Kinh Truyền Tin với ĐTC Phanxicô

 

Chúa Nhật hiển linh 2019

Đức Thánh Cha: Lễ Hiển Linh mở ra cho chúng ta sự mới mẻ của Chúa Giêsu

Trong buổi đọc kinh Truyền Tin vào ngày Chúa Nhật lễ Hiển Linh, Đức Thánh Cha thúc giục chúng ta mở ra với Chúa Giê-su như các nhà chiêm tinh, chứ đừng sợ mất địa vị và quyền lực như Herode.

Văn Yên, SJ - Vatican

Hôm nay lễ Chúa Hiển Linh, ánh sáng là biểu tượng của Ngài. Nơi bài đọc trong sách ngôn sứ, ánh sáng này là lời hứa. Isaia đã hướng về Giêrusalem và nói: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏ trên ngươi.” (60,1). Lời mời này của ngôn sứ hôm nay nói lại với chúng ta qua việc mừng Giáng Sinh của Chúa Giêsu và khích lệ chúng ta đến ánh sáng ở Bêlem.

Ánh sáng mà Isaia tiên báo, trong Tin Mừng, đó là sự hiện diện và gặp gỡ. Đức Giêsu, sinh ra ở Nagiaret, trong thành Vua Đavit, đã mang đến ơn cứu độ cho tất cả, những người ở gần cũng như ở xa. Thánh sử Maccô đã cho thấy nhiều cách thức phản ứng khác nhau trước sự kiện này. Hêrôđê và các kinh sư ở Giêrusalem thì cứng lòng, và từ chối viếng thăm Hài Nhi, một cử chỉ đóng lại với ánh sáng. Có thể chúng ta cũng vậy, đóng con tim với anh chị em đang cần giúp đỡ. Ngược lại, các nhà Đạo sĩ, đại diện cho những người ở xa, đã để cho ngôi sao dẫn đường, đã đi quãng đường dài và nguy hiểm để biết sự thật về Đấng Mêsia. Và sau khi gặp Ngài, họ đã chọn lối khác để về. Mỗi lần một người gặp được Giêsu, thì sẽ đổi con đường, trở về cuộc sống với một cách thức khác. Và họ mang theo trên mình mầu nhiệm của vị Vua khiêm nhường và nghèo khó.

Chúng ta cũng vậy, cần chút thinh lặng trong tâm hồn để được ánh sáng của Chúa Giêsu chiếu giải. Đừng để con tim chúng ta đóng lại, nhưng can đảm mở ra cho ánh sáng này, chỉ đơn sơ và bé nhỏ.

Sau khi buổi đọc Kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha nhắc đến những ngày gần đây, 49 người được cứu trên hai con tàu của tổ chức phi chính phủ. Đức Thánh Cha kêu gọi các nhà lãnh đạo Châu Âu thể hiện sự liên đới cụ thể với những anh chị em này.

Kế đến, một số Giáo hội Đông phương, Công giáo cũng như Chính thống giáo, sử dụng niên lịch Giuliano, sẽ cử hành lễ Giáng Sinh vào ngày mai (tức thứ 2, 7/1). Đức Thánh Cha gởi lời chúc mừng trong tình hiệp thông huynh đệ Kitô hữu.

Lễ Hiển Linh cũng là Ngày Truyền Giáo của Thiếu Niên, năm nay mời các nhà truyền giáo rất trẻ trở thành “những vận động viên của Chúa Giêsu”, để làm chứng cho Tin Mừng trong gia đình, nơi trường học và cả những nơi giải trí.

Cuối cùng, Đức Thánh Cha chào thăm những khách hành hương, đặc biệt đoàn diễu hành truyền thống đến quảng trường thánh Phêrô.

 

Đức Thánh Cha dâng lễ Chúa Hiển Linh: Ánh Sáng Dịu Dàng của Thiên Chúa toả sáng trong tình yêu khiêm nhường

Trong bài giảng Thánh lễ trọng thể kính Chúa Hiển Linh, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi chúng ta bắt chước các nhà chiêm tinh bằng việc nhận ra ánh sáng dịu dàng của Thiên Chúa và việc quảng đại giúp đỡ những người đau khổ.

 

văn Yên, sj - Vatican

Sáng Chúa Nhật Lễ Chúa Hiển Linh, lúc 10h, Đức Thánh Cha dâng Thánh Lễ trọng thể tại đền thờ thánh Phêrô cùng với nhiều hồng ý, giám mục và các tín hữu tham dự.

Trong bài giảng lễ, bắt đầu từ việc giải nghĩa từ “hiển linh” - Chúa tỏ mình ra, Đức Thánh Cha nhắc đến Chúa tỏ mình ra cho tất cả mọi dân tộc, ba nhà Đạo sĩ là những người đại diện. Ngài tỏ thực tại tuyệt đẹp của Thiên Chúa, đến với tất cả mọi nước, mọi dân tộc và ngôn ngữ đều được Ngài đón nhận và yêu mến. Biểu tượng cho điều này là ánh sáng, vươn đến và chiếu soi tất cả.

Hôm nay, nếu Thiên Chúa chúng ta tỏ mình ra cho tất cả mọi người, thì ngài cũng sẽ tiếp tục làm ngạc nhiên về cách Ngài tỏ mình ra. Tin Mừng kể về những xôn xao trong cung điện vua Hêrôđê, trong khi Chúa Giê-su lại tỏ mình ra như một vị vua: “Đức Vua dân Dothái mới sinh, hiện ở đâu?” (Mt 2,2), Ba vị Đạo sĩ hỏi. Họ sẽ tìm thấy Ngài, nhưng không phải là nơi họ đã nghĩ: không phải trong điện ngà Giêrusalem, nhưng trong ngôi nhà đơn sơ ở Bêlem. Có một sự nghịch lý trong lễ Giáng Sinh khi Tin Mừng nói về kiểm tra dân số trên khắp cả thiên hạ thời hoàng đế Augustô và tổng trấn Quirinio (x. Lc 2,2). Nhưng không một nhà cầm quyền nào để ý rằng Đức Vua của lịch sử đã sinh ra trong thời của họ. Và rồi, khi Chúa Giêsu được 30 tuổi, Ngài lại tỏ mình công khai, Gioan Tẩy Giả đã đi trước, Tin Mừng đã giới thiệu Ngài một lần nữa trọng thể, và liệt kê tất cả mọi “cấp bậc” quyền lực cả đời lẫn đạo: Tiberio Cesare, Phongxio Pilato, Hêrôđê, Philippo, Lisania, thượng tế Anna và Caipha. Và ngài kết luận: “Lời Thiên Chúa phán với Gioan trong hoang địa” (Lc 3,2). Như thế, Lời Chúa không đến với bất cứ cấp bậc nào, nhưng đến với một người ẩn mình trong sa mạc. Quả là ngạc nhiên: Thiên Chúa không lên sân khấu của thế giới này để tỏ mình ra.

Khi nghe danh sách những người nổi tiếng, người ta có thể dễ dàng có khuynh hướng “quay ánh đèn” về phía họ. Chúng ta có thể nghĩ rằng: Có lẽ sẽ hay hơn nếu ngôi sao của Đức Giê-su hiện ra ở Roma trên ngọn đồi Palatino, nơi hoàng đế Augusto đã ngự triều cai quản thế giới; khi ấy toàn đế quốc lập tức trở thành Kitô giáo. Hay nếu ngôi sao chiếu trên cung điện vua Hêrôđê, thì ông ấy có thể làm điều tốt chứ không làm điều xấu. Nhưng ánh sáng của Thiên Chúa lại không đến với ai toả sáng bằng ánh sáng của riêng họ. Thiên Chúa đề nghị nhưng không áp đặt; chiếu sáng nhưng không làm chói mắt. Chúng ta luôn có một cám dỗ lớn là đem so sánh ánh sáng của Thiên Chúa với ánh sáng của thế gian. Đã bao lần chúng ta chạy theo quyến rũ lấp lánh của quyền lực và của sân khấu, lại thấy rằng mình phục vụ tốt cho Tin Mừng. Nhưng như thế chúng ta đã hướng ánh sáng vào nhầm chỗ, vì Thiên Chúa không ở đó. Ánh sáng của Ngài nhẹ nhàng chiếu giải tình yêu khiêm nhường. Rồi bao nhiêu lần chúng ta, như là Giáo Hội, đã toả sáng bằng chính ánh sáng của mình! Nhưng chúng ta không phải là mặt trời của nhân loại. Chúng ta là mặt trăng phản chiếu ánh sáng thật là Thiên Chúa. Giáo Hội là ánh trăng mầu nhiệm và Thiên Chúa là ánh sáng của trần gian (x. Ga 9,5). Chính Ngài chứ không phải chúng ta.

Ánh sáng của Thiên Chúa đến với ai biết đón nhận. Tiên tri Isaia trong bài đọc một (x. Is 60,2) đã nhắc nhở chúng ta rằng ánh sáng của Thiên Chúa không ngăn chặn bóng tối và mây mù phủ lấp mặt đất, nhưng chiếu toả trên ai sẵn sàng đón nhận. Do đó, tiên tri lặp lại lời mời dành cho mỗi người: “Đứng lên, bừng sáng lên” (60,1). Hãy đứng dậy, nghĩa là thoát ra khỏi chỗ hiện tại của mình và sẵn sàng bước đi. Nếu không, sẽ vẫn giậm chân tại chỗ như các kinh sư tư vấn cho vua Hêrôđê, về điều họ đã biết, là Đấng Mêsia sinh ra ở đâu, nhưng không một bước di chuyển. Và rồi mỗi ngày, chúng ta cần mặc lấy Thiên Chúa là ánh sáng, cho đến khi Đức Giêsu trở thành trang phục hằng ngày của chúng ta. Nhưng để mặc lấy trang phục của Thiên Chúa, vốn đơn giản như ánh sáng, thì trước tiên cần cởi bỏ những trang phục hào hoa. Nếu không thì cũng giống vua Hêrôđê, dù thấy ánh sáng của Thiên Chúa nhưng vẫn thích ánh sáng trần thế của thành công và danh vọng. Ngược lại, như Ba vị Đạo sĩ, nhận ra lời tiên tri, họ đứng dậy để mặc lấy ánh sáng. Chỉ có họ nhìn thấy ngôi sao trên bầu trời: các kinh sư không nhìn thấy, Vua Hêrôđê không nhìn thấy và cũng chẳng có ai ở Giêrusalem nhìn thấy. Để tìm kiếm Đức Giêsu, phải đi theo một hành trình khác, con đường của Ngài, con đường yêu thương khiêm nhường. Và phải kiên trì theo con đường đó. Thật vậy, Tin Mừng hôm nay kết luận rằng Ba nhà Đạo sĩ, sau khi gặp Đức Giêsu, đã “đi con đường khác mà về xứ mình” (Mt 2,12). Một con đường khác với con đường của Hêrôđê. Một con đường khác để vào thế giới, giống như con đường của bao nhiêu người trong cảnh Giáng Sinh đã ở với Đức Giêsu: Đức Maria, thánh Giuse, các mục đồng. Cũng giống như các vị Đạo sĩ, họ rời bỏ nơi cư ngụ của mình, để trở thành những kẻ hành hương trên con đường của Thiên Chúa. Bởi vì chỉ có ai dám bỏ đi sự dính bén với thế gian này để bước đi thì mới có thể tìm thấy mầu nhiệm của Thiên Chúa.

Điều này đúng cả với chúng ta. Nếu chỉ biết nơi Chúa Giêsu sinh ra mà không đến nơi thì chưa đủ, giống các kinh sư thôi. Nếu chỉ biết Đức Giêsu mới sinh là ai mà không gặp Ngài thì không đủ. Khi nào nơi của ngài trở thành nơi của chúng ta, thời của ngài trở thành thời của chúng ta, con người của Ngài trở thành sự sống của chúng ta, thì khi ấy lời tiên tri ứng nghiệm nơi chúng ta. Và như thế, Giêsu sinh ra trong chúng ta và trở thành “Thiên Chúa hằng sống vì tôi”. Hôm nay, chúng ta được mời gọi theo gương các vị Đạo sĩ. Họ không bàn cãi, nhưng bước đi; họ không đứng lại nhìn, nhưng bước vào nhà của Giêsu; không đặt mình làm trung tâm, nhưng bái lạy Giêsu, vì Ngài mới là trung tâm; họ không cứng nhắc với kế hoạch của họ, nhưng sẵn sàng chọn đường khác để về. Bằng cử chỉ, họ diễn tả mối tương quan mật thiết với Chúa, một sự mở ra trọn vẹn với Ngài, một liên hệ toàn bộ với Ngài. Họ dùng ngôn ngữ tình yêu để liên hệ với Ngài, cùng một ngôn ngữ mà Giêsu con trẻ đã nói. Thật vậy, các vị Đạo sĩ đến với Chúa không phải để nhận, nhưng để cho. Chúng ta tự hỏi: Chúng ta đã mang đến cho Chúa Giêsu món quà nào trong ngày lễ Giáng Sinh của Ngài, hay chúng ta chỉ trao đổi quà cho nhau giữa chúng ta?

Nếu chúng ta đã đến với Chúa bằng tay không, thì hôm nay chúng ta có thể bù lại được. Có thể thấy Tin Mừng kể một danh sách ngắn những món quà: vàng, nhũ hương mộc dược. Vàng nói lên điều giá trị nhất, để nhắc nhớ rằng vị Đạo sĩ đã đặt Thiên Chúa ở vị trí trên hết, để tôn thờ. Nhưng để làm được điều đó thì phải rút mình khỏi vị trí cao nhất đó và thấy mình cần được giúp đỡ, mình không tự đủ được. Rồi đến nhũ hương, biểu tượng của sự tương quan với Thiên Chúa, việc cầu nguyện, như hương trầm bay toả trước Thánh Nhan (x. Tv 141,2). Nhưng, giống như hương trầm, để toả hương thì phải chịu đốt cháy; vì thế, việc cầu nguyện cũng “đốt cháy” chút thời gian, dành giờ cho Thiên Chúa. Cầu nguyện thật sự thì không phải chỉ bằng lời. Và rồi, mộc dược, được dùng cùng với tình yêu để liệm xác Đức Giêsu tháo xuống từ Thánh Giá (x. Ga 19,39). Chúa vui khi chúng ta chăm sóc những thân thể chịu nhiều đau khổ, những thân xác yếu đuối, những ai bị lùi lại đàng sau, những ai chỉ có thể nhận mà không thể đổi lại gì về vật chất. Thật quý trong mắt Thiên Chúa khi tỏ lòng thương xót đối với những người không có gì để đền đáp - một sự miễn phí, nhưng không! Sự miễn phí, nhưng không thật quý trong mắt Thiên Chúa. Trong thời gian gần kết thúc Mùa Giáng Sinh, chúng ta đừng để mất cơ hội làm một món quà đẹp cho Vị Vua của chúng ta, Ngài đến không trên sân khấu xa hoa của thế giới, nhưng trong sự nghèo mà sáng của Bêlem. Nếu chúng ta làm điều đó, thì ánh sáng của Ngài sẽ chiếu toả trên chúng ta.

 

ĐTC PHANXICÔ - LỄ HIỂN LINH:
GIẢNG LỄ VÀ HUẤN TỪ TRUYỀN TIN

tâm phương chuyển dịch

 "Biết nơi Chúa Giêsu sinh ra ở đâu như thành phần luật sĩ biết cũng chưa đủ, nếu chúng ta không đi đến đó.  Như Hêrôđê biết rằng Chúa Giêsu đã được hạ sinh cũng chưa đủ,
nếu chúng ta không gặp gỡ Người"

"Khi nơi chốn của Người trở thành nơi chốn của chúng ta,
khi thời điểm của Người trở thành thời điểm của chúng ta,
khi con người của Người trở thành đời sống của chúng ta,
thì bấy giờ các lời tiên trị được nên trọn trong chúng ta.
Bấy giờ Chúa Giêsu được hạ sinh trong chúng ta".

"Hôm nay chúng ta cần phải noi gương bắt chước Ba Vua.
Họ không tranh cãi mà là lên đường.
Họ không ngừng lại nhìn xem mà là tiến vào trong nhà của Chúa Giêsu.
Họ không lấy mình làm chính mà là cúi mình xuống trước Đấng là tâm điểm.
Họ không dính chặt với các dự án của mình, mà là sẵn sàng theo con đường khác"

 Epiphany: chữ này có nghĩa là việc tỏ hiện của Chúa, Đấng được Thánh Phaolô trong bài đọc 2 nói cho chúng ta biết là, tỏ mình ra cho tất cả mọi dân nước, được tiêu biểu hôm nay là Ba Vua. Nhờ đó chúng ta thấy vinh quang của một Vị Thiên Chúa đến với hết mọi người đã tỏ hiện, ở chỗ, hết mọi quốc gia, ngôn ngữ và dân nước đều được Ngài đón nhận và yêu thương. Nó được biểu hiệu bởi ánh sáng, thứ ánh sáng xuyên suốt và sáng soi tất cả mọi sự. Tuy nhiên, nếu Thiên Chúa tỏ mình ra cho hết mọi người thì lại càng lạ lùng hơn nữa về cách thức Ngài tỏ mình ra.....

Vào khoảng 30 tuổi, lúc Chúa Giêsu tỏ mình ra một cách công khai, được tiên dẫn bởi Thánh Gioan Tẩy Giả, Phúc Âm lại quan trọng hóa biến cố này, khi liệt kê tất cả "những hạng tai to mặt lớn" vào thời đó, những kẻ có quyền lực về cả dân sự lẫn tôn giáo: Tiberius Caesar, Pontius Pilate, Herod, Philip, Lysanias, các thượng tế Annas và Caiaphas. Rồi Phúc Âm kết thúc khi nói rằng vào lúc ấy "lời Thiên Chúa phán cùng Gioan, con của Zacaria, trong hoang địa" (Luca 3:2). Nghĩa là không cho một kẻ tai to mặt lớn nào mà là cho một con người ẩn mình trong sa mạc. Đó là một sự lạ lùng: Thiên Chúa không cần thế giới chiếu soi để làm sáng tỏ bản thân Ngài.

Khi chúng ta nghe thấy bản liệt kê những nhân vật nổi bật ấy, thì chúng ta có khuynh hướng chiếu đèn vào họ. Chúng ta có thể nghĩ rằng ngôi sao lạ tốt hơn là xuất hiện ở Roma, tại Palatine Hill, nơi hoàng đế Augustus cai trị thế giới; nhờ đó toàn thể đế quốc này liền trở thành Kitô hữu. Hay ngôi sao chiếu vào dinh của Hêrôđê thì ông ta có thể đã làm lành hơn là làm ác. Thế nhưng, ánh sáng của Thiên Chúa không chiếu soi những ai soi chiếu ánh sáng của họ. Thiên Chúa "bày tỏ" bản thân mình; chứ Ngài không "áp đặt" bản thân mình. Ngài chiếu soi; chứ không làm mù mắt. Luôn có một khuynh hướng mạnh mẽ gây lẫn lộn ánh sáng của Thiên Chúa với các thứ ánh sáng của thế gian. Biết bao nhiêu lần chúng ta đã chạy theo những thứ ánh sáng thu hút của quyền lực và của những nhân vật nổi nang, tin tưởng rằng chúng ta đang hết mình phục vụ Phúc Âm! Thế nhưng, làm như thế, chúng ta đã quay ánh đèn chiếu vào một nơi không đúng chỗ, vì Thiên Chúa không có ở đó. Ánh sáng nhân ái của Ngài chiếu soi bằng tình yêu khiêm hạ. Cũng biết bao nhiêu lần, chúng ta, với tư cách là Giáo Hội, đã cố gắng chiếu soi bằng ánh sáng của riêng mình! Tuy nhiên, chúng ta không phải là mặt trời của nhân loại. Chúng ta là mặt trăng, bất chấp bóng tối của nó, phản chiếu ánh sáng chân thực là Chúa. Người là ánh sáng thế gian (cf. Jn 9:5). Người, chứ không phải chúng ta.

Ánh sáng của Thiên Chúa chiếu soi cho những ai lãnh nhận nó. Tiên Tri Isaia, trong bài đọc 1 (cf.60:2), cho chúng ta biết rằng ánh sáng ấy không ngăn ngừa bóng tối và các đám mây dầy đặc khỏi bao trùm trái đất, mà chiếu soi những ai sẵn sàng chấp nhận nó. Bởi thế mà vị tiên tri này đã tung ra một lời hiệu triệu gay go đối với hết mọi người là: "Hãy chỗi dậy, hãy chiếu soi" (60:1). Chúng ta cần chỗi dậy, chỗi dậy khỏi đời sống tầm thường và sẵn sàng hành trình. Bằng không, chúng ta chỉ đứng im tại chỗ, như thành phần luật sĩ được Hêrôđê tham vấn; họ biết rõ nơi Đấng Thiên Sai giáng sinh, nhưng họ chẳng nhúc nhích gì. Chúng ta cũng cần phải soi chiếu nữa, cần phải mặc lấy Thiên Chúa là ánh sáng, từng ngày, cho đến khi chúng ta hoàn toàn mặc lấy Chúa Giêsu. Tuy nhiên, để mặc lấy Thiên Chúa, Đấng là một thứ ánh sáng đơn thuần, trước hết chúng ta cần phải cởi bỏ những chiếc áo choàng ngạo mạn. Bằng không, chúng ta cũng giống như Hêrôđê, con người yêu chuộng ánh sáng thành công và quyền lực trần tục hơn là ánh sáng thần linh. Trái lại, Ba Vua làm trọn lời tiên tri này. Họ đã chỗi dạy và chiếu soi, và được mặc lấy ánh sáng. Chỉ có họ thấy được ngôi sao ở trên trời, chứ không phải đám luật sĩ, hay Hêrôđê, hoặc bất cứ một ai cư ngụ ở Giêrusalem.

Để tìm gặp Chúa Giêsu, chúng ta cũng cần phải đi một con đường khác, theo một nẻo hướng khác, đó là hướng đi của Người, con đường của tình yêu khiêm hạ. Và chúng ta cần phải kiên trì. Phúc Âm hôm nay kết thúc ở chỗ Ba Vua sau khi gặp Chúa Giêsu, thì "lên đường về xứ sở của mình bằng con đường khác" (Mt 2:12). Con đường khác này là con đường khác với của Hêrôđê. Một con đường khác với thế gian, như con đường của những vị chầu chực Chúa Giêsu khi Người Giáng Sinh, đó là Mẹ Maria, Thánh Giuse, các mục đồng. Như Các Đại Sĩ, họ đã bỏ nhà cửa và trở thành những kẻ lữ hành trên các nẻo đường của Thiên Chúa. Vì chỉ có những ai bỏ lại những thứ dính bén trần gian của mình và lên đường mới gặp thấy mầu nhiệm của thiên Chúa.

Điều này cũng đúng với cả chúng ta nữa. Biết nơi Chúa Giêsu sinh ra ở đâu như thành phần luật sĩ biết cũng chưa đủ, nếu chúng ta không đi đến đó. Như Hêrôđê biết rằng Chúa Giêsu đã được hạ sinh cũng chưa đủ, nếu chúng ta không gặp gỡ Người. Khi nơi chốn của Người trở thành nơi chốn của chúng ta, khi thời điểm của Người trở thành thời điểm của chúng ta, khi con người của Người trở thành đời sống của chúng ta, thì bấy giờ các lời tiên trị được nên trọn trong chúng ta. Bấy giờ Chúa Giêsu được hạ sinh trong chúng ta. Người trở thành Vị Thiên Chúa hằng sống đối với tôi. Hôm nay chúng ta cần phải noi gương bắt chước Ba Vua. Họ không tranh cãi mà là lên đường. Họ không ngừng lại nhìn xem mà là tiến vào trong nhà của Chúa Giêsu. Họ không lấy mình làm chính mà là cúi mình xuống trước Đấng là tâm điểm. Họ không dính liền với các dự án của mình, mà là sẵn sàng theo con đường khác. Các tác hành của họ cho thấy mối liên hệ chặt chẽ với Chúa, cho thấy một sự cởi mở hết mình với Người, hoàn toàn gắn bó với Người. Cùng với Người, họ sử dụng thứ ngôn ngữ yêu thương, cùng một ngôn ngữ Chúa Giêsu, cho dù là một em bé, đã nói. Thật vậy, Ba Vua đến với Chúa không phải để nhận lãnh mà là cống hiến. Chúng ta hãy tự vấn xem chúng ta đã mang quà tặng nào cho Chúa Giêsu Giáng Sinh ăn mừng, hay chúng ta chỉ trao đổi quà tặng giữa chúng ta với nhau thôi?
...................

https://www.vaticannews.va/en/pope/news/2019-01/pope-francis-epiphany-mass-homily-full-text.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

 

HUẤN TỪ TRUYỀN TIN LỄ HIỂN LINH

 

"Hết mọi lần một con người nam nữ gặp gỡ Chúa Giêsu ,thì họ thay đổi đường lối của họ và trở về với đời sống bằng một đường lối khác, những cuộc trở về mới mẻ, 'bằng cách khác'"
......................
Chúa Giêsu, được hạ sinh ở Bêlem, thành Đavít, đã đến để mang ơn cứu độ đến cho những ai ở gần cũng như ở xa. Thánh ký Mathêu cho thấy những con đường khác, nhờ đó con người mới có thể gặp gỡ Chúa Kitô và đáp ứng với sự hiện diện của Người. Hêrôđê và thành phần Luật sư ở Giêrusalem chẳng hạn, có một cõi lòng cứng cỏi, bướng bỉnh và loại trừ việc viếng thăm của Con Trẻ. Con người có thể khép mình lại trước ánh sáng. Họ tiêu biểu cho những ai, ở vào cả thời đại của chúng ta đây, tỏ ra sợ hãi sự xuất hiện của Chúa Giêsu nên đóng lòng mình lại trước anh chị em đang cần đến sự giúp đỡ của họ. Hêrôđê lo sợ bị mất quyền lực và không nghĩ đến sự thiện thực sự của dân chúng mà là tư lợi của mình. Những vị luật sĩ và lãnh đạo dân chúng lo sợ vì họ không thể có được tầm nhìn vượt ra ngoài những niềm tin tưởng của họ, nên họ đã không thể đón nhận những gì là mới mẻ nơi Chúa Giêsu.
Trái lại, cái cảm nghiệm của Ba Vua thì khác hẳn (Cf Matthew 2:1-12). Đến từ Đông phương, họ tiêu biểu cho tất cả mọi dân tộc xa lạ với đức tin truyền thống của Do Thái. Tuy nhiên, họ đã để cho mình được hướng dẫn bởi một ngôi sao, và đối diện với một cuộc hành trình dài liều lĩnh để tới đích điểm của mình mà biết được sự thật về Đấng Thiên Sai. Ba Vua cởi mở trước "cái mới mẻ" này, họ được tỏ cho thấy cái mới mẻ vĩ đại nhất và lạ lùng nhất đó là Thiên Chúa hóa thân làm người. Ba Vua phục mình xuống trước Chúa Giêsu và dâng lên Người các quà tặng tiêu biểu là vàng, nhũ hương và mộc dược, vìviệc tìm kiếm Chúa bao gồm chẳng những tính chất kiên trì tiến bước mà còn cả tấm lòng quảng đại nữa. Để rồi sau cùng họ đã trở về "xứ sở của mình" (v. 12); và Phúc Âm nói rằng họ trở về "bằng lối khác". Thưa anh chị em, hết mọi lần một con người nam nữ gặp gỡ Chúa Giêsu thì họ thay đổi đường lối của họ và trở về với đời sống bằng một đường lối khác, những cuộc trở về mới mẻ, "bằng cách khác". Họ trở về "với xứ sở của mình", ấp ủ trong họ mầu nhiệm về Vị Vua khiêm hạ và nghèo nàn ấy. Chúng ta có thể tưởng tượng những gì họ nói với hết mọi người về cảm nghiệm họ đã trải qua, đó là ơn cứu độ được Thiên Chúa nơi Chúa Kitô cho tất cả mọi người, ở gần cũng như ở xa. Không thể nào "chiếm hữu" Con Trẻ ấy, vì Người là một tặng ân cho tất cả mọi người.
 ...............
https://zenit.org/articles/angelus-address-on-the-solemnity-of-the-lords-epiphany/
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

dongcong.net January 10, 2019