| |
Lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống, năm C
Như
Cha Đã Sai Thầy, Thầy Cũng Sai Các Con
Tất cả 4 Phúc Âm đều kết thúc ở sự việc Chúa Giêsu lên trời. Sau
khi Chúa về trời 10 ngày thì Chúa Thánh Thần mới hiện xuống và
biến cố này được ghi trong một sách khác gọi là Tông Đồ Công Vụ
(TĐCV 2:1-12, tức Bài Đọc 1 hôm nay).
Việc xảy ra vào dịp lễ Ngũ Tuần, lúc các môn đệ vẫn còn tụ tập
tại Giêrusalem để chờ đón Thánh Thần theo lệnh của Chúa Giêsu
(Lc 24:49). Lễ Ngũ Tuần là lễ 50 ngày sau lễ Vượt Qua mừng mùa
lúa mới theo luật Maisen được ghi trong sách Xuất Hành (Xh 23:14-17).
Chỉ sau khi đã nhận lãnh Thánh Thần vào dịp lễ Ngũ Tuần này, các
Môn đệ mới chia tay nhau đi rao giảng Tin Mừng và làm phép lạ.
Nhưng trong đoạn Phúc Âm thánh Gioan hôm nay, lúc mới sống lại
chưa về trời, Chúa Giêsu đã hiện đến ban Thánh Thần và ra lệnh
truyền giáo cho các Môn đệ rồi: "Như Cha đã sai Thầy, Thầy
cũng sai các con. Các con hãy nhận lấy Thánh Thần" (Ga 20:21-22).
Đây được gọi là Lễ Hiện Xuống của Tin Mừng Gioan. Lễ Hiện Xuống
báo trước của Tin Mừng Gioan hay lễ Hiện Xuống chính thức dịp
lễ Ngũ Tuần trong Tông Đồ Công Vụ, thì cũng là một thời điểm quan
trọng ghi nhớ sứ mạng cứu chuộc của Chúa Kitô đã hoàn tất tốt
đẹp, và mở đầu một giai đoạn mới của Thánh Thần đem ơn cứu độ
ấy kết thành hoa trái nơi các tâm hồn và nơi Giáo Hội mới lập.
Ngày lễ Hiện Xuống cũng là ngày phát xuất lệnh lên đường truyền
giáo, ngày các Môn đệ long trọng nhận bài sai đi mở đầu một kỷ
nguyên mới của việc rao giảng Tin Mừng, rửa tội và ban phát ơn
sủng Chúa Kitô đã thiết lập. Tin Mừng sẽ được đón nghe và hiểu
biết bằng mọi ngôn ngữ của mọi dân tộc: "Mỗi người đều nghe
các Môn đệ nói tiếng thổ âm của mình" (TĐCV 2:6). Công việc
truyền giáo này của các Môn đệ và của Giáo Hội được chính Thánh
Thần hướng dẫn và huy động cho đến tận thế.
Khi chịu phép Rửa tội và nhất là khi chịu phép Thêm sức, chúng
ta cũng đã nhận lãnh Thánh Thần, chúng ta cũng đã được sai đi
để truyền giáo. Nhưng chúng ta đã thực hiện lệnh Chúa truyền ra
sao trong gia đình, nơi cộng đoàn, ngoài xã hội?
Lạy Chúa, tuần này con quyết tâm thực hiện một hai việc truyền
giáo nơi gia đình và nơi cộng đoàn con đang sống.
Lm.
Tiến Huân
Chúa Thánh Thần là Thần Chân Lý
(Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống 2013)
Jos.Vinc. Ngọc Biển
Trong lịch sử cứu độ của Dân Chúa, Chúa Thánh Thần đóng vai trò rất quan trọng trong nhiệm cục cứu độ từ khi sáng tạo cho đến ngày tận cùng của nhân loại. Chúa Thánh Thần chính là linh hồn của Giáo Hội. Người chính là Sinh Khí trong thân xác. Sự sống thiêng liêng của con người không thể sống nếu thiếu Sinh Khí là Chúa Thánh Thần.
Khi xuống trần gian, Chúa Giêsu đã mặc khải cách tiệm tiến về Chúa Thánh Thần. Cuối cùng, Ngài đã trao ban Chúa Thánh Thần cho nhân loại thông qua việc thổi hơi trên các Tông đồ. Khi Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên các ông, Người đã biến đổi các ông. Ngài ban cho các ông sức mạnh, lòng cam đảm và sự trung thành để làm chứng cho Chân Lý là chính Đức Kitô.
1. Chúa Giêsu trao ban Chúa Thánh Thần để biến đổi các Tông đồ
Khi các Tông đồ phải đối diện với cái chết của Chúa Giêsu, các ông hoang mang, sợ hãi và tìm mọi cách để chạy trốn thoát thân. Hình ảnh Phêrô, một Phêrô chối Chúa, cho chúng ta thấy sự yếu đuối của con người đứng trước những thử thách. Rồi sau khi Chúa Giêsu chết, tất cả các ông đều sợ hãi, vì thế, họ đã đóng kín cửa. Các ông sợ vì Thầy mình mà họ ghét mình; họ đã giết Thầy thì họ cũng sẽ tìm cách giết môn đệ của Thầy để dẹp luôn những tư tưởng của Thầy đã gieo vào trong lòng của các ông. Nhưng điều quan trọng là các ông có thể cũng đang hoang mang về chính ơn cứu độ mà Chúa Giêsu đã rao giảng. Các ông cũng như những người đương thời, họ cho rằng Chúa Giêsu chết là hết. Thất vọng, chán trường và sợ hãi là tâm trạng của người thất bại. Đang lúc đó, Chúa Giêsu hiện đến, thổi hơi vào các ông và phán: "Bình an cho các con! Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần". Chúa biết rõ các ông đang trong tình trạng tâm lý xáo trộn và bất ổn… Chúa trao ban bình an tức là trao ban chính Chúa. Những ngày các ông sống với Chúa lúc Ngài chưa chịu chết, các ông cảm thấy hạnh phúc như thế nào thì giờ đây, cũng chính Chúa Giêsu đó đem lại cho các ông sự bình an sau những ngày trốn chạy. Ngài trấn an các ông bằng chính sự hiện diện cụ thể của Ngài, qua đó, Ngài xoá đi mọi nỗi sợ sệt nơi các ông. Rồi ngay sau đó, Ngài đã trao phó sứ mạng loan báo Tin Mừng cho các ông: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Hãy đi rao giảng, thì cũng sẽ chết như Thầy. Chết như Thầy thì mới được Phục sinh như Thầy. Qua đó, Ngài dạy cho các ông một quy luật tất yếu là: muốn vào vinh quang thì phải qua đau khổ, phải chịu chết thì mới có sự sống viên mãn. Nhưng để làm được điều đó quả thật không dễ chút nào. Chính vì vậy, Ngài đã ban Chúa Thánh Thần đến trên các ông, để Người đổi mới tinh thần, trái tim và ở cùng các ông cũng như những người đón nhận lời rao giảng của các ông mọi ngày cho đến tận thế. Người chính là Đấng làm cho các ông nhớ lại những lời Chúa Giêsu đã rao giảng và giúp các ông can đảm làm chứng về những điều mắt thấy tai nghe.
2. Chúa Giêsu trao ban cho các Tông đồ Thần Chân Lý
Chúa Thánh Thần, Người chính là Thần Chân Lý: “Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi: đó là Thần Khí sự thật”. Chúa Thánh Thần là Thần Chân Lý, Ngài sẽ giúp cho các môn đệ hiểu được những lời Chúa Giêsu đã rao giảng. Ngài sẽ bào chữa cho các ông khi phải ra trước mặt quan toà để làm chứng cho sự thật: "Khi người ta đưa anh em ra trước hội đường, trước mặt những người lãnh đạo và những người cầm quyền, thì anh em đừng lo phải bào chữa làm sao, hoặc phải nói gì, vì ngay trong giờ đó, Thánh Thần sẽ dạy cho anh em biết những điều phải nói" (Lc 12,11-12). Thật thế, nếu xét trên bình diện con người, các ông làm sao có thể thi hành một sứ mệnh cao cả và quan trọng đến như vậy. Bởi vì các môn đệ là những người rất bình thường trong những người bình thường nhất. Họ là những người quanh năm suốt tháng chỉ biết sống với nghề chài lưới, vật lộn với sóng nước biển khơi, học vấn thì kém cỏi, khả năng diễn thuyết trước công chúng thì quá xa vời đối với các ông. Thế nhưng, sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, các ông đã hân hoan lên đường để làm chứng cho Chúa Giêsu, một Chúa Giêsu đã chết và sống lại. Quả thật, ngay sau Lễ Ngũ Tuần, Phêrô đã có bài giảng đầu tiên và ngay ngày hôm ấy, đã có khoảng 3.000 người tin theo (x. Cv 2,41). Như vậy, Chúa Thánh Thần chính là Đấng Bào Chữa, Đấng ban sức mạnh để các Tông đồ ra đi làm chứng cho sự thật. Một sự thật mang tính siêu việt để cứu độ qua cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu.
3. Chúa Thánh Thần và đời sống chứng nhân của người Kitô hữu
Ngày xưa, khi các Tông đồ chưa nhận được ơn Chúa Thánh Thần thì họ lo lắng, sợ hãi, thiếu tự tin… Nhưng khi các ông đã nhận được Chúa Thánh Thần, các ông đã hân hoan lên đường để trao truyền chân lý. Các ngài đã coi đó như là mối lợi tuyết đối mà Chúa dành cho mình. Còn chúng ta ngày nay thì sao?
Trước tiên, cần phải xác định thật rõ: rao giảng chân lý là rao giảng về một chân lý tuyệt đối, bởi vì không có chuyện nước đôi hay nửa vời. Đã tôn thờ Thiên Chúa thì chỉ tôn thờ mình Ngài mà thôi. “Phải tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất, ngoài Người ra, không được có thần nào khác” (x. Đnl 6,4-7). Là người Công Giáo, được lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, Thêm Sức, là chúng ta lãnh nhận Chúa Thánh Thần cách dồi dào. Chúng ta có trách nhiệm loan truyền Chúa Kitô và làm chứng về Ngài trong gia đình, làng xóm, xứ đạo và thế giới hôm nay bằng đời sống tôn thờ Thiên Chúa duy nhất và sống những giá trị Tin Mừng đòi hỏi.
Thế nhưng, thực tế thì khác nhiều lắm! Nếu được hỏi: “Ông bà, cô bác… có tin Chúa không?”, ngay lập tức ta sẽ nhận được câu trả lời là “có”, thậm chí còn bị mắng vốn là “hỏi thế mà cũng hỏi”; “hỏi ấm ớ…”. Nhưng thực tế, thử hỏi trong đời sống đức tin, chúng ta sống đạo hay chỉ giữ đạo? Hẳn nhiều người cũng đã chứng kiến những cảnh cãi vã nhau gay cấn ngay khi vừa ra khỏi nhà thờ sau thánh lễ và không nhân nhượng khi tuyên bố: “Tao mà không Rước lễ trong lễ vừa rồi thì hôm nay tao sẽ xé xác mày”; rồi những lần đi lễ “ôm”, những cảnh “đạo gốc” (đi lễ nhưng ngồi ở những gốc cây quanh nhà thờ). Khi buôn bán: 1kg ăn 800gr; bơm nhồi hoá chất độc hại vào những rau, củ, quả… mà mình sẽ bán, và còn biết bao nhiêu cách làm lợi bất chính khác nữa… Như vậy, trên lý thuyết: tin thì vẫn cứ tin, ít ai có khái niệm bỏ đạo, nhưng cách sống thì cứ bon chen quỷ quyệt… vẫn cứ ung dung hàng hai ta đi, không thiếu gì những khối “ung nhọt” nằm trong thân xác tráng kiện bên ngoài với cái mác hai chữ Công Giáo. Lại nữa, chúng ta cũng thấy không ít người Công Giáo sống đạo theo kiểu “lâm thời”. Khi gian nan thử thách đến là sẵn sàng khấn “ông nọ” vái “bà kia” thay Chúa ngay lập tức. Đây phải chăng là những căn bệnh trầm kha trong cách sống đạo của nhiều người Công Giáo hiện nay.
Như vậy, qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã trao ban Chúa Thánh Thần cho các Tông đồ, đồng thời Ngài cũng trao phó sứ vụ loan báo Tin Mừng đến tận cùng trái đất cho những người kế vị các ông. Chúa Thánh Thần chính là Thần Chân Lý, Ngài được trao ban cho các Tông đồ để các ông nhớ lại những điều Chúa Giêsu loan báo. Ngài còn là Đấng Bào Chữa, Đấng An Ủi. Ngài đến để tăng sức mạnh cho các ông, khiến các ông sẵn sàng ra đi làm chứng cho Đức Kitô, làm chứng cho chân lý. Rồi đến lượt chúng ta, chúng ta cũng phải lên đường, bởi vì là người Công Giáo, sứ mạng loan báo Tin Mừng thuộc về chúng ta. Chúng ta phải đảm nhận trách nhiệm đó như là cứu cánh của mình. Có nhiều cách loan báo Tin Mừng như: rao giảng; gương sáng; thật thà; vui tươi… Dẫu có gặp phải gian nan thử thách, ngay cả tù tội và chết chóc, chúng ta vẫn cứ lên đường vì biết rằng: sau cơn mưa trời lại sáng. Mây đen không thể che mãi được mặt trời, sự giả dối hay tội lỗi không thể nào phủ lấp được chân lý.
Chỉ có chân lý mới giải thoát chúng ta cách toàn diện (x. Ga 8,32). Chỉ có chân lý mới dẫn đưa ta đến sự sống đời đời, bởi vì cuộc đời con người không chỉ có ở đời này mà còn cuộc sống mai hậu nữa.
Mừng Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, chúng ta cũng cầu xin Chúa cho các chứng nhân đang xả thân trên cánh đồng truyền giáo, luôn được ơn Chúa phù trợ, để kiên định trong đức tin, bền lòng trong đức cậy và nhiệt thành trong đức mến, để không ai và không có gì tách các ngài ra khỏi tình yêu Đức Kitô.
Để kết thúc, xin mượn lời của Thánh Amrôsiô khi nói về sứ mạng của người Kitô hữu khi đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần như sau: “Hãy nhớ, bạn đã lãnh nhận ấn tín thiêng liêng của Chúa Thánh Thần là Thần Trí khôn ngoan và thông hiểu, Thần Trí lo liệu và sức mạnh, Thần Trí suy biết và đạo đức, Thần Trí dạy cho biết kính sợ Thiên Chúa. Hãy gìn giữ những gì bạn đã lãnh nhận. Chúa Cha đã ghi ấn tín của Người nơi bạn. Chúa Kitô đã tăng sức cho bạn và đặt trong bạn bảo chứng của Chúa Thánh Thần”.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến để Người đổi mới mặt địa cầu; để Người dẫn chúng con đến sự thật toàn vẹn và xin ban sức mạnh; lòng cam đảm để chúng con sẵn sàng ra đi làm chứng cho sự thật là chính Đức Kitô và luôn sống những giá trị Tin Mừng trong cuộc sống hằng ngày. Amen.
CÓ MẤY THẦN KHÍ ?
(CN CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG)
Chú tâm đọc và suy niệm Lời Chúa Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống hôm nay, thấy giữa bài đọc thứ nhất (Cv 2, 1-11) và bài Tin Mừng (Ga 20, 19-23) có một chi tiết hơi lạ, đó là: Trong bài Tin Mừng, các Tông đồ được Chúa Ki-tô Phục Sinh thổi hơi ban Thánh Thần (“Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” – Ga 20, 22-23); còn trong bài đọc 1 thì Thánh Thần Hiện Xuống dưới hình lưỡi lửa trên các Tông đồ trong Ngày Lễ Ngũ Tuần. Như vậy thì Thần Khí Đức Ki-tô thổi hơi ban cho các môn đệ và Thần khí hiện xuống trong ngày Lễ Ngũ Tuần có khác nhau chăng? Nếu khác thì khác ở chỗ nào? Nếu chỉ là một Thánh Thần thì tại sao các tông đồ lại nhận được tới hai lần và bằng hai cách khác nhau? Những băn khoăn này còn gặp ở ngay trong Lời dạy của Đức Ki-tô: Khi bước vào cuộc khổ nạn thì Người nói: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” (Ga 14, 16). Giờ đây Người lại thổi hơi và nói “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (tức là chính Người ban Thánh Thần cho các môn đệ).
Thực ra, Thánh Thần được Chúa Ki-tô Phục Sinh thở hơi trên các Tông đồ và Thánh Thần hiện xuống trong ngày Lễ Ngũ Tuần chỉ là một Thánh Thần duy nhất. Thế nhưng, nếu là một Thánh Thần duy nhất thì tại sao các Tông đồ lại lãnh nhận tới hai lần? Lý do của sự kiện này có thể giải trình theo trình tự thời gian và theo cường độ đức tin. Theo trình tự thời gian thì 2 lần cách nhau 50 ngày. Lần thứ nhất và cũng là ngày thứ nhất tính từ thời điểm Chúa Ki-tô Phục Sinh, khi các Tông đồ còn đang sợ hãi ẩn nấp vì Thầy mình đã chết, và lần thứ hai vào thời điểm các Tông đồ đang hân hoan vì Thầy mình đã Phục Sinh và đang thao thức chờ đợi lời hứa của Thầy (“Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” – Ga 14, 16) trở thành hiện thực, để có đủ dũng khí thi hành sứ vụ mà Thầy đã trao phó. Đó là về thời điểm các Tông đồ lãnh nhận Thánh Thần, nhưng như thế thì cũng chẳng có gì đáng để băn khoăn. Điều đáng lưu ý là vì sao lại có lần thứ hai các Tông đồ được đón nhận Chúa Thánh Thần?
Vấn đề này sẽ sáng tỏ khi nhìn lại quá trình đức tin của các Tông đồ. Theo Thầy vì tin Thầy là Đấng Cứu Độ, là Đấng có thể làm cho mình trở thành những kẻ “lưới người như lưới cá”, vậy mà khi thì tuyên xưng Thầy là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật, lúc lại tưởng Thầy là ma; thậm chí tới khi Thầy đã sống lại và hiện ra để ban Thần Khí cho các ngài, mà vẫn còn cảnh “Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma” (Lc 24, 37). Vừa mới khẳng định chắc nịch: “Dù có phải chết, con cũng không chối Thầy”, thì ngay sau đó đã chối bai bải: “Tôi thề là không biết người ấy”. Tin Thầy đến độ đòi được ngồi bên tả bên hữu Thầy khi Thầy được vinh quang, vậy mà khi Thầy bước vào thời điểm mà chính Thầy khẳng định: "Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người” (Ga 13, 31), tức là lúc chính thức bước vào cuộc thương khó để cứu độ nhân loại, thì “Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết” (Mt 26, 56). Vậy đó! Xem thế thì đủ rõ đức tin của các môn đệ vẫn chưa thật sự kiên định. Và vì thế, rất cần Thần Khí Chúa đến với các ngài không chỉ hai lần mà nhiều lần hơn nữa để củng cố và tăng trưởng đức tin.
Hành trình đức tin của mọi tín hữu cũng vậy thôi và đừng nói là 2 lần, có không ít kẻ đến năm lần bảy lượt Thánh Thần đến, thậm chí còn cư ngụ luôn ở trong lòng (“Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? – 1Cr 3, 16; “Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? – 1Cr 6, 19), mà đức tin vẫn như “nước đổ lá khoai” chẳng đọng lại được chút nào! Hoá cho nên vẫn rất cần phải có lần thứ hai Thánh Thần đến với các Tông đồ và nói chung là các tín hữu để không những chỉ củng cố đức tin cho vững mạnh mà còn phát triển vươt bậc nữa. Thật thế, lần thứ hai Thánh Thần đến với các Tông đồ trong ngày Lễ Ngũ Tuần đã ban lòng can đảm, sự khôn ngoan và nhất là khả năng ngôn ngữ có thể nói nhiều thứ tiếng khác ngoài tiếng bản địa của các ngài. Đó là một mầu nhiệm được chính những người nghe làm chứng ("Những người đang nói đó không phải là người Ga-li-lê cả ư? Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta? Chúng ta đây, có người là dân Pác-thi-a, Mê-đi, Ê-lam, Mê-xô-pô-ta-mi-a, Giu-đê, Cáp-pa-đô-ki-a, Pon-tô, và A-xi-a, có người là dân Phy-ghi-a, Pam-phy-li-a, Ai-cập, và những vùng Li-by-a giáp giới Ky-rê-nê; nào là những người từ Rô-ma đến đây; nào là người Do-thái cũng như người đạo theo; nào là người đảo Cơ-rê-ta hay người Ả-rập, vậy mà chúng ta đều nghe họ dùng tiếng nói của chúng ta mà loan báo những kỳ công của Thiên Chúa!" – Cv 2, 7-11).
Và cho đến hiện nay thì bất kỳ ai khi nhìn lại lịch sử Giáo Hội, cũng phải ngạc nhiên đến sửng sốt trước sự tồn tại bền vững và phát triển vượt bậc. Đó phải chăng là một món quà độc đáo, món quà vô giá mà Đức Ki-tô đã ban tặng các môn đệ, và nói chung là tất cả mọi tín hữu ("Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" – Ga 20, 22-23)? Điều đó cho thấy chỉ có một Thánh Thần nhưng Người đến với các môn đệ, với Giáo Hội và nói chung là tất cả mọi tín hữu, với nhiều hình ảnh và kiểu cách khác nhau, vào những thời điểm khác nhau, tuỳ theo những đặc sủng Người ban cho mỗi người mỗi khác (“Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung.” – 1Cr 13, 4-7).
Như vậy thì Đức Thánh Linh ở trong Ngôi Cha và Ngôi Hai Thiên Chúa, cả Ba Ngôi hiện diện trong nhau, tồn tại trong nhau, ở khắp mọi nơi (cả trên trời, dưới đất và trong nơi âm phủ) và trong mọi thời điểm, còn nói Chúa Thánh Thần hiện xuống chỉ là cách nói nhằm làm sáng tỏ sự thật về Ngôi Ba Thiên Chúa. Đó là Đấng Thánh, là Thần Khi Sự Thật luôn kết hợp mật thiết với Ngôi Cha và Ngôi Con trong mọi công trình của Thiên Chúa (từ sáng tạo vũ trụ và con người, đến hồng ân cứu độ, từ khởi nguyên tới tận cùng). Một cách cụ thể, khi nói Chúa Thánh Thần hiện xuống, là để miêu tả hình ảnh thật (Chim Bồ Câu, Lưỡi Lửa, Ánh Sáng…) từ trời cao bay xuống đậu trên những vật thể hữu hình, và đó cũng chính là những mạc khải của Thiên Chúa để con người hiểu được mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa.
Quả thật, món quà mà Đấng Cứu Thế ban tặng các môn đệ, rộng ra là toàn Giáo Hội, rất độc đáo, một món quà vô giá! Chính vì thế, Công Đồng Va-ti-ca-nô II được coi là một Lễ Hiện Xuống mới, vì Công Đồng đã định hướng việc canh tân Giáo Hội, đem tinh thần đối thoại hiệp thông với Thiên Chúa và với hết mọi người, để cùng với Chúa Thánh Thần thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Món quà vô giá của Con Thiên Chúa Giê-su Ki-tô là Thánh Thần; mà hoa trái của Thánh Thần là hiệp nhất trong yêu thương phục vụ. Do đó những tư tưởng, lời nói và hành động mang tính chia rẽ, ghen tương, đố kỵ, thậm chí dèm pha, hạ bệ lẫn nhau, thù oán, giết hại nhau không bằng gươm giáo… đều là những thể hiện trái ngược với hoạt động của Thánh Thần.
Ôi! “Lạy Chúa, Chúa đã cử Thánh Thần đến thánh hoá Giáo Hội ngay từ buổi sơ khai, và sai đi rao giảng Tin Mừng cứu độ. Hôm nay khi mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, chúng con nài xin Chúa tiếp tục công trình Chúa đã thực hiện và tuôn đổ ơn Chúa Thánh Thần cho mọi tín hữu trên khắp cùng thế giới. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống).
JM. Lam Thy ĐVD. 2013 .
HOA QUẢ CỦA THẦN KHÍ
Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm khó hiểu nhất, “hoàn toàn vượt khỏi trí khôn loài người” (Hiến chế “Tín Lý về Mạc Khải – Dei Verbum”, số 6). Vì thế, khi suy niệm về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi sẽ rất khó khăn, nếu không được Chúa Thánh Thần soi sáng, chỉ dạy. Thật vậy, "Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thánh Thần của Thiên Chúa" (1Cr 2, 11). Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (điều 689) đã khẳng định: "Chúa Cha đã ban Thánh Thần của Con Một Người đến trong lòng chúng ta. Thánh Thần (Gl 4. 6) thực sự là Thiên Chúa. Ðồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con, Người không tách rời khỏi Chúa Cha và Chúa Con, trong đời sống thâm sâu của Ba Ngôi cũng như trong hồng ân yêu thương của Ba Ngôi dành cho thế giới." Điều đó cho thấy: "Chúa Thánh Thần mạc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa, biết Ðức Ki-tô là Ngôi Lời hằng sống" (Giáo lý HTCG, điều 687).
Kinh Thánh nói đến Chúa Thánh Thần bằng nhiều danh xưng như Thần Khí, Thần Chân Lý, Đấng An Ủi, Đấng Bảo Trợ… Vì là Ngôi Ba Thiên Chúa kết hợp mật thiết với Ngôi Cha và Ngôi Con, nên Thánh Thần đã hiện diện cả trong Cựu Ước và Tân Ước, suốt dọc quá trình lịch sử cứu độ từ khởi nguyên đến tận cùng. Ngay từ tạo thiên lập địa, Thánh Thần đã hiện diện trong công trình Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ và con người (xc St 1, 1-2; 2, 7-8). Thời kỳ Cựu Ước cũng vậy, Thánh Thần luôn hiện diện bên dân Chúa và với các ngôn sứ trong mọi trường hợp. Hầu hết các sách Cựu Ước đều trình thuật những sự kiện chứng minh có sự tác động rất mạnh của Thần Khi vào những việc Thiên Chúa thực hiện thông qua các ngôn sứ, tư tế hay các vua.
Đến thời Tân Ước thì phải nói một điều Chúa Thánh Thần luôn hiện diện trong tất cả mọi sự kiện diễn ra trên trái đất, cụ thể là nơi vùng đất được tuyển chọn (It-ra-en). Chính Đức Giê-su cũng luôn luôn nhắc đến vai trò đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần cũng chính là Thiên Chúa vì “Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật." (Ga 4, 24). Không những Đức Giê-su giảng dạy cho các môn đệ hiểu về sức mạnh và sự cần thiết của Chúa Thánh Thần trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng; mà chính Người cũng được Thánh Thần xức dầu (danh hiệu Ki-tô – Christo – có nghĩa là “Đấng được xức dầu”) và trong suốt cuộc đời trần thế, Người luôn luôn chịu sự tác động của Thần Khí: Khi Người chịu Phép Rửa trên sông Gio-đan (Mt 3, 13-17), khi Người được Thần Khí dẫn vào sa mạc để chịu ma quỷ cám dỗ (Mt 4, 1-11), khi Người giảng dạy (Mt 10, 19-20 ; Ga 7, 38-39 ; Ga 14, 16-18 ; Ga 15, 26 ; Ga 16, 7-8...) và thậm chí cả khi Người chịu chết trên thập tự rồi sống lại hiển vinh (“Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Ki-tô sống lại từ cõi chết” (Rm 8, 11).
Còn đối với Giáo Hội, thì ngay từ khi được Đức Giê-su thiết lập, Chúa Thánh Thần đã hoạt động thông qua Đức Ki-tô: Mỗi khi Người chào các môn đệ, Người đều nói “Bình an cho anh em” hay “Thầy ban bình an của Thầy cho anh em”, sự bình an đó chính là Chúa Thánh Thần; hoặc cũng có khi Người nói thẳng: ”Nói xong Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” (Ga 20, 21-23). Tuy nhiên, phải đến ngày Lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần mới thực sự hiện xuống trên các thánh Tôing đồ. Vì thế, Lễ Hiện Xuống là ngày khởi đầu cho hoạt động truyền giáo của Giáo Hội, là “Sinh Nhật” của Hội Thánh Chúa. Ơn Chúa Thánh Thần đã biến cải các Tông đồ trở nên những người can đảm, những người thông hiểu Kinh Thánh và nhớ lại các điều Chúa Giê-su đã giảng dạy, đặc biệt là ân sủng “vẫn nói tiếng Ga-li-lê quê hương của mình, nhưng người nghe lại nghe thành tiếng nói bản xứ của họ” (Cv 2, 5-11). Các Tông đồ không còn “đóng kín cửa vì sợ người Do Thái” (Ga 20, 19); nhưng bắt đầu rao giảng cho dân chúng đang tụ họp chung quanh nơi các ngài ở (Cv 2, 14…) và đã có nhiều người ăn năn sám hối và xin chịu Phép Rửa để gia nhập Giáo Hội Chúa (Cv 2, 41).
Kể từ Lễ Hiện Xuống đầu tiên đó, trải dài theo lịch sử Giáo Hội 2000 năm loan báo Tin Mừng, Thần Khí Chúa luôn “hiện xuống” với Hội Thánh và lần gần đây nhất là thời điểm diễn ra Công Đồng Va-ti-ca-nô II (1962-1965) mà Giáo Hội đã gọi là Lễ Hiện Xuống Mới. Như vậy thì Đức Thánh Linh luôn hiện diện ở khắp mọi nơi và trong mọi thời điểm, còn nói Chúa Thánh Thần hiện xuống chỉ là cách nói nhằm làm sáng tỏ sự thật về Ngôi Ba Thiên Chúa. Đó là Đấng Thánh, là Thần Khi Sự Thật luôn kết hợp mật thiết với Ngôi Cha và Ngôi Con trong mọi công trình của Thiên Chúa (từ sáng tạo vũ trụ và con người, đến hồng ân cứu độ, từ khởi nguyên tới tận cùng) và luôn đồng hành với Giáo Hội lữ hành.
Quả thật vai trò của Chúa Thánh Thần cực kỳ quan trọng, loài người dù có xúc phạm đến Chúa Cha hay Chúa Con (phạm thượng) thì vẫn được tha thứ, nhưng nếu xúc phạm đến Thánh Thần thì không được tha, như lời Đức Giê-su Ki-tô đã dạy: "Tôi bảo thật anh em: mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng, và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa, thì cũng còn được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời." (Mc 3, 28-29). Vì thế, nên ngoài những danh xưng nêu trên, còn có 8 biểu tượng về Chúa Thánh Thần (GL/HTCG từ điều 694 đến 701):
1- Nước: Nước thanh tẩy con người sach mọi tội lỗi, nước trở thành dấu bí tich hữu hiệu của việc tái sinh; 2- Xức dầu: Đức Giê-su đã được chính Thánh Thần xức dầu, nên Người được gọi là Đức Ki-tô ("Ki-tô", tiếng Hip-ri là "Mê-si-a", nghĩa là "được Thánh Thần Thiên Chúa xức dầu"). 3- Lửa: lửa tượng trưng cho năng lực biến đổi do tác động của Thánh Thần. 4- Áng mây và ánh sáng: vừa mạc khải Thiên Chúa hằng sống và cứu độ, vừa che khuất vinh quang siêu việt của Người. 5- Ấn tín: chính "Thiên Chúa đã đóng ấn xác nhận" (Ga 6, 27) Ðức Ki-tô và cũng đã đóng ấn Thánh Thần trên chúng ta trong Con của Người. 6- Bàn tay: Ðức Giê-su đặt tay để chữa lành bệnh nhân (Mc 6, 5; 8, 23) và chúc lành cho trẻ nhỏ (Mc 10, 16). 7- Ngón tay: Ðức Giê-su "nhờ ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ" (Lc 11, 20). Nếu ngày xưa "Thiên Chúa lấy ngón tay" ghi lề luật trên bia đá (Xh 31, 18), thì ngày nay Thiên Chúa hằng sống cũng dùng Thánh Thần, để viết "bức thư của Ðức Ki-tô" được giao phó cho các tông đồ, 8- Chim bồ câu: tượng trưng cho sự hoan lạc trong an bình.
Điều đó cho thấy hoạt động của Chúa Thánh Thần là đem lại những hoa quả cho cuộc sống đạo của tín hữu. Những hoa quả đó là: “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5, 22-23). Và từ những hoa quả chan chứa tình yêu đó, Đức Ki-tô đã thiết lập 7 bí tich là Thánh Tẩy, Thêm Sức, Thánh Thể, Giải Tội, Xức Dầu Bệnh Nhân, Truyền Chức Thánh và Hôn Phối. Bảy bí tích liên quan đến tất cả các giai đoạn và thời điểm quan trọng trong đời sống Ki-tô hữu: Người tín hữu được sinh ra và lớn lên, được chữa lành và sai đi. Giữa những giai đoạn của đời sống tự nhiên và đời sống thiêng liêng, có nhiều điểm tương đồng (GL/HTCG, điều 1210). Trong 7 bí tích, thì có 3 bí tích khai tâm (Thánh Tẩy, Thêm Sức và Thánh Thể), đặt nền tảng cho toàn thể đời sống Ki-tô hữu. Trong 3 bí tích khai tâm, lại có tới 2 bí tich mang đậm dấu ấn của Chúa Thánh Thần, đó là bí tich Thánh Tẩy và Thêm Sức.
Hai bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức đan quyện vào nhau, vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau. Vâng, “Bí tích Thêm Sức kiện toàn ân sủng Thánh Tẩy. Ðây là bí tích ban ơn Thánh Thần để giúp chúng ta củng cố ơn nghĩa tử, tháp nhập thâm sâu vào Chúa Ki-tô, liên kết chặt chẽ với Hội Thánh, gắn bó với sứ mạng của Hội Thánh và làm chứng cho đức tin Ki-tô giáo bằng cả cuộc sống.” (GL/HTCG, điều 1316); “Cũng như bí tích Thánh Tẩy, bí tích Thêm Sức in vào tâm hồn người tín hữu một dấu thiêng liêng, một ấn tín không tẩy xóa được. Vì thế, mỗi người chỉ có thể lãnh nhận bí tích Thêm Sức một lần trong đời.” (GL/HTCG, điều 1317). Như tên gọi, bí tích Thêm Sức chính là bí tích tăng thêm sức hiểu biết cho đức tin, tăng thêm sức bền vững cho đức cậy, tăng thêm sức dũng cảm cho đức mến.
Khi cử hành bí tích Thêm Sức thì nghi thức chính yếu là “xức dầu thánh trên trán người đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy (Giáo Hội Ðông Phương còn xức dầu trên những phần khác của thân thể), cùng với việc thừa tác viên đặt tay và đọc: "Hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần là ấn tín hồng ân Thiên Chúa" ("Accipe signaculum doni Spiritus Sancti") (GL/HTCG, điều 1320). Sự kiện này nhắc tín hữu nhớ lại Đức Giê-su là Đức Ki-tô (Christo), nghĩa là "Đấng được xức dầu". Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần mà xức dầu cho Người nên mọi sự xảy đến kể từ mầu nhiệm Nhập Thể đều xuất phát từ nguồn mạch sung mãn này (Ga 3, 34). Khi cuối cùng được tôn vinh (Ga 7, 39), Ðức Ki-tô có thể cử Thánh Thần từ nơi Chúa Cha đến với những ai tin Người. Người thông ban cho họ Vinh Quang của mình (Ga 17, 22) tức là Thánh Thần, Ðấng tôn vinh Người (Ga 16, 14). Từ lúc đó, sứ mạng phối hợp này sẽ được triển khai nơi những người được Chúa Cha đón nhận làm con trong thân thể Con của Người: Sứ mạng của Thánh Thần, Ðấng làm cho con người thành nghĩa tử, là kết hiệp họ với Ðức Ki-tô và làm cho họ sống trong Người (GL/HTCG, điều 690).
Tóm lại, khi người Ki-tô hữu được nhận bí tích Thánh Tẩy (như xưa Con Thiên Chúa nhận Phép Rửa trên sông Gio-đan) tức là được chính thức nhận làm con cái Thiên Chúa và là bạn của Đức Ki-tô (Ki-tô hữu), để cùng cộng tác với Người trong công trình cứu độ nhân loại ("Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Ngài" – Thánh Âu-tinh). Đó là một hồng ân trọng đại từ nguồn suối Tình Yêu sung mãn của Thiên Chúa thông ban cho tín hữu. Suối nguồn Tình Yêu vô tận đó chính là Thần Khí Chúa vẫn tiếp tục tuôn trào để Thêm Sức cho những ai đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, ngõ hầu có đủ hiểu biết và can đảm thi hành sứ vụ được trao phó ("loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo").
Ôi! Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh! Chúa đã ban Thánh Thần cho Giáo Hội ngay từ ngày mới thiết lập và cũng nhờ thế mà Giáo Hội ngày nay đã hiện diện trên toàn thế giới. Tuy nhiên, những người biết và tin vào Thiên Chúa trên thế giới vẫn còn là thiểu số. Xin Chúa thương ban cho chúng con được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần để chúng con được như các Tông đồ thủa xưa tái sinh trong Thần Khí mà vững bước trên con đường loan báo Tin Mừng, đem Chúa đến cho mọi người, ở mọi nơi, trong mọi lúc của cuộc đời chúng con. Ôi! Lạy Chúa! “Thánh Thần! Khấn xin ngự đến! Hồn con đang mong chờ Ngài. Suối nguồn thánh ân hiện xuống. Này dương gian xin Ngài đổi mới. Ngài ơi, xin Ngài hãy đến, chiếu sáng thế gian u mê, tối tăm. Ngài ơi! xin Ngài hãy đến. Hiển Linh Ngài ơi! ĐK. Lạy Ngài xin đến dắt chúng con trên đường. Cầu Ngài liên kết chúng con nhất tâm trong Ngài. Cầu Ngài ban ơn thêm sức kiên vững không lay. Sống sao nên người con Chúa, chứng nhân tình yêu.” (Thành Tâm – “Thánh Thần Hãy Đến” – TCCĐ). Amen. Alleluia! Alleluia!
JM. Lam Thy ĐVD.
May 19, 2013
.
Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em
(Ga 20;22) -chúa Thánh Thần Hiện Xuống 2013
Tin Mừng Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống hôm nay Thánh Gioan cho chúng con chứng kiến Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, sau khi Chúa đã vượt qua cuộc tử nạn và Phục sinh vinh hiển. Tâm trạng của các ông những ngày ấy vẫn còn đang trong lo âu, nhát đảm , sợ sệt. Hội họp lại với nhau mà phải đóng kín cửa do sợ người Do Thái, mà cũng còn là hụt hẫng bởi không còn có Thầy ở bên. Không có người lãnh đạo nên càng cảm thấy hoang mang, thậm chí ngã lòng. Chúa Giêsu đã đến giữa các ông, việc đầu tiên Người cho các ông nhận ra Người đã sống lại đích thực, chứ không chỉ là đồn thổi. Người biết trong các ông vẫn còn người chưa tin, hay nửa tin nửa ngờ điều Chúa đã nói trước khi Người chịu tử nạn. Không những thế Thánh kinh cũng đã chép: “ Người phải chịu tử nạn và sau 3 ngày Người sẽ sống lại “. Chúa đã dành những giây phút đầu tiên của cuộc gặp để cho các ông xem các dấu đinh đóng trên tay, chân cùng với vết đâm từ cạnh sườn hầu các ông “Thấy mà tin “. Chúa” thật” chứ không phải là ma như có ông đã từng thốt lên. Người đã lên tiếng trấn an cùng một lúc “ Bình an cho anh em, Như Cha đã sai Thầy thì Thầy cũng sai anh em “.
Lạy Chúa,
Con người chúng con không thể bình an khi trong lòng còn ít nhiều xao động. Khi phải lo lắng, suy nghĩ về bất cứ điều gì liên quan đến sự an tòan của bản thân, bồn chồn không biết sự dữ sẽ đến lúc nào, hay quá ưu tư về tương lai cuộc sống . Ngày mai, ngày mốt sẽ sống ra sao? Phải làm gì ? Có ai bắt bớ mình không?Hiểu được tâm trạng ấy của con người, điều Chúa đem đến cho các Tông đồ lúc ấy chính là sự bình an. Các ông mừng vui, quên đi nỗi sợ. Bây giờ đã có Thầy ở bên, lo gì ? Kề bên Chúa con có một sự bình an đích thực, kề bên Chúa con vững tin, chăm chú lắng nghe Lời Người. Chúa đem cho con sự bình an không như thế gian ban tặng( Ga 14; 28). Chúa còn trao ban Thánh Thần của Người để con thêm mạnh mẽ, tin mãnh liệt. Thêm lòng yêu mến, sự cậy trông hầu đón nhận ơn sai đi .
“Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần “, không phải chỉ các Tông đồ hôm ấy mới được Thánh Thần Chúa ngự đến, mà qua các Ngài con cũng được đón nhận Thánh Thần Chúa. Sứ mạng rao giảng không phải chỉ riêng các Ngài hay sau này là các Giám mục, Linh mục,Tu sĩ mà là hết mọi thành phần dân Chúa. Con đã được lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy tức là đứng vào hàng ngũ dân Chúa. Con đã được lãnh nhận Bí Tích Thêm sức là đón nhận Chúa Thánh Thần, con phải lãnh và chu tòan trách nhiệm Chúa trao . Đó là được sai đi đến với hết mọi người đang cùng sống với con, giữ lệnh truyền của Thầy: “ Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương”, đó chính là con rao giảng Nước Thiên Chúa, con thực thi Lời Người .
“ Lạy Chúa Thánh Thần, xin Người ngự đến,
canh tân đổi mới đời sống chúng con.
Tăng sức linh hồn, bồi thêm lửa mến,
soi sáng trí khôn, hiệp nhất muôn lòng “( Thành Tâm )
AMEN.
Fx Đỗ Công Minh
SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT LỄ HIỆN XUỐNG
THÁP BABEL – XƯA VÀ NAY
Ngày xưa, khi còn bé, tôi thường coi câu chuyện tháp Babel như một giải thích về nguồn gốc các dị biệt của ngôn ngữ loài người. Cũng thì một Thánh Thần, nhưng lúc bấy giờ Người làm cho ngôn ngữ người ta ra lộn xộn, không ai hiểu ý ai. Vậy mà, khi các tông đồ ra rao giảng, Người lại làm cho thiên hạ nghe các ngài nói cùng một thứ tiếng của mình khiến ai cũng hiểu dễ dàng.
"Nào tất cả những người đang nói đây không phải là người Galilê ư? Nhưng tại sao mỗi người chúng tôi lại nghe họ nói tiếng bản xứ của chúng tôi: Chúng tôi là người Parthi, Mêđi, Êlam, Mêsopotamia, Giuđêa, Cappađôcia, Pôntô, Tiểu Á, Phrygia, Pamphylia, Ai-cập, Lybia, cận Cyrênê, và người Rôma cư ngụ ở đây, là Do-thái và tòng giáo, là người Crêta và Á-rập, chúng tôi đều nghe họ nói tiếng của chúng tôi mà ca tụng những kỳ công của Thiên Chúa!" (Cv. 2, 8-11)
À, thì ra điểm khác biệt là chỗ này: Một đàng là “ca tụng kỳ công của Thiên Chúa”, đàng kia lại “tự hào về công trình của con người”?
Và, con người đã thực sự từ bỏ tháp Babel?
Thưa, không! Tháp Babel vẫn sừng sững trong lòng mỗi người chúng ta. Đó là sự tự phụ, lòng hãnh tiến khi làm được bất cứ việc gì thành công. Có khác chăng là chúng ta khoác cho nó những lớp áo khác mang danh hiệu “công cuộc của Chúa”.
Khi ấy, có mấy người trầm trồ về đền thờ được trang hoàng bằng đá tốt và những lễ vật quý, nên Chúa Giêsu phán rằng: "Những gì các ngươi nhìn ngắm đây, sau này sẽ đến ngày không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào mà chẳng bị tàn phá". (Lc 21, 5-6)
Những người Do Thái ngày xưa rất tự hào về đền thờ Giêrusalem, nơi họ xây dựng để thờ phượng Thiên Chúa. Vậy mà, Chúa Giêsu lại nguyền rủa nó! Chẳng lẽ Người chỉ muốn người ta thờ phượng Người trong túp lều da dê nhỏ bé chứa hòm bia Thiên Chúa? - Vâng, đúng thế! Người không màng chuyện chúng ta thờ phượng Người ở đâu, Người chỉ cần chúng ta đến với Người bằng tấm lòng khiêm cung chứ không phải tâm hồn đầy kiêu hãnh. Thử tưởng tượng cảnh giáo xứ nọ đang liên hoan sau lễ khánh thành nhà thờ, các Cha đang nói lời chúc tụng, khách khứa trầm trồ, giáo dân hoan hỉ… Bỗng đâu có một gã “trôi sông lạc chợ” nào đó phán một câu: “Rồi sẽ có ngày không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào”. Chắc không đến nỗi bị ném đá hay nguyền rủa, nhưng sẽ có ban trật tự lôi cổ gã tống ra ngoài kèm lời miệt thị: “Đồ say rượu!” Y hệt như phần tử cứng lòng ngày xưa nhận định về các Tông đồ khi các ngài đang rao giảng dưới sự tác động của Thánh Thần: “Họ đầy rượu rồi!”
Vậy đó, tháp Babel vẫn nhập nhòa giữa những Thánh đường nguy nga tráng lệ, lẫn khuất giữa hàng chức sắc, bảng lảng trong các hội đoàn… Chỉ cần chút tự phụ của con người làm dinh dưỡng, nó sẽ “lớn nhanh, lớn mạnh, lớn vững chắc” và che khuất tầm nhìn khiến tôi không còn thấy kỳ công của Thiên Chúa.
Tôi vẫn còn nhớ lời của một đàn anh: “Ngày nay, Satan không chỉ rủ rê chúng ta đi vũ trường, đi massage… Nó còn rủ ta vào hội đoàn, khích lệ ta xây nhà thờ, mồi chài ta tham gia công tác từ thiện… Rồi đến một lúc nào đó, mọi người đã biết đến ta, nó thổi phồng ta, nó làm cho cái “TÔI” của ta lớn lên và ta chỉ còn chăm chắm làm cho sáng danh ta chứ không phải sáng danh Chúa.” Biết vậy mà tôi vẫn không sao tránh khỏi! Tôi cũng giống như những người Do thái xưa, giấu cái “Babel-tôi” tự mãn vào công trình tôn vinh Thiên Chúa. Tôi muốn mọi người phải tuân phục tôi, phải ủng hộ tôi, phải ngưỡng mộ tôi vì tôi đang phục vụ cho Thiên Chúa, đang xây dựng cơ đồ cho Thiên Chúa, đang kiến tạo vũ trụ mới cho Thiên Chúa. Kỳ vĩ biết bao, huyền siêu dường nào! Thực ra, tôi chỉ lo xây dựng và củng cố cái tháp Babel mà tôi hằng ấp ủ trong lòng. Khi vấp phải những bất đồng, những lạnh nhạt; tôi quay ra than trách con người, xã hội, giáo hội… Chưa bao giờ tôi chấp nhận chịu phỉ nhổ để Danh Chúa được cả sáng như các Tông đồ ngày xưa. Mặc kệ những dèm pha “Họ đầy rượu rồi!”, các ông vẫn nói và nói Lời Thánh Linh khiến ai cũng hiểu.
“Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Chúa Giêsu được sai đi để chịu chống báng, phỉ nhổ, đọa đày và khổ hình Thập Giá. Còn tôi? Tôi chỉ muốn được sai đi để hưởng vinh quang, để được mang danh là “người của Thiên Chúa” và ai chống báng tôi là chống báng Thiên Chúa. Chính vì tâm trạng đó mà tôi không khi nào cảm thấy bình an. Ngày xưa, các Tông đồ cũng nơm nớp lo sợ sự chống đối của người Do thái nên các ông hội họp lại và đóng kín cửa (hình ảnh này chắc cũng không xa lạ mấy đối với phần đông tín hữu Việt Nam tuổi trung niên trở lên). Chúa Giêsu biết vậy nên đã mở đầu bằng câu “Bình an cho các con!” trước khi thổi hơi và ban Thánh Thần cho các ông. Quả vậy, Thánh Thần luôn song hành với niềm bình an. Có bình an mới biết đón nhận Thánh Thần, và ngược lại, ai có Thánh Thần, người ấy có sự bình an mà thế gian không có được. Sự bình an ấy không hệ tại ở cuộc sống sung túc, đầy đủ; không hệ tại ở danh vọng, vinh hoa; không hệ tại ở an ninh bất khả xâm phạm; không hệ tại ở cuộc đời phẳng lặng yên hàn. Sự bình an ấy chỉ hệ tại ở tâm hồn hoàn toàn vâng phục Thánh Ý và luôn tin rằng có Chúa bên ta cho dù đang cơn bỉ cực, đang hồi sầu não hay đang vòng lao lý…
Bây giờ tôi mới hiểu tại sao bài đọc I trong Thánh Lễ Vọng Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống là trình thuật biến cố tháp Babel. Giáo Hội muốn chuẩn bị cho chúng ta dọn tâm hồn để đón nhận Chúa Thánh Thần bằng cách trước tiên phải triệt hạ thành lũy Babel trong lòng, để Thần Linh Chúa ngự xuống và chiếm hữu toàn bộ lòng trí chúng ta. Nhờ đó, bình an từ Trời sẽ tràn ngập mọi tâm hồn biết sẵn sàng để được sai đi thi hành Thánh Ý.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin luôn ở với chúng con và nhắc nhở chúng con luôn hướng tới những kỳ công của Thiên Chúa. Xin giúp chúng con gạt bỏ tháp Babel kiêu hãnh trong lòng mỗi người chúng con để chúng con chỉ sống với một ước vọng là làm vinh danh Chúa giữa thế giới này. Amen.
Pio X Lê Hồng Bảo
CHÚA THÁNH THẦN, NGỌN GIÓ CANH TÂN
Lm Tạ Chúc 2013
Người Ki-tô hữu mỗi lần họp nhau trong đền thờ, hoặc nơi gia đình là cất lời kinh: “ Chúa Thánh Thần”, “ Veni, Sancte Spiritus ! – Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến”. Một lời khởi nguyện rất đơn giản, nhưng chất chứa một ý nghĩa thật cao sâu. Giáo hội sẽ không trường tồn, nếu như Thánh Thần không được ban xuống trên các Tông đồ, trong ngày lễ Ngũ tuần, và những lễ “ Hiện xuống mới”, trong Giáo Hội. Thần khí mà Đức Giê-su luôn tha thiết nài xin cùng Chúa Cha, để Ngài ban xuống trên các cộng đoàn Ki-tô hữu sơ khai và tiếp nối mãi trong lòng thế giời này.
Gió muốn thổi đâu thì thổi, người ta sẽ không còn phân cách nữa khi ngọn gió xuyên suốt mọi nơi bí ẩn đã được chuyển tải qua Đức Giê-su Ki-tô tử nạn và Phục sinh. Trước khi từ giã các môn đệ, Đức Giê-su đã nhiều lần công bố Danh của Chúa Thánh Thần: “ Nếu các con yêu mến Thầy, các con sẽ giữ những lệnh truyền của Thầy. Thầy sẽ xin Cha và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng Bảo trợ khác đến ở với các con luôn mãi”(Ga 14, 15-16). Ở luôn mãi, nghĩa là lễ Hiện xuống là một hy tế mới, trong đó Máu của Đức Giê-su đã được thay thế cho máu của các con vật. Nhân loại từ nay không còn uống rượi trong bầu da củ nữa mà rượi mới bầu da mới, đã được Men Thần Khí biến đổi để trở nên những ly rượi ân sủng tràn đầy chứa chan niềm hoan lạc, trong biến cố xảy ra 50 ngày sau khi Đấng đã Phục sinh. Hơn ai hết, các Tông đồ là những người thấy rõ điều này nhất. Sau ngày lễ Ngũ tuần, các cánh cửa đã được mở toang, những lối rẽ tuyệt vọng lại được thắp lên niềm hy vọng. Không còn sự nhát đảm, không có giới hạn về màu da hoặc ngôn ngữ. Chúa Thánh Thần đầy quyền năng đã làm cho các Tông đồ có khả năng rao giảng Tin mừng một cách can đảm cho các dân tộc( x. Cv 2, 1-13).
Sau thời các Tông đồ, Giáo hội luôn được Chúa Thánh Thần gìn giữ và nuôi dưỡng. Cuộc canh tân hết sức kỳ diệu trong lòng Giáo Hội mà Chúa Thánh Thần, tác nhân chính trong biến cố này đã làm cho Giáo hội luôn trường tồn và là dấu chỉ cho muôn dân, đó là Công đồng chung Vatican II. Nguồn cảm hứng mà Thánh Thần đã thổi vào, ngày hôm nay vẫn âm vang trong tâm hồn của các tín hữu, của những nhóm hành hương, nhóm cầu nguyện, các Đại hội giới trẻ, các hoạt động từ thiện, các cộng đoàn tận hiến, các cuộc hành hương về bên Đức mẹ. Phong phú vô cùng khi sức mạnh và sự đổi mới không ngừng mà Chúa Thánh Thần hành động trong Giáo Hội, và Ngài đã mang lại nhiều kết quả mỹ mãn cho thế giới ngày nay.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến để canh tân bộ mặt trái đất này, và xin Ngài đốt lên trong lòng các tín hữu ngọn lửa yên mến này. Xin mượn lời thơ của Cha Vinh Sơn Phạm Trung Thành, dcct để kết :
Con biết chẳng bao giờ Chúa thất hứa,
Nên con cố kiên tâm đợi mong,
Lạy Chúa xin ban Thần Khí Chúa,
Đổi mới lòng con, đổi mới địa cầu này. Amen.
Lm Tạ Chúc 2013 .
SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT LỄ CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG ( C) ( Ga 20,19-23)
CHÚA THÁNH THẦN :
NGUỒN MẠCH CHÂN LÝ- TÌNH YÊU – HY VỌNG
Chúa Thánh Thần, như người ta thường nói, Vị Thiên Chúa bị lãng quên. Vâng ! Kính thưa quý vị, vì một năm, Ngài mới được nhắc đến một lần. Theo lịch phụng vụ, thì quan niệm trên dường như không sai, vì Ngài được nhắc tới quá ít, hay là ít được nhắc tới, cũng như Chúa Cha, thì Lễ về Chúa Thánh Thần quá ít. Nhưng không phải vậy, vì chúng ta biết chương trình Cứu Độ của Thiên Chúa không phải chỉ có một mình Chúa Giêsu, nhưng mầu nhiệm Nhập thể và nhập thế là do bởi duy nhất một mình Chúa Giêu là Ngôi Hai Thiên Chúa. Người là Vị Thiên Chúa làm Người, nghĩa là Người thực hiện sứ vụ tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa một cách hữu hình, vì Thiên Chúa vốn dĩ siêu nhiên. Vì vậy , nói cho đúng hơn là phụng vụ Công giáo dành hết thời gian trong năm để tưởng niệm mầu nhiệm Cứu Chuộc là Nhập Thể và Nhập Thế của Ngôi Hai Thiên Chúa là Chúa Giêsu- Kitô.
Nhưng thực ra, trong kinh nguyện hằng ngày, nhất là trong Thánh lễ Giáo Hội vẫn tôn thờ Chúa Ba Ngôi trong Chúa Giêsu- Kitô. Lời nguyện nào cũng có Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Như vậy, Chúa Thánh Thần là ai ? Ngài có vai trò gì và quan trọng như thế nào trong Giáo hội? Thưa : Thánh : cũng có nghĩa là “Chúa”. Thần : cũng có nghĩa là “Chúa”. Như vậy, Chúa Thánh Thần là Vị Thiên Chúa có vai trò Thánh Hóa, có nghĩa là biến đổi mọi sự nên Thánh, để thuộc về Thiên Chúa. Như vậy , Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh hóa.
Thiên Chúa không đơn độc, bởi vì Ngài có Ba Ngôi, dù Thiên Chúa giáo là Tôn giáo độc Thần, vì không phải là Ba Chúa, mà là Một Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Hằng Hữu và Hiển Trị muôn đời.
Nhưng Thiên Chúa hiển trị trong nguyên lý nào ? Há không phải là trong : Chân lý- Tình yêu – Hy vọng sao?
- Chân lý : là sự tạo thành, sự sáng tạo nên mọi nguyên lý. Đó là lý sống, vì không sự gì tồn tại được mà không do chân lý. Vì nếu không có chân lý, thì không có sự thật, làm sao tồn tại. Không có sự tồn tại nào dựa trên giả trá. Chân lý thuộc về Thiên Chúa, bởi vì Ngài là Đấng Sáng Tạo. Đó là nguyên lý Đức Tin.
- Tình yêu : Vì trong sự sáng tạo của Thiên Chúa có một hình ảnh giống Thiên Chúa, đó là con người. Được dựng nên bởi chân lý và tình yêu. Chân lý là nguyên lý sống, nhưng nếu không có tình yêu, thì chân lý đơn độc, trơ trọi, buồn tẻ. Vì vậy, để làm phong phú chân lý, cần có tình yêu. Tình yêu, là sự lãng mạn, sự bảo bọc, sự che chở, sự tha thứ, sự bao dung. Chân lý thì như “đá”, nhưng tình yêu thì như “ nước”. Nước là nguồn của tình yêu.
- Hy vọng : cũng là một nguyên lý sống. Vì mọi sự không như chiếc khuôn, không cố định hiện hữu cách cứng nhắc. Mọi nguyên lý đều có chuyển vận, vạn biến, trong sự bất biến, đó là chân lý. Hy vọng là sự mong muốn đạt đến . Sau khi con người được tạo dựng, và con người đã phá vỡ hạnh phúc thuở ban đầu, như vậy sự phản nghịch của con người là rất lớn. Nhưng Thiên Chúa Đấng là Chân Lý, đã mong muốn, hy vọng con người hồi tâm. Hy vọng luôn ở nơi Thiên Chúa, vì Ngài là Chân Lý và Tình Yêu. Rõ ràng, bao lâu chúng ta chưa được kết hợp trọn vẹn với Thiên Chúa là bấy lâu chúng ta còn hy vọng. Và chính Thiên Chúa cũng hy vọng như chúng ta.
Như vậy, Chân Lý, Tình Yêu và Hy Vọng là ở nơi Thiên Chúa, chứ không phải là con người. Nên chi, thời Sáng Tạo đã qua, thời Cứu Độ đã hiện thực, vì vậy, đây là thời của Chúa Thánh Thần, thời Thánh Hóa. Tất cả mọi công trình Sáng Tạo và Cứu Chuộc đã hiện thực hóa. Rõ ràng thời Thánh Hóa há không phải là thời Hy Vọng hay sao? Bởi vì không có sự sống nào mà thiếu đi niềm hy vọng? Hy Vọng chính là Tình Yêu trong Chân Lý. Nên chi, Chúa Giêsu ban Thánh Thần cho các Tông Đồ chính là Người ban cho chúng ta nguồn mạch của Chân Lý- Tình Yêu – Hy vọng. Vì đây chính là Thời Hy Vọng.
Vì vậy, không ai khác hơn là chính Chúa Giêsu, Người đã ban cho chúng ta Chân Lý- Tình Yêu- Hy Vọng là Chúa Thánh Thần, như Lời Người đã nói : “ Các con hãy nhận lấy Thánh Thần” ( c 22).
Lạy Chúa Thánh Thần, Ngài là nguồn mạch Chân Lý- Tình Yêu- Hy Vọng, mà chính Chúa Giêsu, Đấng đã ban cho chúng con. Xin Ngài hãy Ngự đến, để ban tràn Chân Lý- Tình Yêu – Hy Vọng cho mỗi người chúng con, là ơn Thánh Hóa, để chúng con can đảm tiến bước theo Chúa Kitô, Đấng cứu độ chúng con ./. Amen
19/05/2013
P. Trần Đình Phan Tiến ( Bước Theo)
“Nếu Cuộc Đời Vắng Bóng Thánh Linh…”
Lm. Giuse Trần Đình Long - Dòng Thánh Thể
“Xin Thánh Thần cầu nguyện cho con, bằng tiếng than khôn tả của Ngài” (Rm 8,26)
Muôn lạy Chúa Thánh Thần.
Xin ngự đến trần gianTự trời cao gởi xuống
Nguồn ánh sáng toả lan.
Lạy cha kẻ cơ hàn
Đấng tặng ban ân điển
Hằng soi dẫn nhân tâm
Cúi xin Ngài ngự đến
Đấng ủi an tuyệt diệu
Thượng khách của tâm hồn
Ôi ! ngọt ngào êm dịu
Dòng suối mát chảy tuôn
Khi vất vả lao công
Ngài là nơi an nghỉ
Gió mát đuổi cơn nồng
Tay hiền lau giọt lệ
Hỡi hào quang linh diệu
Xin chiếu dải ánh hồng
Vào tâm hồn tín hữu
Cho rực rỡ tinh trong.
Không thần lực phù trì
Kẻ phàm chân cát bụi
Thật chẳng có điều chi
Mà không là tội lỗi
Hết những gì nhơ bẩn
Xin rửa cho sạch trong
Tưới gội nơi khô cạn
Chữa lành mọi thương tích
Cứng cỏi uốn cho mềm
Lạnh lùng xin sưởi ấm
Những nẻo đường sai lầm
Sửa sang cho ngay thẳng
Những ai hằng tin tưởng
Trông cậy Chúa vững vàng
Dám xin Người rộng lượng
Bảy ơn Thánh Thần tặng ban.”
(Ca Tiếp Liên Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống)
“Nếu cuộc đời vắng bóng Thánh Linh,
Thì Thiên Chúa sẽ nghìn trùng xa cách…”
Đó là lời của Đức Atheagoras, giáo chủ thành Constantinople thuộc Giáo Hội Đông Phương.
Đây là lời xác tín hết sức mạnh mẽ, của một tín hữu lão thành, suốt cuộc đời tin vào Đức Kitô và tin vào sự hiệp nhất của các giáo hội Kitô giáo trong Chúa Thánh Thần, và đây cũng là một lời cảm tạ hết sức chân thành và thiết tha thốt ra tự đáy lòng của Ngài.
Thật vậy, nếu Chúa Thánh Thần không đến, thì hôm nay thế gian vẫn chỉ là một vùng không mang u tịch mà bóng tối sự chết vẫn bao trùm trên khắp nẻo và trên tất cả mọi người, cho dù văn minh cơ khí điện tử có đưa được con người lên đến chín tầng cao xanh.
Bất cứ ai ở trần gian này mà gặp được Đức Giêsu Kitô, đó là phúc lộc bởi ơn huệ Chúa Thánh Thần. Một người có đạo Chúa Kitô muốn tận hưởng sự an vui hạnh phúc của đạo mình trong bất cứ tình huống nào thì cũng phải đầy Thánh Thần. Nếu không, đời mình cũng chán, cũng khổ, cũng kêu ca than vãn giống như những người không phải Kitô hữu. Cộng đoàn nào mà sống gắn bó liên kết được với nhau là nhờ cộng đoàn ấy biết bám chặt vào Chúa Kitô, nếu không thì cũng bất hòa, chia rẽ, tranh cãi hơn thua, giống như bất cứ nhóm người nào khác giữa thế gian không biết Thiên Chúa, có khi còn tệ hơn họ nữa.
Suy niệm về Chúa Thánh Thần là một điều bất khả với trí tuệ loài người. Kinh Thánh nói: “Không ai biết được những điều có trong Thiên Chúa, không ai có thể biết được, trừ khi là Thần Khí của Thiên Chúa” (1Cr 2,11), mà Chúa Thánh Thần lại là Thần Khí của Thiên Chúa, Ngài ở trong Thiên Chúa và Ngài là Thiên Chúa.
Vì vậy, biết và nhận lãnh Thánh Thần là một ơn huệ Chúa ban, không phải do sự tìm tòi khám phá hay đức độ của con người thế gian. Đức Giêsu nói: “Thần khí sự thật, thế gian không thể lĩnh nhận vì nó không thấy, cũng không biết Ngài.” (Ga 14, 17).
Khi cắt nghĩa cho ông Nicôđêmô về Thánh Thần, Đức Giêsu nói: “Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy.” (Ga 3,8)
Thế gian tự nó bất lực, không thấy, không biết và cũng không thể nhận lãnh Thánh Thần. Chúa Giêsu hứa sẽ không tỏ Thần Khí Thiên Chúa cho thế gian. Chúng ta cũng vậy, tự mình cũng không thể lãnh nhận được Thần Khí, nhưng chúng ta đã được Chúa Thánh Thần, đó là do tình thương của Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô.
Ở đời, cái gì cho đi mà có điều kiện khó khăn, thì cái đó mới quí, mới lớn (mặc dù, đôi khi thực chất nó chẳng có giá trị gì mấy !)
Chúa Thánh Thần là ơn huệ vô cùng lớn lao, không hề có ở thế gian này, vì Ngài là quyền năng Thiên Chúa. Thế gian có được Ngài là do máu ở trái tim Con Thiên Chúa chảy ra (Ga 7,37-39). Nhưng vì Thiên Chúa cho không, không có điều kiện gì cả, lại còn năn nỉ để cho người ta nhận: “Hãy ở lại Giêrusalem mà chờ đợi điều Cha đã hứa… Các ngươi sẽ chịu lấy quyền lực Thánh Thần” nên chúng ta không thấy lớn, ít người biết cảm tạ, phần đông thì thờ ơ, không quan tâm. Bởi vì hôm nay chúng ta đã đánh mất cái ngỡ ngàng của Hội Thánh tiên khởi của các tông đồ của Đức Kitô, như Thánh Tađeo, Thánh Tôma, Thánh Phêrô, nên quyền phép Chúa Thánh Thần khó mà thi thố cho chúng ta.
Thời đại này, người ta tin ở tài năng của con người, ở khoa học kỹ thuật tiên tiến, ở tiền vàng đôla hơn là tin ở quyền năng vô biên của Chúa Thánh Thần. Sau khi Đức Kitô về trời, Hội Thánh vỏn vẹn chỉ có 12 tông đồ với hai bàn tay trắng và một vốn kiến thức không đáng gì, nhưng các ông đã ra đi trong lòng tin vào Chúa Thánh Thần. Chưa đầy ba mươi năm, Tin Mừng Đức Giêsu Kitô đã lan từ Giêrusalem qua Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, suốt Địa Trung Hải, tới Roma, tiến nữa sang phía Đông, đến Tây Ban Nha, dừng lại ở ven bờ Đại Tây Dương vì biển động ngăn các ông không đi được nữa. Thật là mút cùng trái đất !
Ngày hôm nay Hội Thánh phải mất hàng chục năm mới đào tạo được một linh mục, ngày đó Kinh Thánh nói: “đi đến đâu, trong mỗi Hội Thánh các ông đặt hàng Niên Trưởng, rồi sau khi đã cầu nguyện, ăn chay, các ông phó họ cho Chúa, Đấng họ đã tin”, vì các tông đồ tin rằng: chính Thiên Chúa đã mở cửa đức tin cho dân ngoại chớ không phải các ông (Cv 14, 21-27).
Hội Thánh Chúa Kitô còn đứng vững đến ngày nay, còn chói lọi ánh sáng cứu độ giữa thế gian đầy lo âu bất trắc, là nhờ sức mạnh của Thánh Thần xuất phát tự nơi Trái Tim Đức Giêsu trên thập giá, chớ không phải Hội Thánh đứng vững được là do có nhiều vị Giáo Hoàng giỏi giang thông thái, có nhiều linh mục đỗ đạt bằng cấp cao, có nhiều thánh đường nguy nga đồ sộ. Trong sách Tông Đồ Công Vụ 4, 13 đã xác quyết: “Hội Thánh Chúa Kitô xuất phát từ những con người lê dân, vô học thức, nhưng quyền lực thì vô biên, bởi Thánh Thần Chúa Kitô phục sinh được ban xuống cho họ.”
Ngày nay các nghi thức phụng vụ thì nhiều và rất trang nghiêm long trọng, mục đích để làm phương thế đưa tâm hồn người ta đến gặp Đấng Phục Sinh. Nhưng thường thì người ta lại thích dừng lại ở nghi thức bên ngoài, nên dễ sinh ra sự ganh đua hơn kém cộng đoàn với cộng đoàn, cá nhân với cá nhân, vô tình hạ giá các Bí tích của Hội Thánh Chúa Kitô xuống ngang hàng với nghi thức.
Thượng Phụ Giáo Chủ Athenagoras, khi nhìn thấy hiện tượng này nơi Giáo Hội Chính Thống của Ngài, đã phải lên tiếng khuyến cáo các tín hữu của Ngài bằng lời lẽ rất mạnh. Ngài nói:
“Nếu cuộc đời vắng bóng Thánh Linh.
Thì Thiên Chúa sẽ nghìn trùng xa cách,
Hội Thánh chỉ là một tổ chức cứng ngắc,
Để biến quyền bính thành thống trị điêu ngoa.
Giảng đạo chỉ là tuyên truyền láo khoét.
Việc thờ phượng chỉ là trò đồng cốt,
Và luân lý, lề luật sẽ biến thành xiềng xích vong nô.”
Nhưng Hội Thánh Chúa Kitô có Thánh Thần, nên Hội Thánh tuy vẫn còn sai sót khiếm khuyết, mà lại là nơi Thiên Chúa thi thố quyền năng tuyệt vời của Ngài nơi những kẻ tin, và cho cả nhân loại. Và hoa trái của Thần Khí Đức Giêsu thì tràn đầy trong tâm hồn những tín hữu đón nhận, đó là: “yêu mến, vui mừng, bình an, quảng đại, tốt lành, lương thiện, tín trực…” đến độ Kitô hữu nào đón nhận Thánh Thần Chúa Kitô, thì có khả năng thông ban sự vui mừng, bình an của ơn cứu độ sang người khác. Vì thế, nơi nào có Thần Khí Đức Kitô Phục Sinh thì nơi đó có yêu mến, vui mừng và bình an. Nơi nào không có Thần Khí Đức Kitô, thì nơi đó chỉ có xôn xao, gay gắt, dè chừng lẫn nhau và mất bình an vô tận.
Trong Tin Mừng theo Thánh Gioan, Đức Giêsu Phục Sinh “thổi hơi trên các tông đồ, ban Thánh Thần và bình an.” Các môn đồ mừng rỡ khôn tả. Thánh Thần liên kết họ lại với nhau trong bình an hoan lạc. Và họ lại liên kết muôn dân nói nhiều ngôn ngữ khác nhau, tính tình khác nhau trong sự hoan lạc bình an của Thánh Thần để nên một với nhau trong Đức Giêsu Kitô. Quyền năng Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta yêu mến Thiên Chúa và yêu mến anh em trong vui mừng và bình an.
Mục đích của sự chết thập giá và phục sinh lên trời của Đức Giêsu là để ban Thánh Thần. Mục đích của Chúa Thánh Thần đến là làm cho người ta gặp được Đức Giêsu Kitô, yêu mến và đón nhận Ngài vào cuộc đời mình. Chúa Thánh Thần là Đấng sinh ra những kẻ tin vào Đức Giêsu Kitô, cho nên những ai muốn được vào trong Nước Thiên Chúa đều phải được dìm trong phép rửa của Thánh Thần và được thành con cái Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần sẽ nuôi dưỡng, dẫn dắt người ấy để họ sống trung tín với Đức Giêsu cho đến hết đời. Tất cả ơn cứu độ chỉ có thế.
Lạy Thiên Chúa là Cha của Đức Kitô và cũng là Cha của chúng con, xin ban Thánh Thần của Cha xuống trên mỗi người chúng con.
Lạy Đức Kitô Phục Sinh, xin ban Thánh Thần của Ngài cho chúng con. Chúng con khao khát đợi trông, và mở lòng ra để đón nhận. Amen
NHƯ CHÚA CHA ĐÃ SAI THẦY, THẦY CŨNG SAI ANH EM.
(Ga 20, 19 – 23)
“Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”.
Con được Chúa sai vào thế gian hôm nay,
như Chúa Cha đã sai Chúa vào thế gian năm xưa,
con nối tiếp sứ mạng Chúa nhận năm xưa,
để tiếp tục yêu thương và cứu rỗi hôm nay.
Nhưng con bất xứng mọn hèn,
Lánh xa sứ mạng, tắt đèn yêu thương.
Lm. Vinh Sơn Phạm Trung Thành, dcct.
Lễ Hiện Xuống 2013
Bình An, Sai Đi, Nhận Thánh Thần, và Ơn Tha Tội (Ga 20:19-23)
Thánh Gioan kể rằng: Chúa Giêsu thổi hơi trên các tông đồ và nói “các con hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20:22), và sự kiện này khác với chi tiết Thánh Luca viết lại trong ngày Lễ Hiện Xuống đầu tiên (Cv 2:1-11). Sự khác biệt này, theo Gioan, không phải là phủ nhận những sự lạ đã xẩy ra trong ngày Chúa Thánh Thần Hiện Xuống vì Gioan chỉ tường thuật về những gì đã xảy ra trước khi Chúa Giêsu về trời (Ga 20:30-31).
Chữ thổi hơi chỉ được dùng hai lần trong Thánh Kinh: lần đầu tiên là khi Chúa tạo dựng nên con người từ bụi đất, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật (St 2:7) và lần thứ hai ở Phúc Âm Gioan đoạn đã kể trên. Dựa vào điểm này, ta có thể nói rằng Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh đã ban cho chúng ta một thần khí mới để chúng ta trở thành một tạo vật mới.
“Như Cha đã sai Thầy, thầy cũng sai các con” (Ga 20:21); chữ sai (apostello - đặt để) do Chúa Cha khác với chữ sai (pempo - gửi thác) từ Chúa Giêsu là nền tảng của ý tưởng Thánh Phaolô đã viết: “Có nhiều đặc sủng, nhưng chỉ có một Thánh Thần; có nhiều thứ chức vụ, nhưng chỉ có một Chúa; có nhiều thứ công việc, nhưng chỉ có một Thiên Chúa, là Đấng làm mọi sự trong mọi người. Sự xuất hiện của Thánh Thần được ban cho từng người, tuỳ theo lợi ích” (1 Cr 12:4-7).
Chúa Giêsu ban cho các tông đồ ơn bình an; sự bình an này rất cần thiết để các ông vững dạ trong khi gặp khó khăn, thoát mọi tai ương và giặc giã, an toàn trong mọi biến loạn, ăn ở thuận hòa, tâm hồn được thanh thỏa và khi chết được nghỉ ngơi bình an trong tay Chúa. Bình an ở đây không có nghĩa là đời sống của các ông sẽ được dễ dàng.
Chúa Giêsu cũng ban cho các ông Chúa Thánh Thần và nói: “Các con tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha, các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại” (Ga 20:22-23). Ơn tha thứ mà chúng ta nhận được phát nguồn từ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu và ơn Chúa Thánh Thần; lời kinh ban ơn tha tội của linh mục trong tòa cáo giải cũng nhắc lại điểm ấy.
Ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm nay nhắc nhở chúng ta rằng nếu chúng ta đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần qua phép thêm sức thì chúng ta phải sống đời mình như những người sống trong bình an của Chúa, phải làm chúng nhân như những người đã được ủy thác và sai đi, và sống trong tình yêu thương của Chúa khi chúng tha thứ cho nhau.
LM JP Vũ Minh
**********************
Peace, Sending, Receiving the Holy Spirit, and the Forgiveness of Sin (Jn 20:19-23)
Saint John reported that Our Lord Jesus breathed on the disciples and said: “Receive the Holy Spirit” (Jn 20:22), this fact was different from what was mentioned in Luke on the first Pentecost (Acts 2:1-11). This difference, according to John, did not negate the miraculous happenings at Pentecost because John only wrote about all the events which took place before Our Lord Jesus ascended into heaven (Jn 20:30-31).
The word “breathe on” existed only twice in the Bible: the first time was during the creation of man from the earth, God breathed into his nostrils the breath of life and man became a living soul (Gen 2:7) and the second time was in the verse previously mentioned John’s gospel. Thus, we could say that the resurrected Lord Jesus Christ had given us a new spirit so that we could become a new creation.
“As the Father has sent me, so I m sending you” (Jn 20:21); the word send (apostello - appoint) from the Father differed from the word send (pempo - to bid a thing to be carried to one) could be used as the foundation to explain what Saint Paul had written: “There are different kinds of gifts, but the same Spirit distributes them. There are different kinds of service, but the same Lord. There are different kinds of working, but in all of them and in everyone it is the same God at work. Now to each one, the manifestation of the Spirit is given for the common good (1 Cor 12:4-7).
Our Lord Jesus gave His disciples peace; this peace here was necessary so that the disciples could be confident when they faced difficult situations, were saved from all calamity and havoc of war, freed from all anxieties, lived in harmony, experienced felicity, and rested in the peace of God when they died. This peace did not mean that their live could be easy.
Our Lord Jesus also gave them peace and said: “If you forgive anyone's sins, their sins are forgiven; if you do not forgive them, they are not forgiven” (Jn 20:22-23). This forgiveness that we received came from the passion of Our Lord Jesus and the grace of the Holy Spirit; the absolution prayer given by the priest in the confessional contained this point.
The feast of Pentecost this year remind us that if we have received the Holy Spirit in confirmation, then we must live in the peace of God, be witnesses as the ones who were commissioned and sent, and live in God’s love when we forgive one another.
Rev. JP Minh Vũ
- May 19, 2013
|
|