều kiện. Truyện kể rằng Thánh Augustinô cố tìm cách giải thích về Thiên Chúa Tam Vị Nhất Thể thì gặp một em bé ngồi múc nước biển đổ vào cái hang, thấy lạ nên ngài hỏi: “Cháu làm gì thế?”. Em bé trả lời: “Cháu tát nước biển”. Thánh nhân ngạc nhiên: “Làm sao cháu tát cạn được biển?”. Đứa bé vô tư nói: “Việc cháu làm đây còn dễ hơn việc ông đang suy nghĩ”. Thánh Augustinô giật mình và tỉnh ngộ!
Kinh Thánh cho biết rằng Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng Tam Vị Nhất Thể, là THIÊN CHÚA DUY NHẤT (Xh 20:3; Xh 34:14; Đnl 4:35; Đnl 4:39; Đnl 5:7; Đnl 6:4; Đnl 32:39; Kn 12:13; Is 43:10-13; Is 44:8; Is 45:5-6; Is 46:9; Đn 14:41; Hs 13:4; Mc 12:29; Ga 5:44; Ga 17:3; 1 Cr 8:4; 1 Tm 2:5; Gl 3:20), và Ngài có BA NGÔI – Tân Ước không dùng từ Ba Ngôi nhưng có cách nói khác cho biết Thiên Chúa có ba ngôi (Mt 28:19; 2 Cr 13:14; Ep 2:18).
Đặc biệt là lời xác định của Đức Giêsu Kitô cho biết về Ba Ngôi: “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói: Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16:13-15).
Thiên Chúa là Đấng như thế nào? Ngài “là THẦN các thần, là CHÚA các chúa, là THIÊN CHÚA VĨ ĐẠI, dũng mãnh, khả uý, không thiên vị ai và không nhận quà hối lộ, xử công minh cho cô nhi quả phụ, yêu thương ngoại kiều, và cho họ bánh ăn, áo mặc” (Đnl 10:17-18). Chúng ta đã và đang tin nhận Ngài, vấn đề quan trọng là vững tin suốt đời: “Chúng ta không nhận biết một thần nào khác ngoài Thiên Chúa” (Gđt 8:20). Vả lại, luật dạy chúng ta “phải kính sợ, phải phụng thờ, phải gắn bó, phải ca tụng” (Đnl 10:19-21).
Trong hình học, chúng ta thấy Tam Giác Đều là loại tam giác đặc biệt – luôn có các cạnh, góc, đường cao, trung tuyến,… hoàn toàn bằng nhau. Thật lạ lùng quá! Dù chỉ là hình học nhưng nó đã cho chúng ta thấy “cái lạ” trong loại tam giác độc đáo đó. Ai tạo nên? Không một thiên tài nào có thể tạo nên, mà chính là Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng đã tạo nên. Người ta chỉ phát hiện những gì đã có sẵn, gọi là sáng kiến hoặc phát minh, chứ không sáng tạo.
Chắc chắn không có bất cứ một thần linh nào như Thiên Chúa của chúng ta, Đấng mà chúng ta hết lòng tôn thờ. Chỉ một Chúa mà lại có ba Ngôi Vị – một mà ba, ba mà một, gọi là Tam Vị Nhất Thể (Trinitas, Trinity, Trinité). Trí tuệ phàm phu tục tử của nhân loại không thể suy luận và chứng minh bằng bất kỳ cách nào trọn vẹn nhất, ngay cả trí tuệ các thiên thần cũng không thể hiểu. Vì thế, Tam Vị Nhất Thể chỉ có thể hiểu được bằng “trí tuệ” của Đức Tin. Và chúng ta cũng chẳng có đức tin nếu không được chính Ngài trao ban, như Đức Giêsu đã xác định: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy” (Ga 6:44).
Cũng chính Thiên Chúa Tam Vị Nhất Thể đó là Đấng đã tác tạo nên mọi sự – người và vật, hữu hình và vô hình. Và Ngài đã được Đức Khôn Ngoan ca tụng: “Đức Chúa đã dựng nên ta như tác phẩm đầu tay của Người, trước mọi công trình của Người từ thời xa xưa nhất. Ta đã được tấn phong từ đời đời, từ nguyên thuỷ, trước khi có mặt đất. Khi chưa có các vực thẳm, khi chưa có mạch nước tràn đầy, ta đã được sinh ra. Trước khi núi non được đặt nền vững chắc, trước khi có gò nổng, ta đã được sinh ra, khi Đức Chúa chưa làm ra mặt đất với khoảng không, và những hạt bụi đầu tiên tạo nên vũ trụ” (Cn 8:22-26). Thiên Chúa toàn năng, biến không thành có.
Khôn và Khốn rất dễ lầm lẫn – giống như Việt ngữ chỉ khác nhau ở “dấu sắc” mà thôi. Thật vậy, Kinh Thánh xác định và giải thích: “Hết những ai không chịu nhìn nhận Thiên Chúa, tự bản chất là những kẻ ngu si. Từ những vật hữu hình tốt đẹp, chúng không đủ khả năng nhận ra Đấng hiện hữu, và khi chiêm ngắm bao công trình, chúng cũng không nhận biết Đấng Hoá Công. Thế mà, lửa với gió, hay làn khí thoảng qua, hay tinh tú bầu trời, hay nước chảy cuồn cuộn, hay đèn trời thắp sáng, chúng lại coi là thần, là những bậc quản cai hoàn vũ” (Kn 13:1-2).
Thiên Chúa vẫn không ngừng sáng tạo. Có biết bao điều mới lạ và thú vị. Đức Khôn Ngoan tiếp tục ca tụng: “Đã có ta hiện diện khi Người thiết lập cõi trời, khi Người vạch một vòng tròn trên mặt vực thẳm, khi Người làm cho mây tụ lại ở trên cao và cho các mạch nước vọt lên từ vực thẳm, khi Người định ranh giới cho biển, để nước khỏi tràn bờ, khi Người đặt nền móng cho đất. Ta hiện diện bên Người như tay thợ cả. Ngày ngày ta là niềm vui của Người, trước mặt Người, ta không ngớt vui chơi, vui chơi trên mặt đất, ta đùa vui với con cái loài người” (Cn 8:31). Thiên Chúa tối thượng, nhưng Ngài lại vui thích ở giữa chúng ta – những kẻ hèn hạ.
Vô cùng kỳ diệu đối với công trình sáng tạo của Chúa Ba Ngôi – cả thiên nhiên và tâm linh, cả hữu hình và vô hình. Ngài là “Đấng sáng tạo mọi loài” và là “tác giả của muôn vẻ đẹp” (Kn 13:3). Chúng ta chỉ còn biết cúi đầu cảm tạ và tuyên xưng Ngài không ngừng theo khả năng và nỗ lực của mình.
Sau khi nhìn ngắm thiên nhiên và nhìn lại chính mình, Thánh Vịnh gia đã cảm nhận và rồi bụng bảo dạ: “Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm?” (Tv 8:4-5). Ngài không chỉ “cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy”, mà lại còn “ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên”, và “cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân” (Tv 8:8). Muôn loài đó là gì? Là “chiên bò đủ loại, nào thú vật ngoài đồng, nào chim trời cá biển, mọi loài ngang dọc khắp trùng dương” (Tv 8:9). Thật diễm phúc cho loài người chúng ta! Người Việt có câu: “Trời sinh voi, sinh cỏ”. Câu tục ngữ ngụ ý công nhận sự quan phòng của Thiên Chúa, đồng thời cũng mặc nhiên tôn vinh Ngài.
Như vậy là tâm linh, là hữu thần chứ không vô thần, dù bề ngoài người ta không công nhận. Và như thế cũng là tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi. Thật vô lý khi những người tự nhận là vô thần hoặc vô tín ngưỡng mà lại thắp nhang khấn vái, xem tử vi, coi bói toán, cúng sao giải hạn,… Tự mâu thuẫn như vậy để làm gì? Tin vào cái gì và có ích gì? Ca dao nói: “Dẫu xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người”. Cứ ngang nhiên cướp của, hại người, rồi thắp nhang khấn vái. Thế là xong ư? Thần linh nào dám chứng giám?
Quả thật, niềm tin và đức tin vô cùng quan trọng trong cuộc sống – dù đời thường hoặc tâm linh. Chính đức tin làm cho người ta được nên công chính. Thánh Phaolô nói: “Một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vì chúng ta tin, nên Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa” (Rm 5:1-2).
Trong lòng có tin thì mới kính sợ Thiên Chúa, nhưng kính sợ như thế nào cho đúng? Tác giả sách Châm Ngôn định nghĩa: “Kính sợ Đức Chúa là gớm ghét điều dữ” (Cn 8:13). Rất ngắn gọn, rất súc tích. Tin khi vui mừng, khi may mắn, đó là chuyện bình thường. Tin khi gian nan khốn khổ mới đáng kể, đó mới là đức tin đích thực. Lửa thử vàng, gian nan thử sức (tục ngữ). Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai? (Phan Bội Châu).
Có nhiều thứ khiến người ta tự hào, nhưng niềm tự hào của Kitô hữu lại khác hẳn với đời thường. Thánh Phaolô đã xác nhận: “Nhưng không phải chỉ có thế; chúng ta còn TỰ HÀO khi gặp gian truân, vì biết rằng: ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chịu đựng thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên thì có quyền trông cậy. Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5:3-5). Một loạt các động thái liên quan với nhau rất lô-gích. Cũng nhờ tin tưởng mà hy vọng, hy vọng vì yêu mến, và nhờ yêu mến mà được đầy tràn Thần Khí – Chúa Thánh Thần. Thật kỳ diệu biết bao!
Lúc còn tại thế, Chúa Giêsu đã có lần nói với các môn đệ: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi” (Ga 16:12). Ngài biết bản tính nhân loại quá yếu đuối, không đủ sức chịu nổi cú “sốc” mạnh. Cái già mới thì cũng lạ, bởi vậy rất cần khả năng tiếp thu và nhạy bén – có người mau, có người chậm. Mưa dầm thấm sâu. Cứ từ từ, chậm mà chắc. Thà vậy còn hơn cổ hủ, cố chấp.
Không phải Chúa Giêsu không muốn nói ra điều bí ẩn, mà Ngài chưa nói, vì phàm nhân chưa đủ mức hiểu, nghĩa là Ngài sẽ nói. Thật vậy, Ngài hứa: “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến” (Ga 16:13). Rồi chính Ngài đã xác nhận điều liên quan Thiên Chúa Ba Ngôi: “Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói: Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16:15). Chúa Thánh Thần đã, đang và sẽ mãi mãi tác động nơi mỗi người chúng ta, vấn đề là chúng ta có theo cách của Ngài hay không.
Mặc dù hèn tài, thiển ý, nhưng chắc chắn chúng ta vẫn có nhiều cách tuyên xưng Chúa Ba Ngôi, một trong các cách đó là làm dấu: Nhân Danh Chúa Cha, và Chúa Con, và Chúa Thánh Thần. Rất đơn giản nhưng lại rất quan trọng. Đúng vậy, chúng ta phải thành tâm LÀM DẤU chứ đừng bây giờ LÀM GIẤU. Sai một ly đi ngàn dặm. Và đừng làm vội vã, làm cho xong lần. Thật ý nghĩa khi chúng ta làm dấu kép: “Lạy Chúa chúng con, vì dấu Thánh Giá, xin chữa chúng con cho khỏi kẻ thù”.
Thánh Phaolô căn dặn: “Dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1 Cr 10:31). Không quan trọng về việc làm, mà quan trọng về cách làm, đặc biệt là ý làm vì yêu mến Chúa. Nhờ đó mà việc gì cũng có giá trị. Có lần Chúa Giêsu đã “trách yêu” bằng cảnh báo này: “Cho đến nay, anh em đã CHẲNG XIN GÌ NHÂN DANH THẦY. Cứ xin đi, anh em sẽ được, để niềm vui của anh em nên trọn vẹn” (Ga 16:24).
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh, chí minh và chí thiện, xin củng cố đức tin nơi chúng con, xin giúp chúng con sống khiêm nhường và luôn tín thác vào Ngài. Lạy Cha hằng hữu, xin thương xót và tha thứ những tội lỗi do chúng con cứng lòng hoặc yếu đuối. Giờ đây, chúng con nhận thức rằng chúng con sẽ chẳng làm được gì nếu không có Ngài. Xin liên kết chúng con bằng sợi tình thương xót, để chúng con nên một như Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

VẤN ĐỀ SỰ THẬT

Chúa Giêsu nói với ông Philatô: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Ông Philatô hỏi Ngài: “Quid est veritas? – Sự thật là gì?” (Ga 18:37-38). Câu hỏi của ông Philatô vang lên qua tiếng nói của nhiều người ngày nay, câu trả lời đúng cho câu hỏi này cũng tương tự, và do đó cũng vẫn quan trọng như xưa.
Khi nghiên cứu cách trình bày về vấn đề luân lý, một người bạn tìm kiếm cách định nghĩa về sự thật, và thấy Google nói thế này: “Một sự kiện hoặc niềm tin được chấp nhận là thật”. Ôi chao! Có hai vấn đề minh nhiên với cách định nghĩa này.
Có thể điều thứ nhất chúng ta nên coi định nghĩa này chẳng định nghĩa gì cả. Bất kỳ cách định nghĩa nào có khái niệm tương tự được dùng trong cách định nghĩa đó thì hoàn toàn vô nghĩa, giống như nói “sự thiện là điều tốt”. Chẳng có gì để cảm ơn!
Sai lầm lớn thứ hai thấy trong “sự khôn ngoan” của Google wisdom là tính chủ quan tự hủy diệt (self-destructive subjectivism) với cách định nghĩa như vậy. Nếu “chấp nhận” hoặc “đồng ý” với điều gì đó làm cho nó trở thành đúng thật thì sự thật đó không có. Nếu tôi tin (chấp nhận), hoặc thậm chí thuyết phục người khác đồng ý rằng “tôi là Thiên Chúa” thì điều đó có trở nên đúng thật không? Nếu như vậy, sự thật đó nghĩa là gì? Chẳng là gì cả!
Điều này có vẻ không quan trọng nhưng lại rất quan trọng. Kết luận hợp lý và theo tiềm thức về sự điên rồ như vậy là thuyết hư vô thuần túy (pure nihilism): Sự vô nghĩa hoàn toàn và sự phù phiếm tăm tối của cuộc sống. Nếu không có điều như vậy là sự thiện và sự ác khách quan, hoặc nếu tôi không thể biết điều gì chắc chắn, thì sự thật được xác định của Hitler cũng có giá trị như sự thật của Đức Giêsu Kitô. Có nghĩa là chúng ta không có quyền nói rằng cuộc tàn sát tập thể của Hitler là sai lầm. Có nghĩa là nhân quyền là cách xây dựng xã hội có thể được tạo ra hoặc loại bỏ. Có nghĩa là tôi không bao giờ biết tôi là ai, Kitô hữu đánh giá mình, hoặc không có người bạn thật. Có nghĩa là không có gì để tôi tin để cố gắng chịu khổ cực và đấu tranh, ngay cả cuộc đời tôi cũng là không. Bạn thấy thế nào?
Trước khi nắm bắt vấn đề, xin hãy mở cửa sổ ra và hít vào thật sâu. Cuộc sống không vô nghĩa. Sự thật hiện hữu. Thiên Chúa hiện hữu, và Ngài là chính Thực Thể đó. Các câu trả lời quan trọng cho con-rắn-lưỡi-chẻ này rõ ràng như chính chúng đơn giản.
Địng nghĩa thứ nhất về sự thật mà chúng ta phải nhớ và dạy cho người trẻ là thế giới này đã thấy: cách định nghĩa được yêu thích là cách định nghĩa của Thánh Thomas Aquinas, Thánh Bonaventure, và Chân phước John Duns Scotus, vì họ đứng trên đôi vai của hiền triết Plato, hiền triết Aristotle, và Thánh TS Augustinô. Quid est veritas? Đây là câu trả lời đơn giản: Adaequatio rei et intellectus [sự giống nhau của điều có thật và khái niệm theo sự hiểu biết, phù hợp với sự hiểu biết]. Những trái chuối hiện hữu và độc lập với kiến thức hoặc ý kiến về chúng. Phạm vi mà bạn nghĩ về một trái chuối phù hợp với thực tế của một trái chuối là phạm vi mà bạn biết sự thật về những trái chuối. Trí óc của chúng ta cho điều này là tự nhiên khi chúng ta đặt vấn đề hoặc tìm các hiểu. Đó là cái mà trí tuệ của chúng ta hoạt động.
Ngay cả khi chúng ta cố gắng bẻ cong cách hiểu thành sự tự hủy diệt bằng cách từ chối sự hiện hữu của sự thật, chúng ta vẫn dựa vào thực tế của sự thật để quyết định. Hãy nhìn vào định nghĩa của Google: Mặc dù cố gắng hủy diệt sự thật khách quan bằng cách xác định nó theo cách nói chủ quan hoàn toàn, nó cho bạn một cách định nghĩa đúng thật một cách khách quan! Thiên Chúa tạo dựng chúng ta để tìm kiếm và nhận biết sự thật, kiến thức này đã được chứng thực và làm cho thuận tiện bằng ý nghĩa chung vì con người hiện hữu. Từ chối điều này là sự phỉ báng chống lại Đấng Tạo Hóa nhân từ của chúng ta bằng cách từ chối các tặng phẩm mà Ngài trao ban cho chúng ta được giống hình ảnh Ngài, cũng như sự tốt lành của Ngài khi trao ban sự sống cho chúng ta có lý do và có mục đích. Hơn nữa, viện cớ thương xót hoặc khiêm nhường, giả bộ rằng cách hiểu sai của ai đó là sự thật có thể tin được thì đó là tôi chống lại người lân cận của chúng ta được tạo dựng vì sự thật, và chống lại tất cả những người chịu ảnh hưởng vì thông tin sai lầm đó. Điều này không là gì khác ngoài đức ái hoặc đức khiêm nhường đích thực! Bây giờ không là lúc để hèn nhát mà che giấu sự cởi mở hoặc thương xót; con đường bác ái mở ra trước chúng ta là cầu nguyện cho người lân cận của chúng ta, nhưng cũng phải cho họ biết về sự thật, vì chỉ có “đức ái trong chân lý, và chân lý trong đức ái” (caritas in veritate, et veritas in caritate).
Mặc dù khái niệm đó rất quan trọng, có một điều nữa: có sự thật và có Chân Lý. Câu trả lời quan trọng nhất cho câu hỏi “Sự thật là gì?” đã được đưa ra bởi Đấng thượng Trí, đã từng sống trên trần gian, vì Ngài là Đấng Vô Hạn, và chính Ngài đã xác định: “Tôi là Con Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống” (Ga 14:6). Câu trả lời hoàn hảo nhất cho việc tìm kiếm Chân Lý luôn là Đức Kitô: Ngài là Thực Thể, Lý Do, Nguyên Nhân, và Tận Cùng cho sự hiện hữu của chúng ta. Ngài là Ngôi Lời, Ngài muốn chúng ta hiện hữu với một mục đích: Nhận biết và yêu mến Ngài – Đấng là Chân Lý – và hạnh phúc trong Ngài mãi mãi. Theo Thánh Augustine, “Ngài tạo dựng chúng ta cho Ngài, và trái tim chúng ta còn xao xuyến cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài”.
Không có Đức Kitô, chúng ta “bước đi trong bóng tối” (Ga 12:35), điều mà C.S. Lewis đã nói rõ trong cuốn “The Great Divorce” (Đại Ly Hôn) là địa ngục của chúng ta: “Khép kín thụ tạo trong ngục tối của trí óc chúng ta” khi ngang bướng từ chối Thực Thể của Thiên Chúa (nghĩa là Nước Trời). Ngài đã hứa với chúng ta rằng những ai tìm kiếm Ngài sẽ được thấy Ngài (x. Mt 7:7; Lc 11:9). Chúng ta càng tìm kiếm Ngài, Đấng là Sự Thật, càng sớm tuân theo Ngài và yêu mến Ngài, chúng ta càng mau được hạnh phúc và thánh thiện – vì chúng ta được tạo dựng vì mục đích đó. Không còn nô lệ cho tội lỗi và không còn ngu xuẩn, chúng ta sẽ đến gần Thánh Tâm Chúa. Chúng ta sẽ “biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng” chúng ta (x. Ga 8:32).
STEPHEN SNYDER
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CrisisMagazine.com)
Tháng Sáu – 2019

PHÉP LẠ THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

Ngày 8-5-1902, núi lửa “thức giấc” ở Mount Pelée trên đảo Martinique tại vùng Caribê làm mất một phần mười làng Saint-Pierre (Thánh Phêrô) và lan tới làng Morne Rouge.

Hôm đó là ngày lễ Thăng Thiên, tín hữu Công giáo quy tụ tại nhà thờ và lo sợ về núi lửa dữ dội. Mọi người rất sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, cha xứ đặt Mình Thánh Chúa trên bàn thờ để mọi người tôn kính.

Ai cũng muốn xưng tội lần cuối và sốt sáng cầu nguyện cho sự sống của mình, họ nhìn lên và thấy Thánh Tâm Chúa Giêsu hiện ra nơi Bánh Thánh. Họ thấy Thánh Tâm Chúa Giêsu có vòng gai và những giọt Máu Thánh chảy ra. Cuộc hiện ra kéo dài vài giờ, rất nhiều người chứng kiến phép lạ này. Dân làng đã thoát chết hôm đó và có cơ hội giao hòa với Thiên Chúa qua bí tích Hòa Giải.

Nhưng vài tháng sau, ngày 30-8 năm đó, một vụ núi lửa phun lại xảy ra làm nhiều người chết tại làng Morne Rouge. Dân làng Saint-Pierre tin rằng Thiên Chúa đã cứu sống họ vào ngày 8-5 để họ có thời gian giao hòa với Thiên Chúa. Thay vì coi đó là sự nổi giận của Thiên Chúa, họ tin rằng đó là lòng thương xót và họ càng sùng kính Thánh Tâm Chúa nhiều hơn sau sự kiện khủng khiếp đó.

TRẦM THIÊN THU (theo aleteia.org)

 

MẶC KHẢI THÁNH TÂM CHÚA

Chúa Giêsu mặc khải cho Thánh Margaret Maria Alacoque, nữ tu Dòng Thăm Viếng (The Visitation Order), biết điều này: “Ta sẽ điều chỉnh ân sủng của Ta theo tinh thần Luật Dòng của con, và Ta muốn con ưu tiên Luật Dòng hơn mọi thứ khác”.
Thánh Margaret Maria Alacoque (1647-1690) được biết đến là một nữ tu được mặc khải những điều giúp phổ biến lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Không thể bác bỏ nền tảng Kinh Thánh và giáo lý thời Trung Cổ, có thể nói rằng hình thức sùng kính ở Tây phương ngày nay khởi đầu phát triển từ thị kiến của Thánh Margaret Maria Alacoque. Nói cách khác, người nữ tu hèn mọn của thành phố Paray-le-Monial (Pháp) đã giúp làm cho lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa trở nên thành phần văn hóa của Giáo Hội Công giáo, không chỉ sùng kính riêng mà còn phổ biến, đặc biệt là với lễ trọng trong Phụng Vụ.
Có ít nhất 16 nhà thờ trong số rất nhiều nhà thờ Công giáo dâng kính Thánh Tâm Chúa – từ Istanbul tới Paris, Lisbon, Nam Bend, Pondicherry, India – được xếp loại là Vương Cung Thánh Đường (Basilica). Hiếm khi kinh nghiệm thần bí cá nhân được Giáo Hội công nhận là đáng tin. Càng hiếm hơn với các mặc khải tư như vậy được công nhận hầu như toàn cầu. Để hiểu thị kiến của Thánh Margaret Maria Alacoque có ảnh hưởng nhiều như thế nào, chúng ta phải biết hoàn cảnh của thánh nữ hồi thế kỷ XVII ở Pháp, chú ý ba lĩnh vực: sự phát triển của sự khắc khổ, tầm quan trọng của sự thần bí, và sự phát triển của Dòng Thăm Viếng.
Đa số tinh thần Công giáo Pháp chấp nhận sự khổ chế hồi thế kỷ XVII. Sự nổi dậy của phong trào Jansen (*) tại Pháp – như được phác họa bởi nét riêng về giáo lý, văn bản, con người, và tổ chức – đã trở nên “dạng cấp tốc” cho câu truyện này, nhưng không là tất cả câu truyện. Để hiểu hoàn cảnh này, cách định nghĩa lỏng lẻo về thuyết khổ chế là dạng “phong vũ biểu” hữu dụng hơn lời nói, sự tham gia chính thức vào thuyết Jansen về ân sủng. Sự khổ chế mới của Công giáo thời kỳ đầu biểu hiện rõ ràng nhất trong các phương pháp mục vụ đối với bí tích Hòa Giải và Thánh Thể. Các linh mục sống khổ chế thường quen từ chối tha thứ, cho rằng một số hối nhân chưa thể hiện đủ mức sám hối ăn năn. Họ cũng gay gắt với việc rước lễ thường xuyên, cho rằng ít người chuẩn bị xứng đáng. Điều này làm cho những người theo khổ chế thẳng thừng phản đối đa số các tu sĩ Dòng Tên, những người mạnh mẽ thúc đẩy việc xưng tội và rước lễ thường xuyên, và họ cố gắng làm điều đó. Lúc đó, tà thuyết Jansen xuất hiện vào khoảng năm 1640, các cuộc tranh luận trong Giáo Hội Pháp đã sinh ra nhiều chức vụ, và vấn đề chính đi xa hơn về phương diện khổ chế.
Đối với những người phản đối việc khổ chế, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa như viên đạn bắn vào tay. Thánh Margaret Maria Alacoque mô tả Thánh Tâm Chúa Giêsu là “nguồn mạch vô tận có ba nhánh không ngừng tuôn trào”, nhánh thứ nhất là “nhánh thương xót, tuôn chảy xuống các tội nhân”. Chúa Giêsu đã thông ban cho tình yêu dạt dào của bà: “Thánh Tâm Ta đắm đuối trong tình yêu thương dành cho nhân loại, đặc biệt là dành cho con, bên trong Thánh Tâm Ta có những ngọn lửa yêu thương”. Hơn nữa, tình yêu thương xót này được suy niệm qua các bí tích, bao gồm việc rước lễ thường xuyên. Các thị kiến chính của Thánh Margaret Maria Alacoque xảy ra khi bà đang cầu nguyện trước Thánh Thể, và Chúa Giêsu yêu cầu bà “rước lễ thường xuyên như đức vâng lời cho phép”. Công giáo mặc khải cho biết hãy rước lễ vào các ngày Thứ Sáu và ngày Lễ Thánh Tâm, ngay sau Lễ Mình Máu Thánh (Corpus Christi). Không ngẫu nhiên mà Dòng Tên thúc đẩy lòng sùng kính này, bắt đầu với Thánh Claude de la Colombière – vị linh hướng của Thánh Margaret Maria Alacoque.
Để hiểu lý do các cuộc thị kiến này được chấp nhận bởi những người bảo trợ, chúng ta phải đặt vào hoàn cảnh của sự thần bí tại Pháp lúc đó. Như trong mọi thời đại, kinh nghiệm thần bí không bảo đảm tính chính thống hoặc tính thánh thiêng. Nhiều nhà thần bí nổi tiếng đã để lại các tài liệu không rõ ràng, qua các bài viết được Giáo Hội chấp thuận hoặc bị kết án. Những người khác thấy tác phẩm của mình nằm trong số các sách bị cấm và thậm chí còn bị kết án là tà thuyết. Giáo lý tâm linh của Jean-Joseph Surin – một nhà thần bí linh mục Dòng Tên, làm việc trừ tà, coi mình là “vật chứa” cho ma quỷ và bị ám ảnh nhiều năm, bị chứng tâm thần, hoặc bị cả hai – rồi bị đưa vào số sách cấm sau khi ông chết.
Có thể nhà thần bí bị kết án nổi tiếng nhất hồi đó là bà Guyon, người cùng thời với Thánh Margaret Maria Alacoque, và là người chủ trương sống tĩnh lặng. Hai phụ nữ này tương phản với nhau về nhiều điểm, quan trọng nhất là thái độ của họ đối với Ngôi Lời Nhập Thể. Chủ trương sống tĩnh lặng của bà muốn đạt tới Thiên Chúa trực tiếp về tâm linh, không cần hoặc ít cần tới Ngôi Con là Chúa Giêsu Kitô. Bà tuyên bố rằng các thị kiến của bà “không của Thiên Chúa, và hầu như không của Chúa Giêsu”, mà là “thị kiến thấu hiểu”, thị kiến về “thiên thần ánh sáng… thể hiện đối với linh hồn”. Có dịp phê bình về kinh nghiệm thần bí của Thánh Margaret Maria Alacoque, bà Guyon gọi đó là “tình cảm tinh thần” vì quá trần tục, tập trung vào cái gì đó về xác thể như Thánh Tâm Chúa Giêsu. Quan tâm Giáo Hội là lời biện hộ của bà Guyon về “sự dửng dưng” đối với Ơn Cứu Độ.
Theo bà Guyon, tình yêu thuần khiết của Thiên Chúa “bất vụ lợi” về điều tốt lành, thậm chí không muốn sống với Thiên Chúa trong cõi đời đời. Ngược lại, Thánh Margaret Maria Alacoque nhấn mạnh lòng ước muốn hỗ tương về mối quan hệ yêu thương vĩnh hằng giữa Thiên-Chúa-làm-người với mỗi con người. Đức ông Ronald Knox đã từng mô tả sự khổ chế là “điều sai lầm của một số linh hồn thiếu thận trọng”, họ có ý tốt nhưng rốt cuộc lại là “sai lầm”. Trong lúc xung động về tâm linh Công giáo, sai lầm là điều khó tránh khỏi, và Giáo Hội đã tìm thấy nơi Thánh Tâm Chúa những điều mặc khải cần thiết để sửa sai.
Cuối cùng, theo mức độ cá nhân, hoàn cảnh mặc khải lúc đó của Thánh Margaret Maria Alacoque là một nữ tu Dòng Thăm Viếng. Dòng này sống theo tinh thần dịu hiền và nhân hậu của các vị sáng lập, Thánh Francis de Sales và Thánh Jane Frances de Chantal. Không ngẫu nhiên mà hình ảnh trái tim là thành phần của con đường tâm linh. Có lần Thánh Francis de Sales đã mô tả lời cầu nguyện bằng câu “trái tim nói với trái tim”. Nói cách khác, trái tim của linh hồn đối thoại yêu thương với chính Trái Tim của Thiên Chúa. Trong một lúc nhiệt thành không thể kiềm chế (về sau Thánh Francis de Sales đã trách Thánh Jane Frances de Chantal về điều này), Thánh Jane Frances de Chantal đã dùng thanh sắt nóng khắc Thánh Danh Giêsu lên ngực bà. Trong những năm đầu mới lập dòng, Thánh Francis de Sales viết cho Thánh Jane Frances de Chantal: “Dòng nhỏ của chúng ta thực sự là công việc của Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái Tim Đức Maria. Đấng Cứu Độ đã khai sinh cho chúng ta qua cửa ngõ của Thánh Tâm Chúa”.
Khi đón nhận Thánh Tâm Chúa Giêsu theo cách này, Thánh Francis de Sales và Thánh Jane Frances de Chantal chỉ làm theo truyền thống có trong Kinh Thánh (đặc biệt là Ga 19:34-37), các giáo phụ, và những người thời Trung Cổ. Lòng sùng kính Thánh Tâm khá độc lập của Thánh Margaret Maria Alacoque. Nhưng các thị kiến của bà làm nổi bật truyền thống sùng kính Thánh Tâm Chúa, xác định rằng có sự ủng hộ của Thiên Chúa, và cụ thể hóa bằng các việc thực hành của lòng sùng kính. Mới đầu người ta không dễ chấp nhận các mặc khải, và nhiều tu sĩ Dòng Thăm Viếng cũng tỏ ra “thận trọng” với kinh nghiệm thần bí của bà. Qua thời gian, và với sự hỗ trợ của Thánh Claude de la Colombière, cộng đồng Paray đã vượt qua và lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa, như Thánh Margaret Maria Alacoque đã mô tả, được phát triển qua mạng lưới các tu viện của Dòng Thăm Viếng tại Pháp. Từ đó, lòng sùng kính này phát triển tới các giáo sĩ, tu sĩ, và giáo dân, đặc biệt là nhờ sự bảo trợ của Dòng Tên.
Tóm lại, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu ở dạng này đã phát triển vì được coi là đúng với truyền thống tâm linh Công giáo và vì nó làm nổi bật những gì tốt nhất trong truyền thống. Nó đúng đối với lòng nhiệt thành của những người sống khắc khổ và sống tĩnh lặng, nó đưa ra dạng xác định đối với việc nhập thể, từ lòng sùng kính Thánh Thể tới lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu có nguồn gốc từ các bản văn của Kitô giáo thời sơ khai trong Phúc Âm theo Thánh Gioan. Thời gian đã chứng tỏ đúng để phát triển lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa. Nhưng khi thế giới được chuẩn bị cho Phúc Âm, Ngôi Lời đã chờ đợi sự đồng ý của một phụ nữ trẻ trước khi chấp nhận một trái tim con người. Hầu như các thế kỷ sau đó, Thánh Tâm đã chấp nhận đi vào trái tim một nữ tu vô danh của Dòng Thăm Viếng, trước khi được đón nhận vào trái tim Giáo Hội hoàn vũ.
CHRISTOPHER J. LANE
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CrisisMagazine.com)
Tháng Sáu – 2019

(*) JANSENISM – Thuyết của thần học gia Công giáo Cornelis Jansen (1585–1638), khoảng 1656-1657, dựa trên thuyết tiền định luân lý (moral determinism). Các nguyên tắc thần học của Cornelis Jansen nhấn mạnh sự tiền định, phủ nhận ý chí tự do, cho rằng bản chất con người hư hỏng, không thể tốt lành, còn Chúa Kitô chỉ chết cho những người được chọn chứ không chết cho mọi người. Giáo hội Công giáo kết án thuyết này là lạc giáo. Thuyết này bị những người cải cách trong giới giáo sĩ, tu sĩ và học giả Công giáo Âu châu Tây phương phản đối, và bị kết án là tà thuyết. Bị ảnh hưởng các tác phẩm của thánh Augustinô, nhất là sự tấn công của thánh Augustinô đối với thuyết Pelagianism (phủ nhận tội tổ tông) và thuyết ý chí tự do, Jansen theo thuyết của thánh Augustinô về sự tiền định và sự cần thiết của Ơn Chúa, một lập trường bị Công giáo La Mã coi là gần với thuyết của Calvin, đã cấm lưu hành cuốn The Augustinus của ông năm 1642. Sau khi Jansen chết năm 1638, những người theo ông đã lập cơ sở tại tu viện ở Port-Royal, Pháp. Blaise Pascal, một đệ tử trung thành của Jansen, đã bảo vệ các giáo huấn của họ trong Provincial Letters (1656–1657). Năm 1709, vua Louis XIV ra lệnh bãi bỏ tu viện này. Những người theo Jansen bắt đầu lập Giáo hội Jansen năm 1723 và tồn tại tới cuối thế kỷ 20.

 

TÔNG ĐỒ BANABA

Ngày 11 tháng 6 là lễ Thánh Banaba. Ngài được tôn kính là tông đồ trong Kinh Thánh và trong Giáo Hội. Mặc dù ngài không thuộc Nhóm Mười Hai, ngài vẫn được gọi là tông đồ (cùng với Thánh Phaolô) trong Cv 14:14 – hai tông đồ Banaba và Phaolô. Vả lại, trước đó chính Chúa Thánh Thần đã nói: “Hãy dành riêng Banaba và Saolô cho Ta, để lo công việc Ta đã kêu gọi hai người ấy làm” (Cv 13:2).
Trong Phụng Vụ, Giáo Hội kính nhớ Thánh Banaba là tông đồ, mặc dù không là lễ trọng tương đương mà Giáo Hội tôn kính Thánh Phaolô và Thánh Mátthia hoặc một vị nào đó trong Nhóm Mười Hai.
Chúng ta có thể nói Thánh Banaba thực sự là một tông đồ? Nếu vậy, có bao nhiêu tông đồ? Thánh Banaba có là tông đồ như Thánh Phêrô hoặc Thánh Phaolô?
MƯỜI HAI TÔNG ĐỒ VÀ HAI TÔNG ĐỒ KHÁC
Thánh Mátthêu đặc biệt dùng câu “mười hai tông đồ” khi liệt kê tên các tông đồ trong trình thuật Mt 10:2-4. Thánh Gioan cũng nói tương tự trong Kh 21:14. Còn Thánh Luca nói về cách Đấng Cứu Thế chọn 12 môn đệ và gọi họ là tông đồ: “Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ” (Lc 6:13). Không có đoạn văn nào khác sử dụng cách nói “Nhóm Mười Hai”.
Tuy nhiên, mặc dù cả Thánh Mátthêu và Thánh Gioan đều đề cập khái niệm về Nhóm Mười Hai, và dù cho khái niệm này khá quen với ý nghĩ của chúng ta, vẫn khá rõ ràng là có hơn 12 vị mà chúng ta tôn kính là tông đồ.
Thật vậy, chúng ta phải công nhận rằng có ít nhất 14 hoặc 15 vị được gọi là tông đồ. Chắc chắn rằng Thánh Matthias, người được chọn để thay thế Giuđa Ítcariốt, được kể là thuộc nhóm mười hai tông đồ. Hơn nữa, ngay cả Thánh Phaolô (không thuộc Nhóm Mười Hai) cũng được gọi là tông đồ – như chúng ta vẫn thường gọi là Thánh tông đồ Phaolô.
Chắc chắn chúng ta đúng khi nói rằng có Nhóm Mười Hai, như Chúa Giêsu đã gọi 12 người đó gia nhập tông đồ đoàn trong khi Ngài sống trên thế gian này. Tuy nhiên, chắc chắn các Thánh Mátthia và Phaolô cũng là “tông đồ” đồng đẳng với Nhóm Mười Hai. Mặc dù Thánh Mátthia không được Chúa Giêsu chọn khi Ngài còn tại thế, mà Thánh Mátthia được Chúa Thánh Thần chọn để thay thế Giuđa trong khoảng thời gian từ khi Chúa Giêsu về trời và Chúa Thánh Thần hiện xuống.
Mặt khác, Thánh Phaolô được chính Đấng Cứu Thế tuyển chọn và đặt làm tông đồ. Đó là điều làm cho cuộc hiện ra của Chúa Giêsu với Thánh Phaolô là điều độc nhất vô nhị – khác với mọi cuộc hiện ra hoặc thị kiến từ khi Chúa Giêsu đã về trời, Ngài đã hiện ra với Thánh Phaolô theo cách riêng với hình hài tự nhiên. Còn khi Chúa Giêsu hiện ra với một nhà thần bí nào đó, Ngài không hiện ra với hình thể tự nhiên, mà bằng dạng thị kiến (hoặc bằng cách khác, như các thiên thần hiện ra ở dạng hình người). Tuy nhiên, Thánh Phaolô thấy Chúa Giêsu trong chính thân xác vinh quang của Ngài, giống như Thánh Phêrô và các tông đồ khác đã thấy.
ĐIỀU KIỆN LÀM TÔNG ĐỒ
So sánh Thánh Matthias và Thánh Phaolô, chúng ta có thể nhận biết các điều kiện trở thành tông đồ theo đúng nghĩa. Rõ ràng là một tông đồ phải thấy Chúa phục sinh. Đây là điều kiện quan trọng để chọn người thay thế Giuđa.
Cv 1:21-22 cho biết: “Vậy phải làm thế này: có những anh em đã cùng chúng tôi đi theo Chúa Giêsu suốt thời gian Người sống giữa chúng ta, kể từ khi Người được ông Gi-an làm phép rửa cho đến ngày Người lìa bỏ chúng ta và được rước lên trời. Một trong những anh em đó phải cùng với chúng tôi làm chứng rằng Người đã phục sinh”.
Thánh Mátthia là người đã ở bên Chúa Giêsu từ đầu, qua cuộc khổ nạn, và làm chứng về Chúa Giêsu phục sinh và về trời. Đó là điều cần thiết để ông hiện diện đối với các sự kiện này, ông có thể làm chứng sự thật về việc Chúa phục sinh. Những người không chứng kiến thì không thể được kể vào Nhóm Mười Hai.
Mặt khác, Thánh Phaolô không biết Chúa Giêsu khi Ngài còn sống trên thế gian. Tuy nhiên, vì ông chứng kiến sự phục sinh của Chúa Giêsu qua cuộc hiện ra đặc biệt mà Chúa Giêsu dành cho Thánh Phaolô (điều này sẽ không tái hiện cho tới Ngày Phán Xét), Thánh Phaolô thực sự được coi là một tông đồ.
Đúng là Thánh Phaolô không ở bên Chúa Giêsu trong hành trình sứ vụ của Ngài, nhưng chúng ta chắc rằng ông Phaolô đã đón nhận Tin Mừng trực tiếp từ Chúa Giêsu – cũng như các tông đồ khác. Và chính Thánh Phaolô đã xác định: “Thưa anh em, tôi xin nói cho anh em biết: Tin Mừng tôi loan báo không phải là do loài người. Vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giêsu Kitô đã mặc khải” (Gl 1:11-12)
Vì thế, chúng ta có thể chắc chắn hai điều kiện quan trọng để trở thành tông đồ: Ông là nhân chứng đối với việc Chúa Giêsu phục sinh bằng cách là ông đã gặp chính Chúa Giêsu phục sinh, và ông đón nhận Tin Mừng trực tiếp từ Chúa Giêsu chứ không qua bất cứ trung gian nào. Chúng ta xác định rằng chỉ có những người được kể vào số các tông đồ thì mới có thể giữ chức vụ tông đồ là cai quản, dạy dỗ, và thánh hóa.
THÁNH BANABA CÓ THỰC SỰ LÀ TÔNG ĐỒ ?
Có người thắc mắc: “Thánh Banaba có thực sự là tông đồ như Thánh Phêrô, Thánh Mátthia và Thánh Phaolô?”. Thánh Banaba thực sự được Giáo Hội tôn kính là tông đồ, ngài chắc chắn có chức vụ tông đồ, và chúng ta có thể coi Thánh Banaba là tông đồ như Thánh Phaolô hoặc Thánh Phêrô.
Tác giả Clement ở Alexandria nói rằng Thánh Banaba thuộc nhóm 72 môn đệ được Chúa Giêsu sai đi, điều này có vẻ trái ngược với sách Công Vụ Tông Đồ, vì sách Công Vụ Tông Đồ nói Banaba là một người mới lãnh nhận đức tin sau Lễ Ngũ Tuần.
Cv 4:36-37 cho biết: “Ông Giôxếp, người được các Tông Đồ đặt tên là Banaba, nghĩa là người có tài yên ủi, có một thửa đất. Ông là một thầy Lêvi quê quán ở đảo Sýp. Ông bán đất đi, lấy tiền đem đặt dưới chân các Tông Đồ”.
Sách Công Vụ cũng không xác định. Có thể là Thánh Banaba ở trong số 72 nên đã làm chứng Chúa Giêsu phục sinh như Thánh Mátthia vậy. Tuy nhiên, đáng lưu ý là Kinh Thánh không bao giờ nói về ngài như vậy.
Có điều là Giáo Hội tôn kính ngài là tông đồ. Như vậy, chúng ta nói rằng Giáo Hội thực sự gọi ngài là tông đồ, theo cách của Kinh Thánh. Tuy nhiên, lễ Thánh Banaba không được cử hành long trọng như lễ các tông đồ khác. Thậm chí lễ Thánh Mátthia là lễ kính, còn lễ Thánh Banaba chỉ là lễ nhớ.
Như vậy, khi Giáo Hội tôn kính Thánh Banaba là tông đồ, thực sự Giáo Hội cho biết điều khác biệt giữa Thánh Banaba và các vị khác.
TẠI SAO GỌI THÁNH BANABA LÀ TÔNG ĐỒ ?
Mặc dù rất có thể là Thánh Banaba không là một tông đồ đúng nghĩa, nhưng ngài vẫn được tôn kính là tông đồ bởi vì ngài là người thuộc nhóm các nhà trần gian nổi trội trong thời gian đầu của Giáo Hội.
Hơn nữa, chúng ta phải nhớ lại rằng chính Thánh Banaba đã được chứng nhận nhân danh Thánh Phaolô và bảo vệ tính xác thực của ơn gọi làm tông đồ. Chính Thánh Banaba đã động viên Thánh Máccô (hoặc Gioan Máccô) khi Thánh Phaolô đã loại bỏ Máccô vì không thi hành sứ vụ.
Như vậy, bởi vì Thánh Banaba liên kết chặt chẽ với các tông đồ, và nhất là ngài bảo đảm được Thánh Phaolô chấp nhận là một tông đồ, nên ngài được tôn kính với tước vị tông đồ – mặc dù ngài không thi hành chức vụ này.
Lạy Thánh tông đồ Banaba, xin cầu thay nguyện giúp cho chúng con!
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ NewTheologicalMovement.blogspot.com)
Tháng Sáu – 2019

 

 

TỒI TỆ

[Niệm ý Mt 5:20-26 ≈ Lc 12:57-59]


Giận mà chi, ghét mà chi

Giận hờn, ghen ghét, được gì hay không?

Xấu xa tích tụ trong lòng

Làm cho cái ác chất chồng thêm thôi

Một người xấu đủ khổ rồi

Hai người cùng xấu càng tồi tệ hơn [*]

Sợi dây thù hận vẫn còn

Nếu mà cố chấp, chẳng thèm thứ tha

Sợi dây thù hận đứt lìa

Người tha, kẻ thứ, còn gì ghét nhau?

Đời ai cũng mắc nợ yêu

Thiên Quốc muốn vào, phải trả cho xong

Chớ nên viện cớ lòng vòng

Phân bua, biện hộ, đừng hòng bước vô!

Nếu không tha thứ, giải hòa

Lệ vật ích gì mà lại tiến dâng?

Có dâng thì cũng như không

Chúa không chấp nhận, đừng mong ơn gì!


TRẦM THIÊN THU

Chiều 11-6-2019

[*] “Nếu bạn khổ sở vì sự bất công của kẻ xấu, hãy tha thứ cho họ, nếu không thì cả hai cùng xấu” (Thánh Augustinô).

PHÚC THẬT

[Niệm khúc Mt 5:1-12]


Con đường ý Chúa vạch ra

Mong con hạnh phúc ngay từ trần gian

Nhưng con lại ngại khó khăn

Chỉ mong muốn thỏa mãn phần ý riêng

Thế nên con hóa vô duyên

Lương tâm bán rẻ, ưu phiền gia tăng

Phúc không thấy, họa đeo mang

Ngày buồn, tháng khổ, bàng hoàng giấc khuya

Cầu xin Thiên Chúa thứ tha

Giúp con sám hối, tìm về Chúa ngay

Cội nguồn hạnh phúc là Ngài

Phúc thật đời đời nơi Chúa mà thôi


TRẦM THIÊN THU

Sáng 6-6-2019

CỨ CƯỜI


Cứ cười, đừng có ngại ngùng!

Cười vui chứ chẳng có khùng gì đâu

Cười là hóa giải khổ đau

Cười cho thoải mái, cười nhiều khỏe thêm

Cùng nhau cười thật tự nhiên

Cười cho bay hết ưu phiền thế nhân

Cười cho đời mãi có xuân

Cùng cười tha thứ, ân cần yêu thương

Cười là biểu hiện bình thường

Cười là hiệp nhất, khiêm nhường, cảm thông

Tình người vẫn mãi mênh mông

Dù đời dài – ngắn, cũng đừng lo chi!

Cùng cười với Chúa Giêsu

Thập hình thô ráp nở hoa đẹp liền


TRẦM THIÊN THU

Tháng Sáu – 2019