dongcong.net
 
 


Tình Yêu Ba Ngôi Hướng Về Con Người
Lễ Chúa Ba Ngôi, năm C

Mỗi ngày chúng ta thường làm dấu nhiều lần trước khi khởi đầu từng công việc. Dấu Thánh Giá nhắc nhở chúng ta về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi đang tác động và thánh hoá mọi hoạt động của chúng ta. Hay đúng hơn, chính Thiên Chúa Ba Ngôi đang không ngừng ghi dấu trên cuộc đời ta và dòng lịch sử của cả nhân loại.

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được mạc khải qua lời rao giảng của Chúa Giêsu. Thiên Chúa Cha là Đấng sáng tạo nên con người và sẵn sàng trao ban Người Con duy nhất để cứu độ nhân loại. Ngôi Con trong khiêm nhu phục tùng ý Cha vào trần thế để thực hiện công trình cứu độ bằng hiến lễ trên Thập giá khải hoàn. Ngôi Ba mối dây tình yêu liên kết Cha và Con, đồng thời tiếp tục chương trình cứu thế cho đến ngày chung thẩm. Ba Ngôi nhưng là một. Một trong chủ đích sáng tạo, một trong sứ mạng giải cứu con người khỏi vũng lầy tội lỗi, và nên một trong sự không ngừng trao ban Một Tình Yêu hiệp nhất.

"Mọi sự Cha có đều là của Thầy" (Ga 16:15). Ba Ngôi chia sẻ cho nhau mọi sự mình có để cùng nhau hoạt động trong một nhịp điệu hài hoà. Ba Ngôi cùng quy hướng về mục đích tôn vinh danh thánh của Ba Ngôi. "Thánh Thần sẽ tôn vinh Thầy" (Ga 16:14a). Mỗi Ngôi đều không tìm mình, chỉ sống cho Ngôi khác, và từ đó làm rạng tỏ nét riêng biệt của mình. Đó chính là sức mạnh, là huyền nhiệm của một năng lực tình yêu nối kết bền vững Ba Ngôi nên Một.

Chiêm ngắm mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi như mời gọi mỗi người chúng ta hãy mở rộng tâm hồn ra thế giới quanh mình để dám sống nhờ, sống với, và sống vì tha nhân bằng tâm tình sẵn sàng cộng tác và chia sẻ những ân huệ mình có cho lợi ích chung. Chúng ta cùng cộng tác với nhau cách cộng hưởng là san sẻ những nét đặc sắc cá biệt mà vẫn giữ được sự tôn trọng và tri ân những nét đẹp của tha nhân. Ca dao Việt Nam có câu: "Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao". Cha ông xưa đã cảm nhận được sức mạnh nội tại của một đoàn thể hiệp nhất. Vì chính khi hoà mình vào bầu khí phục vụ tha nhân chúng ta sẽ tìm biết bản thân và bồi đắp cho đời sống tâm linh của chúng ta thêm phong phú. Mặt khác, chúng ta cũng đang giúp cho cộng đoàn trở nên kiện toàn qua sự hoàn thiện của mỗi cá nhân hơn mỗi ngày.

Ba Ngôi tuy một nhưng tình yêu Ba Ngôi luôn hướng về con người và vũ trụ. Sống mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là nới rộng quỹ đạo hoạt động cùng hoà mình vào tổng thể của Giáo Hội, giáo xứ và xã hội. Để qua những thúc bách của thời đại của con người, Chúa Thánh Thần sẽ khơi lên những hướng đi thích hợp và khôn ngoan cho các hoạt động của đoàn thể. Tuy nhiên trung tâm sức mạnh của đoàn thể vẫn là tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi. Và lấy Lời hằng sống của Đức Kitô làm kim chỉ nam cho mọi chương trình tông đồ, như gương Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. "Cha lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em" (Ga 16:15).

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh,

Xin cho chúng con cảm nghiệm được sự hiện diện sâu xa của Chúa trong tâm hồn, trong từng hoạt động âm thầm nơi mỗi chúng con. Để chúng con dám sống cho Chúa, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, bằng tâm tình quảng đại cho đi và khiêm tốn lãnh nhận.

Xin tình yêu vị tha tinh tuyền của Chúa thấm đượm lòng Giáo Hội, giúp cho từng Kitô hữu chúng con trở thành chứng nhân về tình yêu hiệp nhất giữa một thế giới khô cằn tình người vì hận thù chiến tranh. Và trên hết xin dạy chúng con luôn quy phục uy danh Chúa để trong mọi sự chúng con biết khiêm tốn trở nên khí cụ tình yêu của Lời Chúa mà tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi hằng hữu. Amen.

Sr. Magdalena Oanh, MTGQN

 

MẦU NHIỆM BA NGÔI
(CN.VIII/TN-C – LỄ CHÚA BA NGÔI) 

Sứ vụ của Ngôi Lời nhập thể chính là đem Thiên Chúa Tình Yêu đến cho con người và đem con người về với Thiên Chúa. Tất cả những giáo lý và mạc khải Thiên Chúa muốn truyền dạy loài người đã được Đức Giê-su thực hiện qua lời giảng dạy và lối sống của Người. Chỉ riêng những lời cáo biệt các môn đệ trước khi bước vào cuộc khổ nạn để cứu chuộc nhân loại (xc cả 4 chương 13, 14, 15, 16 trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an), Đức Giê-su đã nói rất rõ về trọng trách của Người, đồng thời Người còn dạy các môn đệ “hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12), cùng với những tiên báo các môn đệ sẽ phải chịu thế gian ghét bỏ lên án (“Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước” – Ga 15, 18; “Họ sẽ khai trừ anh em khỏi hội đường. Hơn nữa, sẽ đến giờ kẻ nào giết anh em cũng tưởng mình phụng thờ Thiên Chúa. Họ sẽ làm như thế, bởi vì họ không biết Chúa Cha cũng chẳng biết Thầy.” – Ga 16, 2-3). 

Bài Tin Mừng ngày Lễ Chúa Ba Ngôi (Ga 16, 12-15) tiếp tục trinh thuật việc Đức Giê-su nói lời cáo biệt các môn đệ trước khi bước vào cuộc Thương Khó. Ðây là một đoạn có thể coi như một chúc thư gồm những lời thắm thiết nhất, an ủi nhất Người để lại cho họ. Nhưng vì sao khi bắt đầu nói những lời thắm thiết ấy, Đức Giê-su lại nói: ”Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi.” (Ga 16, 12)? Người còn nhiều điều phải nói với môn đệ, vậy “nhiều điều” ấy là gì? Đó phải chăng là tất cả những gì sẽ xảy ra trong cuộc Thương Khó (quân dữ bắt trói, nhạo báng, khạc nhổ, đánh đòn, đóng đinh treo Người trên thập giá cho đến chết)? Ngay đến thời buổi hiện tại, các tín hữu chiêm niệm những biến cố đã thực sự xảy ra đó mà còn kinh sợ, huống hồ là các Tông đồ tiên khởi và vì thế, nên “bây giờ, anh em không có sức chịu nổi.” Cũng vì lý do đó, nên Đức Giê-su chuyển sang loan báo Tin Mừng khi Thần Khí sự thật đến, sẽ giúp các môn đệ thấu hiểu và có đủ dũng khi tiến bước theo Thầy. Chỉ với 3 câu văn ngắn gọn, Đức Giê-su đã cho biết công trình cứu độ nhân loại mà Người thực hiện luôn có sự hợp tác mật thiết của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chính vì thế, nên Phụng vụ Giáo Hội đã trích đoạn Tin Mùng này vào Lễ Chúa Ba Ngôi.

 Mầu nhiệm Ba Ngôi cho biết Thiên Chúa có Ba Ngôi riêng biệt: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, nhưng lại là một Thiên Chúa duy nhất, cùng một bản thể, cùng tự hữu (không bởi đâu sinh ra), cùng hằng hữu, cùng toàn năng (“Đức Chúa là Thiên Chúa phán: "Ta là An-pha và Ô-mê-ga [khởi nguyên và tận cùng], là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng.” – Kh 1, 8), cùng là chân thiện mỹ, cùng là sự sống, cùng là tình yêu. Ba Ngôi riêng biệt mà lại cùng tồn tại, cùng hiện hữu trong một bản thể duy nhất, đó là Mầu Nhiệm khó hiểu nhất, vượt khỏi trí khôn loài người. Con người với sự bất toàn cố hữu thì quả thực là khó mà hiểu được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Khó nhưng không phải là không hiểu được nếu biết cầu nguyện cậy nhờ Thần Khí soi sáng và dạy dỗ.

 Hiến chế “Tín Lý về  Mạc Khải – Dei Verbum” (số 6) đã giải thích rõ ràng: “Thiên Chúa đã muốn dùng mạc khải để bày tỏ và thông ban chính mình Ngài cùng những ý định muôn đời của Ngài liên quan đến phần rỗi nhân loại, “nghĩa là cho họ được tham dự vào các ân thiêng hoàn toàn vượt khỏi trí khôn loài người”. Chính nhờ Thiên Chúa mạc khải mà “tất cả những gì thuộc về Thiên Chúa tự nó vốn không vượt quá khả năng lý trí con người, trong hoàn cảnh hiện tại của nhân loại, đều có thể biết được cách dễ dàng, chắc chắn mà không lẫn lộn sai lầm”. Người Ki-tô hữu tuy không dám nói “biết được cách dễ dàng”, nhưng nếu chuyên chăm cầu nguyện và chiêm niệm những điều “mắt thấy tai nghe” qua những dấu chỉ mạc khải, thì vẫn có thể hiểu được “mầu nhiệm khó hiểu” đó.

 Trước hết, loài người – thông qua các thánh Tông đồ và dân tộc Ít-ra-en cách đây 2000 năm – đã được thực mục sở thị (trông thấy nhãn tiền), được gặp gỡ trò chuyện, ăn cùng mâm, ngồi chung chỗ với một trong Ba Ngôi là Ngôi Hai Thiên Chúa, một con người bằng xương bằng thịt với bản tính người-rất-người, người 100% (không kể bản tính Thiên Chúa). Chính Con Người ấy trong mọi sinh hoạt trên đời này đều luôn minh chứng cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều tồn tại trong Người: Khi chịu Phép Rửa tại sông Gio-đan (“và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” – Luca 3, 22); khi ăn uống thì dâng lời chúc tụng Cha trên trời; cả những khi cầu nguyện (“Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha”(Ga 12, 28)…

 Đặc biệt hơn cả là khi dạy dỗ, trò chuyện, giao tiếp với các môn đệ, với mọi người, Ngôi Hai Thiên Chúa đã chứng tỏ Ngôi Cha và Ngôi Ba luôn tồn tại trong Người: “Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." (Ga 20, 21-23) ; “Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao ?" (Luca 11, 13); “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14, 9); "Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em."(Mt 28, 18-20)…

 Nhiều lắm những dẫn chứng rất sinh động và thật cụ thể do chính các Thánh sử, các Thánh Tông đồ (là những con người “sống liền bên, ăn cùng mâm, ngồi chung chỗ, cùng trò chuyện, được dạy bảo” bởi chính Ngôi Hai Thiên Chúa), đã ghi lại trong Thánh Kinh lưu truyền cho hậu thế. Rõ ràng là cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều cùng tồn tại trong Ngôi Hai, một con người như tất cả những con người hiện diện trên trái đất này cách đây 2000 năm. Từ đó suy ra trong Ngôi Cha cũng có Ngôi Hai và Ngôi Ba, trong Ngôi Ba cũng tồn tại Ngôi Cha và Ngôi Con. Cả 3 Ngôi đều có ở trong nhau, tồn tại trong nhau, vì thế Ba Ngôi vẫn chỉ là một Thiên Chúa duy nhất. Nói 3 Ngôi ở trong nhau như một thân thể duy nhất, phải chăng là nói đến sự thông hiệp giữa Thiên Chúa Ba Ngôi, và từ cội nguồn mầu nhiệm đó, dòng suối hiệp thông tuôn tràn trên Giáo Hội phổ quát?

 Quả đúng như Tông huấn “Ki-tô hữu giáo dân” (số 18) đã khẳng định: “Sự thông hiệp này, chính là mầu nhiệm của Giáo Hội như Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã dùng những lời của Thánh Cy-pn-a-nô để nhắc lại: "Giáo Hội phố quát xuất hiện như một dân tộc được hợp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánk Thần". Mầu nhiệm Giáo Hội hiệp thông này được nhắc nhở ở mỗi đầu Thánh Lễ khi vị chủ tế đón mời chúng ta bằng lời chào của Thánh Phao-lô Tông Đồ: ‘Nguyện xin ân sủng Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha và ơn Thông Hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em’ (2Cr. 13, 13)”. Và chính sự sống hiệp thông của Giáo Hội đã trở nên như một dấu chỉ về Ba Ngôi Thiên Chúa cho thế giới, đồng thời là một hấp lực thu hút mọi người tới niềm tin vào Chúa Giê-su Ki-tô qua Lời Người cầu nguỵên cùng Ngôi Cha: "Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta.” (Ga 17, 20-21).

 Dấu chỉ ấy, sự thu hút ấy chính là công cuộc truyền giáo, là sứ vụ loan báo Tin Mừng, như lời khẳng định của Chân phước Gio-an Phao-lô II: “Như thế sự hiệp thông hướng về truyền giáo và chính sự hiệp thông là truyền giáo” (TH/KTHGD, số 18). Người Ki-tô hữu khi được tham dự vào 3 chức vụ của Đức Giê-su (ngôn sứ, tư tế, vương giả) là đã được ân thưởng sống trong mầu nhiệm hiệp thông Ba Ngôi Thiên Chúa. Vậy thì trách nhiệm của mọi người, của mỗi người, tất yếu phải là thực thi Lời dạy của Ngôi Hai Thiên Chúa: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28, 19).

 Xin cầu chúc tất cả được luôn luôn và mãi mãi sống trong ơn thông hiệp mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm Giáo Hội hiệp thông, để tất cả nên một trong sứ vụ truyền giáo, như chính Ngôi Lời đã truyền dạy: "Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất." (Cv 1, 7-8).

 Ôi! “Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, Chúa đã sai Con Một là Lời chân lý và sai Thánh Thần, Ðấng thánh hoá muôn loài đến trần gian mạc khải cho chúng con biết mầu nhiệm cao vời của Chúa. Xin cho chúng con hằng tuyên xưng đức tin chân thật là nhận biết và tôn thờ một Thiên Chúa Ba Ngôi uy quyền vinh hiển. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Con Cha, Chúa chúng con, Người hằng sống và hiển trị cùng Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thủa muôn đời. Amen.” (Lời nguỵên nhập lễ lễ Chúa Ba Ngôi).

 JM. Lam Thy ĐVD.

Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần
(Chúa Nhật Chúa Ba Ngôi)

 Trong đời sống đức tin của chúng ta, Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm căn bản, trọng tâm của các mầu nhiệm khác. Nói cách khác, đây chính là mầu nhiệm mẹ của các mầu nhiệm. Đã là mầu nhiệm, với sự hiểu biết của con người, chúng ta không thể biết nếu không được mặc khải. Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi - Nhất Thể mà lại Tam Vị quả thật là một mầu nhiệm vượt lên trên trí hiểu của con người. Chúng ta chỉ có thể biết được phần nào qua sự mặc khải của chính Đức Giêsu, Đấng từ trời xuống, và cũng là một trong Ba Ngôi Vị đó. 

 1- Đức Giêsu là Ngôi Lời của Thiên Chúa

 Đức Giêsu là “Logos - Lời” của Thiên Chúa Cha. Lời quyền năng của Đức Giêsu đến từ Thiên Chúa đã được tỏ hiện nơi các mặc khải của Đức Giêsu qua việc cho người mù được sáng mắt; kẻ què được đi; người phong hủi được sạch; và người điếc được nghe cùng kẻ chết sống lại; người nghèo khó được nghe loan báo Tin Mừng (x. Mt 11,4-5; Lc 7,22). Đức Giêsu cũng được ví như hạt giống; cửa sự sống; cây nho; là cử đàn chiên... (x. Mt 7,13-14; Ga 12,24; Ga 10,7-9; 14,6; Ga 15,1-2; Ga 10,11; Lc 15,4-7).

 Như vậy, Đức Giêsu chính là “Lời” của Thiên Chúa, đến từ Thiên Chúa. Hiện hữu giữa trần gian là để mặc khải về Nước Thiên Chúa, về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, hầu đưa nhân loại về với Cha trong ý định ban đầu của Người. Nhưng trước hết, không những chỉ biểu lộ chính mình, Đức Giêsu còn biểu lộ Chúa Cha là Đấng Đồng Nhất với Ngài. 

  1. Đức Giêsu mặc khải về Chúa Cha 

Mặc khải đầu tiên được khởi đi qua biến cố Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan. Sau khi Đức Giêsu chịu phép rửa bởi Gioan xong, các tầng trời mở ra và có Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Ngài như chim bồ câu, đồng thời có tiếng Chúa Cha tuyên phán: “Con là Con Ta yêu dấu.” (Mt 1,11).  

Tiếp theo, Thiên Chúa Cha được mặc khải như là tình Phụ Tử trong sứ điệp của Đức Giêsu: trong các sách Tin Mừng, Thiên Chúa được gọi là Cha trên 170 lần. Điều mới mẻ nơi Đức Giêsu là không những Ngài đã giảng về lòng từ phụ của Thiên Chúa, nhưng Ngài còn gọi Thiên Chúa bằng tiếng “Abba” trong lời kinh của Ngài. Tiếng “Abba” thì chỉ một mình Marcô ghi lại (x. Mc 14,36), nhưng cách gọi Thiên Chúa là Cha thì rất nhiều: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha... vì Cha đã mặc khải cho những người bé mọn.”(Mt 11,25). Hay: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha.” (Lc 23,46; x. Ga 17,1.5.11.21.25). Đức Giêsu thường xuyên gọi Thiên Chúa như thế. Sự kiện ấy nói lên tương quan đặc biệt giữa Đức Giêsu với Thiên Chúa, một kinh nghiệm thân ái độc nhất vô nhị mà Đức Giêsu nhận được trong lời kinh của Ngài. Giữa Ngài và Thiên Chúa có một tương quan đặc biệt đến nỗi “không ai biết được Con trừ phi có Cha, và cũng không ai biết được Cha trừ phi có Con và kẻ được Con mặc khải ra cho” (Mt 11,27). Mạc khải về Chúa Cha còn phát xuất từ kinh nghiệm, lời rao giảng của Đức Giêsu về Nước Thiên Chúa. Đức Giêsu gọi Thiên Chúa là Cha: “Lạy Cha là Chúa trời đất” (Mt 11,25), nghĩa là của toàn vũ trụ. Đức Giêsu cũng đã dạy các môn đệ đọc lời kinh “Lạy Cha” (x. Mt 6,9-13; Lc 11,2-4). Chính tương quan độc đáo ấy đã giúp cho các Tông đồ sau biến cố phục sinh nhận ra Đức Giêsu là Con Một của Thiên Chúa. 

Ngoài ra, chúng ta có thể hiểu được mặc khải về Chúa Cha qua hình ảnh của một vị Thiên Chúa đầy lòng nhân từ (x. Mt 5,45; x. Lc 6,35); là Đấng giàu lòng thương xót (x. Lc 15,7); là Đấng Quan Phòng (x. Mt 6,27). Người theo dõi đến cả số phận những con vật nhỏ bé phải “rơi xuống đất” (x. Mt 6,29).  

Kế đến, chúng ta sẽ được biết về Chúa Thánh Thần qua mặc khải của Ngài. 

  1. Đức Giêsu mặc khải về Chúa Thánh Thần 

Khởi đầu Mầu nhiệm Nhập Thể, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên Đức Maria (x. Lc 1,35). Tiếp theo sau là vai trò của Chúa Thánh Thần trên cuộc đời của Chúa Giêsu: Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Đức Giêsu khi Ngài chịu phép rửa dưới hình chim bồ câu (x. Lc 3,22). Chúa Thánh Thần đã dẫn Đức Giêsu “vào hoang địa bốn mươi ngày” (x. Lc 4,1-2). Rồi chính Đức Giêsu đã nói về sự hiện diện của Thánh Thần trong cuộc đời và sứ mạng của Ngài: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó…”. Khi trừ Quỷ, Đức Giêsu đã khẳng định quyền năng của Ngài khi nói: “Còn nếu tôi dựa vào Thần Khí của Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông.” (Mt 12,28). Đức Giêsu đã đề cao vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc từ chối hay đón nhận: “Mọi tội, kể cả tội nói phạm thượng, cũng sẽ được tha cho loài người, chứ tội nói phạm đến Thần Khí sẽ chẳng được tha. Ai nói phạm đến Con Người thì được tha; nhưng ai nói phạm đến Thần Khí sẽ chẳng được tha, cả đời này lẫn đời sau.” (Mt 12,31-32). Hay nói về Chúa Thánh Thần như một món quà cao quý mà Thiên Chúa trao ban cho con người: “Vậy nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha trên trời, Người sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người?” (Lc 11,11-13). Và khi nói đến sự liên kết giữa việc yêu mến và giữ lời, Đức Giêsu hứa ban Chúa Thánh Thần: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Ðó là Thần Khí sự thật.” (Ga 14,15-17). Biết mình sắp từ giã các Tông đồ, Ngài đã mặc khải cho các ông biết về vai trò và sứ mạng của Chúa Thánh Thần: “Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật xuất phát từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy.” (Ga 15,26-27; x. 16,13). Khi bị treo trên Thập giá, trước lúc tắt thở, Ngài đã thốt lên: “Thế là đã hoàn tất!”. Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí (x. Ga 19,29-30). Sau khi phục sinh, Đức Giêsu đã trao bình an và sứ vụ rao giảng Tin Mừng cho các Tông đồ, đồng thời cũng ban quyền tha tội cho các ông:“Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.”. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” (Ga 20,22-23). 

Tắt một lời, nhờ Đức Giêsu mặc khải, chúng ta biết được Thiên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Thật vậy,“Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mặc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Ngài (x. Ep 1,9). Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính Thiên Chúa (x. Ep 2,18; 2 Pr 1,4). Nhờ mặc khải này, chân lý thâm sâu về Thiên Chúa cũng như phần rỗi của con người được sáng tỏ nơi Chúa Kitô, Đấng Trung Gian, đồng thời là sự viên mãn của toàn mạc khải.” (x. Dei Verbum, số 1, 2). 

  1. Sống tinh thần mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi  

Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi trong tương quan cá nhân  

Ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta được trở nên thụ tạo mới, được mang danh là người Kitô hữu, được trở nên hình ảnh sống động của Đức Kitô. Nói theo ngôn ngữ của Thánh Tôma Aquinô thì, nhờ Bí tích, chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô; được trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần; chúng ta được Thiên Chúa yêu thương: “Ta sẽ cư ngụ và đi lại giữa họ, sẽ là Thiên Chúa của họ và họ sẽ là dân riêng của Ta.” (2 Cr 6,15). 

Vì vậy, qua Bí tích Rửa Tội, chúng ta được rửa tội nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Kể từ đây, trong ta có Chúa và trong Chúa có ta. Sống khiêm tốn, thánh thiện là điều kiện để xứng đáng trở nên đền thờ của Thiên Chúa ngự. Đồng thời chúng ta hãy sống thân tình với Chúa như Cha với con. Hãy học lấy tâm tình của Đức Giêsu khi Ngài thưa chuyện với Cha Ngài. Bởi vì Thiên Chúa ở trong cung lòng của ta, Người sẵn sàng nghe lời ta nói.  

Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi trong tương quan gia đình 

Đã nói đến gia đình là nói đến sự hiệp nhất. Nếu không hiệp nhất thì không thể nào đón nhận nhau trong cùng một ngôi nhà, cùng một mâm cơm... Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi phải được coi như là mẫu mực tuyệt đối của sự yêu thương và hiệp nhất: Chúa Cha và Chúa Con nên một nhờ Thần Khí (x. Ga,15.26). Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu đã làm toát lên điều đó: “Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như Chúng Ta.” (Ga 17,11). 

Trong đời sống gia đình, mỗi thành viên hãy biết yêu thương nhau. Luôn biết hướng tha để đùm bọc nhau. Hạnh phúc của người khác là điều chúng ta cần quan tâm hơn. Hãy noi theo hành động xuất ngoại của Thiên Chúa khi ngôi này vì ngôi kia và ngược lại nhưng vẫn chỉ là một Chúa duy nhất. Được như thế, thì dù gia đình chúng ta có đông người nhưng cũng chỉ là một. Tuy nhiên duy nhất, nhưng vẫn phải trung thành với những bổn phận riêng biệt của mình trong vai trò là chồng, là vợ, là con cái… Mỗi người phải sống đúng với địa vị và vai trò của mình. Vợ chồng biết tôn trọng lẫn nhau. Cha mẹ sống đúng với vai trò của cha mẹ, luôn làm gương sáng cho con cái bằng chính đời sống tiết độ, công chính của mình. Con cái phải biết vâng phục cha mẹ trong tâm tình yêu mến và thảo hiếu, như Đức Giêsu luôn vâng phục Chúa Cha (x. Ga 4,34; Dt 5,8-9). 

Như vậy, mỗi khi mừng lễ Chúa Ba Ngôi, là mỗi lần chúng ta xác tín vào Chúa Ba Ngôi. Một Thiên Chúa luôn yêu thương, tha thứ và quan phòng. Một Thiên Chúa luôn làm chủ vũ trụ và con người trong vai trò thánh hoá và biến đổi. Đồng thời, mỗi khi mừng lễ, chúng ta hãy xin Chúa cho mỗi chúng ta thêm lòng yêu mến Chúa và sống yêu thương nhau nhiều hơn. Mặt khác, chúng ta hãy hãnh diện tuyên xưng về sự hiện diện của Chúa Ba Ngôi trong đời sống hằng ngày qua việc thành kính tuyên xưng Chúa Ba Ngôi mỗi khi làm dấu Thánh giá. 

Lạy Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần, xin ban thêm đức tin cho chúng con, để chúng con tin Chúa, phó thác, yêu mến Chúa. Xin cũng cho chúng con biết yêu thương nhau và sống đúng vai trò của mình trong cuộc sống hằng ngày theo khuôn mẫu Thiên Chúa Ba Ngôi. Amen.  

Jos.Vinc. Ngọc Biển

 

Chúa Ba Ngôi: liên hệ tình yêu

Chúa Nhật lễ Chúa Ba Ngôi - May 26, 2013

Người Công Giáo có thói quen làm dấu thánh giá để nhắc nhở về Một Chúa Ba Ngôi Vị, như câu xướng trước Phúc âm tuần nầy: “Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh Thần.” Chúng ta tuyên xưng Tín điều Chúa Ba Ngôi trong Kinh Tin Kính mỗi thánh lễ Chúa nhật. Đây là sự thật Chúa Kitô đã mặc khải cho nhân loại trong thời gian rao giảng công khai của Ngài. 

Bài Đọc I trích những tư tưởng khôn ngoan trong sách Châm Ngôn. Sách Châm Ngôn được coi là sách dễ hiểu nhất của bộ Kinh Thánh vì nội dung chứa đựng các tư tưởng rất gần với đời sống nhân gian. Văn hóa Việt-nam ta từ đầu tiên được kết tụ bởi những câu Ca Dao Tục Ngữ truyền miệng. Văn hóa dân tộc Do Thái cũng được thành hình với sự tổng hợp những câu nói lưu truyền trong nhân gian rồi được chép lại trong sách Châm Ngôn, trong đó sự khôn ngoan chính là điều cần thiết để con người nhận ra sự quan phòng của Thiên Chúa đối với họ. Tư tưởng khôn ngoan cũng chính là tư tưởng khai phá mở đầu để người Do Thái hiểu được ý định của Thiên Chúa Ba Ngôi được mặc khải sau nầy qua Chúa Thánh Thần.   

Bài Đáp Ca từ Thánh Vịnh số 8 là một bài thơ rất hay, tán tụng sự oai phong của mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, và phẩm giá con người qua việc tạo thành vũ trụ. Tác giả nói rằng Thiên Chúa chỉ cần phán bằng miệng tức khắc tạo ra hàng triệu, hàng tỉ ngôi sao đặt nằm trong hàng tỉ giải ngân hà bao bọc không trung, vũ trụ. Nhưng khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã dùng cả hai tay ôm ấp, nhào nặn, và sau đó thổi Thánh thần Ngài vào trong con người. Nói cách khác, Thiên Chúa ở trong mỗi linh hồn chúng ta. Con người khác loài vật là ở chỗ đó. Chúng ta được dựng nên giống như hình ảnh của Thiên Chúa. Cảm động vì tình thương Thiên Chúa, người viết Thánh vịnh đã phải thốt lên: “Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến; Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm?” 

Cùng một ý tưởng, Thánh Phaolô trong Bài Đọc II diễn tả rõ ràng sự cao trọng của con người, và trong Đức tin, con người được an bình trong Chúa Cứu Thế nhờ sự phục sinh của Ngài. “An bình” (Shalom) đây không có nghĩa là không có chiến tranh, hay hết đau khổ trên đời nầy nhưng an bình là một ân sủng để con người sống hài hòa (living in harmony) với nhau: “như chiên nằm bên cạnh sói rừng, sư tử bên cạnh dê…” (Tiên tri Isaiah). Và dù có bị đau khổ, nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta vẫn hân hoan vì có Chúa Ba Ngôi ở với, và Ngài cùng chia sẻ sự đau khổ với chúng ta. 

Tin Mừng hôm nay Thánh Gioan giải thích mối liên hệ tình yêu giữa Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa không phải chỉ là một ngôi vị đơn độc. Chúa Thánh Thần có nhiệm vụ mặc khải (giải thích) sự thật cho nhân loại sau khi Chúa Giêsu về trời. Ngài mặc khải những điều nầy, điều nọ cũng chính bởi vâng phục thánh ý Chúa Cha, Đầng tạo thành vũ trụ, như trước đây Chúa Con đã vâng lệnh Chúa Cha để xuống thế cứu chuộc thiên hạ.  

 Là Kitô hữu, khi tin Tín Điều Thiên Chúa Ba Ngôi có lợi ích gì trong đời sống chúng ta? Thưa có, bởi vì khi đi tìm sự liên hệ giữa Thiên Chúa Ba Ngôi, là đi tìm sự liên hệ tình cảm trong cuộc sống trần gian của mỗi cá nhân chúng ta. Thánh Gioan Tông đồ viết: “Thiên Chúa là Tình Yêu!” (1 Jn. 4:8) Mà tình yêu bao giờ cũng đòi buộc một sự liên hệ. Không có liên hệ, không có tình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi cho chúng ta tham dự vào những liên hệ tình yêu trong đời sống. Hãy lấy một thí dụ. Tình yêu giữa cha với mẹ, giữa cha mẹ với con cái là hình bóng của tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi. Tình yêu của người cha gửi sang tình yêu của người mẹ. Tình yêu của hai cha mẹ trở thành tình yêu “chúng mình” khi họ hiến thân cho nhau. Tình yêu “chúng mình” nầy tạo nên tình yêu cho người con. Ba ngôi vị Vợ-Chồng-Con đó làm nên một tình yêu đặc biệt gọi là tình yêu hôn nhân gia đình. Xã hội ngày nay cho phép đồng tính kết hôn là sai trái bởi vì hai người cùng phái không thể nào tạo nên hoa trái là con cái như ý định Chúa khi tạo dựng con người; Một thí dụ khác, Giáo xứ bao gồm liên hệ giữa các thành viên gia đình, giáo khu, đoàn thể lại với nhau. Nếu không có liên hệ tình yêu, mạnh ai nấy sống sẽ không có giáo xứ. Không có cộng đoàn, giáo xứ sẽ không có Giáo hội như ý Chúa Kitô khi Ngài thiết lập. 

Tình yêu không có liên hệ là tình yêu không có đất sống. Khi mỗi người là một ngôi vị độc nhất thì sẽ không có tình yêu. Yêu là sống cho người khác. Thay đổi thái độ thờ ơ lãnh đạm thành thái độ cảm thông chân tình tức là đổi mới con tim trong liên hệ yêu thương giữa người với người, Thiên đàng sẽ thành hình. Tắt một lời, những ngôi vị rời rạc trong giáo xứ nếu không sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi sẽ không được phục sinh với Chúa Kitô. 

 Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen 

PT Phêrô Đặng Phi Hùng

 

THIÊN CHÚA TAM VỊ-NHẤT THỂ 

Mỗi lần đọc kinh, hay đi tham dự thánh lễ, mỗi người Kitô hữu đều biết làm dấu Thánh Giá trên mình: “Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần, Amen”. Cách tuyên xưng Mầu nhiệm Ba Ngôi rất đơn giản và rất hiện sinh trong đời sống bình thường khi thờ phượng một Chúa: Cha-Con-Thánh Thần, mà chúng ta đã thể hiện. 

Sách Giáo lý công giáo dạy rằng: “Người Kitô hữu được rửa tội” nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Trước khi lãnh nhận Bí tích, họ phải trả lời ba lần “Tôi tin” để đáp lại những câu thẩm vấn về đức tin vào Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Đức tin của mọi Kitô hữu đều dựa trên mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi (số 232). Trong dòng chảy của lịch sử cứu độ, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi chỉ được tỏ tường trong những lời dạy của Đức Kitô: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Chúa Giêsu luôn khẳng định Ngài làm theo ý của Cha, và Ngài với Cha là một. Cuộc vượt qua của Chúa Giêsu không phải là một dấu kết của một bản nhạc mà là khởi đầu của một sáng tác mới trong Thần Khí của sự thật: “Thầy sẽ xin cùng Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” (Ga 14, 16). Rõ ràng Chúa Giêsu là một Mạc khải trọn vẹn về một Thiên Chúa duy nhất-Ba Ngôi. Chúa Cha là tình yêu, mà tình yêu thì phải có đốii tượng để trao ban, đối tượng đó chính là Chúa Giêsu. Tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con là một tình yêu trao dâng và hướng về. Tình yêu ấy đạt trọn vẹn dưới tác động của Thần Khí, hay tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con nhiệm sinh Chúa Thánh Thần. Bức Icône “Ba Ngôi” của Rubliov đạt tới mức kỳ diệu của ảnh đạo, khi ông diễn tả một khía cạnh thâm sâu của Mầu Nhiệm Ba Ngôi: Ba Ngôi hòan tòan hướng về nhau. Như thế Thiên Chúa không cô độc trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi. Từ tình yêu giữa các Ngôi vị, mà Thiên Chúa đã tác thành con người để chia sẻ tình yêu cho chúng ta. Ba Ngôi vị hướng về nhau trọn vẹn, kết hợp với nhau và là Một với nhau. Ba Ngôi vị có cùng Bản Thể với nhau nhưng không phải là một Bản Thể đóng kín, một Bản Thể cá vị, mà là một Bản Thể mở rộng. Nhờ thế mà con người được đưa vào trong chính cung lòng của  Ba Ngôi Huyền Nhiệm. 

Tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi không là một trạng thái Tĩnh, nhưng luôn ở dạng Động. Tham dự vào đời sống Ba Ngôi, đó là nền tảng của sự hiệp thông trọn vẹn vào đời sống của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Mỗi lần cử hành mầu nhiệm vượt qua, chúng ta tiến tới cuộc khổ nạn và Phục sinh vinh hiển nhờ Đức Kitô, trong Chúa Thánh Thần, tiến tới Chúa Cha (per Christum in Spiritu Sancto ad Patrem). 

Lm Giacôbê Tạ Chúc

 

THIÊN CHÚA LÀ CHA  

Tháng năm có ngày của Mẹ, tháng sáu có ngày của Cha. Cha Mẹ sinh con ra, qua bao tháng năm nhọc nhằn nuôi con khôn lớn. Ôi tình cha nghĩa mẹ bao là thiết tha. Người công giáo gọi Thiên Chúa là Cha, nhưng trong bóng dáng của người cha đó, vẫn đong đầy tình mẹ chứa chan. Thiên Chúa là Phụ tử và Ngài cũng là Mẫu tử. Lễ Chúa Ba Ngôi diễn tả một cách tròn đầy một Thiên Chúa duy nhất nhưng phong phú trong đa dạng: Ngài là Cha-Con-Thánh Thần. Nơi Ngài vừa là tình yêu của một người Cha, nhưng không hề thiếu vắng tấm lòng bao la của một người Mẹ. 

Như ánh mặt trời cùng lúc cho vạn vật ánh sáng, sức nóng dù nó cách chúng ta đến 150 triệu cây số. Thiên Chúa Ba Ngôi hoạt động và mang lại ân sủng cho con người. Chúa Cha tác thành vạn vật, Ngài sai Người Con nhập thể để cứu vạn chúng sinh. Chúa Thánh Thần được Chúa Giê-su sai đến để soi sáng và thánh hóa con người. Thật vậy, từ đầu lịch sử của công trình sáng tạo, Ba Ngôi Thiên Chúa đã cùng hoạt động, với nhau, cho nhau và vì nhau. Mặc dù trong cựu ước, chưa có một sự quả quyết rõ ràng về Thiên Chúa Ba Ngôi, bởi lẽ, não trạng của dân Do Thái là niềm tin độc thần. Hãy tưởng tượng người nhạc sỹ sáng tác một bản nhạc, anh ta viết ở cung đô trưởng, muốn đánh hợp âm đô trưởng cùng một lúc người ta phải kết hợp một loạt ba note: đô-mi-sol. Ba note tạo thành một hợp âm đô trưởng, khi hát lên bản nhạc nghe du dương vô cùng. Niềm tin vào Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi do chính Đức Giê-su truyền dạy. Giáo Hội qua rất nhiều công đồng đã khẳng định một cách xác tín về điều này.  Các Công Đồng quan trọng nhất đã định tín về chân lý này là công đồng Ni-xê-a năm 325, Công Đồng Constantinopoli năm 381, công đồng Latran IV năm 1215, công đồng Lion II năm 1274, công đồng Floren năm 1439. Dùng lý lẽ hạn hẹp của mình để đào sâu chân lý về Thiên Chúa là điều khó khả thi, nhất là những ai có ý định đem khoa học để giải thích sự hiện diện của Thiên Chúa thì quả là một điều khó hơn “ mò kim đáy biển”. Cũng giống như một người muốn ôm hết biển cả vào lòng, nhưng khi nhảy vào đại dương và bơi vào trong biển khơi thì ngày càng mịt mù ngăn cách. Chỉ trong niềm tin và tình yêu, chúng ta mới có thể thấy Thiên Chúa không đơn độc, ở Ngài tình yêu làm phát sinh muôn điều thiện hảo, và điều thiện hảo lớn lao quá đỗi là khi Thiên Chúa đã ban chính con một mình cho chúng ta. Tình yêu có Ngôi vị của Ngài là nguồn cảm hứng dạt dào để Thiên Chúa như một họa sỹ tài ba, đã vẽ nên một bức tranh tuyệt vời là vũ trụ và con người, nó không ở thể tĩnh mà luôn động. Một khi đặt con người vào trong vũ trụ, Thiên Chúa muốn bộc bạch cho con người thấy, nơi Ngài, tình yêu chính là điểm phát xuất Mầu Nhiệm Ba Ngôi. 

Tuyên xưng đức tin vào Chúa Ba Ngôi là nét đẹp của hiệp nhất trong những khác biệt. Mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai. Nhìn mầu nhiệm Ba Ngôi từ góc cạnh của đức mến, tức là nhìn từ lăng kính của tình yêu. Người tín hữu không biết đến yêu thương thì cũng hoàn toàn xa lạ với Thiên Chúa. Vì “Ai không yêu thì không biết Thiên Chúa". Chỉ những ai dám sống và dám chết cho tình yêu, mới được ở lại trong Thiên Chúa. Chỉ những ai dám tự hiến và trao ban cho anh em mới là những chứng nhân của một Thiên Chúa Tình Yêu. 

Lm Giacobe Ta Chúc

N

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)