Đối thoại
-Lm Thái Nguyên
“Mở rộng và làm phong phú hóa gia sản tinh thần
bằng việc tìm hiểu và đối thoại.” (GE 11)
Tinh thần đối thoại
là hướng mở của tình hiệp thông. Con người của hiệp thông
không dựa trên chính mình,
nhưng dựa vào chân lý, đặc biệt là chân lý của sự sống và
tình yêu. Không phải bất cứ sự sống hay tình yêu nào, nhưng
là sự
sống đang triển nở và một tình yêu đang rộng mở. Đó là con
đường của Thiên Chúa đã đến với nhân loại, và là con đường
mà mọi người đến với nhau.
1. Ý Nghĩa
Ngay từ xa xưa, đối thoại đã được sử dụng
để truyền đạt một sứ điệp, một chân lý. Rất nhiều kinh điển
của các tôn giáo là những cuộc đối thoại giữa Thượng Đế với
các vị “Thiên sai” hay các “ngôn sứ”. Chẳng hạn Ấn Độ giáo
có kinh Veda, kinh Bhagavad Gita, đặc biệt là kinh Upanishads
(Áo Nghĩa Thư), gồm ba chữ kép: Upa (gần); ni (xuống); shad
(ngồi). Đại ý là ngồi xuống gần thầy, lắng nghe lời tâm truyền
để nắm lấy mật ngôn, thông suốt áo nghĩa, tiếp cận chân lý
tuyệt đối. Upanishads được viết bằng thể văn đối thoại giữa
thầy trò, vua tôi, bằng hữu, cha con vợ chồng...
Lịch sử cứu
độ cho ta thấy một sự đối thoại liên tục giữa Thiên Chúa
và dân Người: “Thuở xưa, nhiều
lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua
các ngôn sứ, nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán
dạy chúng ta qua Thánh Tử.” (Dt 1, 1).
Kinh Coran của Hồi
Giáo cũng được Muhammad đón nhận từ lời truyền của thiên
sứ Gabriel, trong tư cách
là Sứ giả Thánh Allah.
Nhiều bậc thầy thời cổ đại cũng dùng
đối thoại như một phương pháp chuyển đạt kiến thức cho môn
sinh,
như triết gia Socrate và Platon. Đối với Socrate, đối thoại
là thái độ dấn thân tìm kiếm chân lý, xây dựng sự cảm thông
giữa người với người. Đường hướng triết lý giáo dục của ông
nhằm soi sáng, khai mở, hướng dẫn, giúp đỡ, chứ không chụp
lên đầu óc môn sinh những quan niệm tiền chế, cho dù là những
tri thức khách quan. Có như thế mới làm triển nở chân lý
tiềm ẩn nơi mỗi người.
Ngày nay, đối thoại đã trở thành biểu
hiện tích cực của mọi con người, mọi thành phần, mọi thời đại.
Từ “đối thoại” được dùng để dịch chữ “dialogos” của Hy Lạp.
Tiếp đầu ngữ “dia” vừa có nghĩa tách rời và phân biệt, vừa
có nghĩa liên thông. Trong khi đó, “Logos” là lời nói, diễn
ngữ, lý luận, trí huệ, nhưng còn hướng đến chiều sâu của ngôn
từ và ý niệm. Đối thoại là ngỏ lời, là nói với và nói cùng
người khác. Điều đó không có nghĩa là nói bằng bất cứ kiểu
nào, nhưng là nói trong tinh thần liên kết với tha nhân; nói
để thể hiện tình bằng hữu, để cảm thông, để hiểu biết và cùng
nhau xây dựng tình liên đới. Những ai có tinh thần cởi mở và
cầu tiến đều ưa chuộng đối thoại, vì là phương cách để triển
nở đời sống và đưa đến sự hòa hợp sâu rộng hơn giữa mọi người
và giữa mọi thành phần. Hòa bình an vui chỉ có trong tinh thần
đối thoại. Đối thoại như nhịp cầu nối liền giữa những nỗi niềm,
khúc mắc, ưu tư, nguyện vọng... là tiếng nói của trái tim gởi
đến một trái tim: “Cor ad cor loquitur”. Chính từ đó, mọi hiểu
lầm, nghi kỵ, chống báng, hận thù, chia rẽ... được tẩy xóa để làm nên một tương quan
mới.
2. Điều kiện đối thoại
Trong thế giới hiện đại, điều kiện tiên
quyết của một cuộc đối thoại đích thực là phải chấp nhận
đa nguyên, đa diện, đa tôn giáo, đa văn hóa, đồng thời chấp
nhận
và tôn trọng những khác biệt cơ bản của người khác. Chính
trong sự khác biệt mà ta tìm thấy căn tính và đặc thù của họ,
làm
cho họ là họ. Khai trừ những khác biệt của tha nhân sẽ dẫn
đến thái độ độc đoán, độc tôn, độc quyền, là cách thái ngang
nhiên dẫm lên nhân phẩm của người khác. “Đâu cần người khác
mang hạnh phúc đến cho ta, nếu người khác từ chối nhân phẩm
của ta”. (Jean Guéhenno). Vì vậy, trong đối thoại, con người
cụ thể phải được quan tâm hàng đầu, vì đó là sự gặp gỡ của
các nhân vị, với cá tính, trình độ, quan niệm, điều kiện
xã hội và sắc thái riêng biệt.
Muốn đối thoại, trước hết phải
biết lắng nghe: lắng nghe những điều người khác muốn nói
chứ không phải
những điều mình muốn nghe; lắng nghe điều người ta muốn nói
hơn là điều mình muốn nói cho người ta nghe. Lắng nghe không
phải mong tìm những sơ hở hay khiếm khuyết của đối phương
để biện bạch hay chống trả, nhưng để khám phá và tiếp nhận
những
điều hay lẽ phải, cả những điều không hay không phải. Cái
dở của người có khi là chính cái dở của mình. Lắng nghe là
cơ
sở của những điều mình muốn nói. Muốn lắng nghe người khác
phải có khả năng lắng nghe chân lý. Chân lý không phải là
người khác, mà cũng không phải là mình, nhưng chân lý tiềm
ẩn nơi
nhau: phía sau của những ngôn từ, cách thế và hình thức đối
thoại; phía dưới những quan niệm, cá tính và quan điểm dị
biệt; trong tấm lòng và trên những lý lẽ.
Từ việc lắng nghe, ta mới xác định đối
thoại là một sự trình bày và trao đổi với nhau để tìm ra phương
hướng, ý nghĩa, và giá trị của vấn đề. Tuy nhiên, ngôn ngữ
có những giới hạn của nó, hiểu được nhau mới là điều quan trọng.
Chính sự hiểu biết lẫn nhau dẫn chúng ta vào sự thật của ngôi
vị, và hiệp thông nhân vị, đồng thời cũng là hiệp thông với
Giá Trị vô biên. Trong vấn đề tôn giáo cũng vậy, việc truyền
đạt nội dung chân lý cũng phải nhường bước cho việc cảm nghiệm
tâm linh và thần bí, là khả năng có thể đưa dẫn con người đến
chỗ kết hợp sâu xa với Thực Tại Siêu Việt. Không thể chống
chọi hay thúc ép người khác đón nhận chân lý một cách miễn
cưỡng dưới bất cứ hình thức nào. Khi lòng họ chưa ưng, chưa
cảm nhận được thì mọi ước muốn chinh phục trở thành hão huyền.
Tham vọng chinh phục người khác phải được loại trừ trong mọi
cuộc đối thoại. Hơn nữa, đối thoại đòi hỏi phải vượt thắng
cảm xúc, thiên kiến, lề thói, để hình thành một tương quan
giao hảo, hầu có thể bình thản nêu vấn đề trong sự kiên nhẫn
lắng nghe, thấu hiểu, và sáng suốt lãnh hội quan điểm của người khác.
Cuộc đối thoại đích
thực cũng đòi hỏi ta hướng về người khác bằng một tâm trí
cởi mở, khoáng đạt,
tránh sự dè dặt nào đó nơi bản thân mình. Chính sự dè dặt
cản ngăn, không cho người khác người khác tiết lộ cái tôi đích
thực của họ. Sự tín thác vào chân lý là điều trọng yếu để
lướt
thắng nỗi dè dặt này, và để tiến sâu vào các quan hệ giữa
người với người. Sự tín thác như thế được đặt căn bản trên
niềm xác
tín rằng: Thiên Chúa là nguồn mạch và điểm trụ của cuộc đời
ta trong mọi cuộc tương giao.
Sự thất bại của chúng ta trong
đối thoại hay giáo dục là muốn nắn đúc người khác theo quan
niệm và khuôn
khổ của mình. Điều tệ hại hơn nữa là dựa trên những tiêu
chuẩn chủ quan để phê phán, đánh giá và xếp loại người khác
theo
từng cấp độ: ai càng phù hợp với khuôn của mình thì càng
tốt, ai càng ít phù hợp thì càng xấu; ai càng giống mình thì
càng
hay, ai càng khác mình thì càng dở. Đây là kiểu giảm khinh
tha nhân xuống hàng các phạm trù tâm lý, hoặc là các mô hình
dự báo về ứng xử. Nhận thức chủ quan này sẽ dẫn ta từ sai
lầm này đến sai lầm khác, là mầm mống của kiêu căng và thống
trị
độc tài, phát sinh từ nhân cách yếu kém và tâm trí non nớt.
Cần nhớ rằng, trong tương giao đối thoại và gặp gỡ, giống
nhau thì dễ hiểu nhau hơn, nhưng khác nhau thì mới làm cho
nhau
dồi dào phong phú hơn.
Ngoài ra, trong đối thoại, chỉ dựa vào
tình cảm và thiện chí của mình thôi, mà thiếu sự kính trọng
và hiểu biết người khác thì quả là sai lầm. Sự lầm lẫn này
cho thấy tình cảm kia là lệch lạc, và thiện chí kia không
còn đúng hướng. Điều đó có thể hóa ra một thảm trạng buồn cười
như câu chuyện chiếc giường Procuste trong thần thoại Hy
Lạp:
ai nằm vừa vặn với chiếc giường, Procuste thả cho đi, ai
dài hơn, anh ta chặt bớt, ai ngắn quá, anh ta kéo ra cho bằng
chiếc
giường. Đó là một tai họa vẫn thường xảy ra trong lịch sử
nhân loại, không những trên lãnh vực xã hội, chính trị, giáo
dục,
mà còn lũng đoạn ngay trong tôn giáo, cũng như trong các
cộng đoàn tu trì của mọi tôn giáo.
Đối thoại là con đường dấn
thân và chấp nhận thách đố. Trên con đường này người đối
thoại phải xóa
bỏ định kiến, ra khỏi tháp ngà tự mãn của bản thân mình để
can đảm chỉnh đốn hoặc sửa đổi chính quan điểm và lối sống
của mình. Hơn nữa, những xác tín của riêng mình cũng cần
phải đặt lại vấn đề, nhất là cách thức trình bày và sử dụng
ngôn
từ. Không thể cứng nhắc trong một hình thức nào đó, làm mất
đi tính chất linh hoạt và sinh động của sự hợp nhất trong
đa dạng. Sự bất đồng xảy ra nhiều khi không phải do nội dung
mà
ta muốn truyền đạt, nhưng do cách thái trình bày không được
uyển chuyển theo quan niệm của từng giới người, trong từng
vùng địa dư và sắc thái văn hóa khác nhau. Có những “phạm
trù” tư tưởng và ngữ nghĩa khác nhau, nhưng rồi lại diễn đạt
một
chân lý như nhau.
3. Một sự đối thoại chân chính
Đối thoại đích thực luôn đòi hỏi ta tiếp
nhận ý kiến của người khác, tôn trọng những nét riêng biệt
của họ, mà vẫn không đánh mất căn tính của mình. Alber Camus
đã nhận định như sau: “Điều tôi mong muốn nói với quí bạn
hôm nay chính là thế giới đang cần cuộc đối thoại chân chính.
Thái
độ giả dối cũng như im lặng đều tương phản với đối thoại.
Chỉ có đối thoại thực sự giữa những người chân thành với chính
mình và nói sự thật.” Làm sao có đối thoại nếu ta không trung
thực với chính mình, với người khác, với thực tại. Làm như
vậy hóa ra những điều mình nói chỉ là giả dối để mua chuộc
một lợi lộc hay một lợi thế nào đó. Không thể có thái độ
buôn
bán hay “chính trị” trong đối thoại. Làm như vậy, sự thật
sẽ không còn là sự thật, mà biến nhau thành sự vật.
Cho dù có nhiều khác biệt giữa hai bên,
nhưng điều đó giúp cho cả hai mở rộng tầm nhìn, và phát triển
căn tính của mình. Paul Ricoeur đã khẳng định: “Để có thể
là mình, hãy đối thoại với người; nhưng để đối thoại với người,
mình phải là mình”. Kẻ yếu thì luôn sợ những phát hiện về
mình,
nhưng trong đối thoại, gặp gỡ, sự thể hiện mình một cách
chân thật thì lại là điểm mạnh, tạo nên sự quân bình và triển
nở
nhân cách. Vì vậy, Martin Buber đã xác quyết: “Tôi trở nên
người thành toàn qua tương giao với Anh; khi trở thành Tôi,
tôi gọi Anh. Tất cả cuộc sống đích thực bao hàm gặp gỡ”.
Giữ vững thâm tín của mình và trân trọng
quan điểm của người là thái độ lương thiện trí thức, mà người
xưa vẫn thường nói: “Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân
đồng
nhi bất hòa”. Bởi thế, không lạ gì khi “cuồng tín có thể
được định nghĩa như là thiếu vắng đối thoại.” (Jean de Lacroix).
Niềm tin mà thiếu sự rộng mở và triển nở trong đối thoại
dễ
dẫn đến sự cuồng tín. Mọi thứ cuồng tín đều tạo nên cuồng
bạo, vì tâm hồn đã bị bít kín, và trí não bị phủ che. Khi ánh
sáng
sự thật hồn nhiên đã bị che khuất tự bên trong, thì mọi lời
nói và thái độ bên ngoài chỉ còn là mơ hồ và giả dối. Từ
đó ta mới hiểu rằng, ngoài thiện chí, hiểu biết, đạo đức...
thì
đặc biệt cần có một tấm lòng rộng mở để đón nhận linh ứng
của Thánh Linh, có thể phát xuất bất cứ từ đâu, hoặc từ bất
cứ
người nào. Đó là ý nghĩa rất ngoạn mục từ câu nói thời danh
của thánh Tôma: “Omne verum, quocumque dicatur, Spiritu Sancto
est”: “Tất cả chân lý, bất cứ do ai nói, đều phát xuất từ
Thánh Linh”.
Từ đó trong đối thoại, ta mới thấy được
người khác có thể dạy cho mình một điều gì đó, và điều này
có khi đòi ta phải thay đổi lối nhìn về một số điểm mà từ
xưa đến giờ mình vẫn cho là đương nhiên. Đó là một thách đố
có
tác dụng thanh tẩy những quan điểm không còn phù hợp với
não trạng đương thời, khi ý thức nhân phẩm của con người mỗi
ngày
thêm lớn mạnh, và hiệu quả hay chân lý của sự việc vẫn có
những cách thái nhẹ nhàng và tươi mới hơn. Điều đó giúp ta
phong
phú hóa việc tiếp thu những giá trị và đào sâu những ý nghĩa
của một tính cách hay thâm tín của người khác, mà trong quá
khứ ta vẫn coi thường hay không màng tới, có những khi còn
kết án một cách hàm hồ. Từ đó, ta cần đặt ra vấn đề bao dung
trong đối thoại.
4. Bao dung trong đối thoại
Không phải có những trường hợp chẳng đặng
đừng, nên cực chẳng đã đành phải chấp nhận bao dung, vì sợ
gây nên những đổ vỡ lớn hơn. Có thể khi triệt tiêu những
sự dữ này dẫn đến chỗ phá hủy những điều thiện lớn hơn, hay
tạo
nên những sự dữ trầm trọng hơn. Nếu bao dung có nghĩa như
thế, thì quả là tiêu cực, nói lên tính khiếp nhược và nhát
đảm,
muốn trốn tránh sự nguy hiểm. Bao dung không phải là nói
Amen với tất cả những gì mà hoàn cảnh có thể cho phép nói và
làm.
Bao dung trước hết không có nghĩa là đồng
lõa, thỏa hiệp, xuề xòa cho qua, hoặc khỏa lấp chân lý để
chọn lựa sự hòa hoãn. Không thể có vấn đề từ bỏ những xác tín
cá
nhân để trở thành loại người lấp lửng, ba phải. Đừng làm
con tắc kè luôn thay màu đổi sắc, với chiêu bài là để thích
ứng
với người khác. Bao dung đích thực đòi ta phải có lập trường
và xác tín riêng, nhưng không áp đặt nó trên người khác.
Trái lại, chấp nhận để người khác có những tính cách và lối
nhìn
riêng của họ. Theo một quan niệm tích cực, bao dung là đường
lối xử thế chủ yếu để làm sao người khác được tự do trình
bày những quan điểm khác biệt của họ, và nhất là để cho họ
được
sống theo những nguyên tắc và xác tín riêng. Với ý nghĩa
như vậy, bao dung là một cách thế nêu cao tự do, giải thoát
cá
nhân khỏi những định kiến và thái độ giáo điều.
Đối thoại luôn bao hàm giữa tình và lý.
Hai phương diện này không lấn át và xâm phạm lẫn nhau. Tình
không được phép bao che, phủ lấp cho những điều phi lý, và
lý cũng không được phép ngang nhiên võ đoán hay lợi dụng
sự chân tình. Cả hai song hành và bổ sung cho nhau để hướng
mình
và người khác đến một tầm nhìn sâu rộng hơn trong sự hài
hòa. Trong đường hướng đó, tính khách quan luôn được đề cao,
để
người bao dung biết làm chủ quan điểm và hạnh kiểm của mình.
Trong ý nghĩa đó, bao dung là một nhân đức của những người
quân bình, khá uyển chuyển để tránh nóng giận, biết phân
biệt “của anh và của tôi”. Lòng bao dung ghê tởm những thứ
độc đoán,
kỳ thị, hình thức, cũng như mọi tật xấu của tâm hồn, là hệ
lụy của việc phế bỏ lý trí. Nói cách khác, lòng bao dung
là thắng lợi của lý trí đối với tinh thần phe nhóm, không lập
dị, bè phái, cũng chẳng ô hợp.
Một tinh thần bao dung như vậy mở ra thái
độ tiếp nhận, vì bao dung hàm ngụ những phẩm tính căn bản
của sự tiếp nhận cuộc đời và tiếp nhận tha nhân: tâm trí cởi
mở,
quan điểm rộng rãi, con tim sáng suốt với lòng nhân hậu,
nhất là kính trọng người khác về những gì không thể giản lược
mà
cũng không thể phê phán được. Vì thế, hãy biết nhận ra nơi
sắc thái đa dạng của mỗi người để giúp ta đi vào quan hệ
với họ một cách tốt nhất. Nhưng rồi cũng phải xác định về chính
mình: đường hướng và lý tưởng, khả năng và tính cách, vị
thế
và vai trò, đang là ai, trong môi trường nào, đang tin gì
và tin vào ai? Cho dù ở mức độ nào chăng nữa, hoặc có tầm ảnh
hưởng và thế giá lớn lao tới đâu, cũng không làm ta trở thành
kẻ cao ngạo, hoặc bám trụ chết cứng vào những xác tín của
mình.
Nhưng còn phải biết để cho người khác đi vào bên trong những
tường lũy của mình, để chính mình cũng được củng cố bởi sự
tiếp cận của họ.
Sự bao dung trong đối thoại đòi ta phải
biết khiêm tốn, nếu không, sẽ có nguy cơ chìm đắm trong kiêu
ngạo. Đó là sự kiêu ngạo của kẻ bị bao bọc bởi những điều
hiển nhiên và an toàn, một thứ kiêu ngạo làm phát sinh kiểu
niềm
tin chiếm hữu chân lý, chôn vùi mọi thiện chí và nỗ lực vươn
lên của người khác, cũng như mọi khúc mắc có thể được đặt
ra. Lịch sử từ xưa tới nay cho thấy thái độ độc tôn chân lý,
độc
tôn niềm tin, độc tôn chủ nghĩa... đã gây ra biết bao cảnh
tương tàn, “nồi da xáo thịt”. Đã biết bao con người trong
nhiều thế hệ đã trở thành nạn nhân thảm khốc của chiến tranh
chủ
nghĩa cuồng ngạo, niềm tin cuồng tín, chân lý cuồng si, giáo
thuyết cuồng dại. Thái độ độc tôn đã biến niềm tin trở thành
tuyệt vọng, chân lý trở thành tuyệt mệnh, giáo thuyết trở
thành tuyệt tự. Quốc gia, chế độ, chủ nghĩa hay giáo hội nào
có thể
rửa tay tuyên bố mình vô tội trước những thảm trạng đã từng
xảy ra cho đồng loại, vì tính độc tôn vô nhân?
Chẳng ai, và cũng chẳng có tổ chức đạo,
đời nào có thể tự hào mình sở hữu và nắm bắt chân lý. Chân
lý chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa, Đấng là Chân Lý của
mọi chân lý. Tất cả mọi người và mọi thành phần trong nhân
loại
đang trên con đường tìm kiếm chân lý, đạt tới mức độ nào
tùy thuộc căn cứ trên nền tảng nào, và thể hiện trong cuộc
sống
tới mức độ nào. Điểm trọng yếu là phải sống và cổ võ chân
lý trong thái độ dịu dàng của đức ái, với niềm xác tín rằng,
chân
lý chỉ có thể chiến thắng bởi chính chân lý mà thôi. Không
đạt tới được nhận thức này, người ta dễ đưa mình đến thái
độ bất bao dung, gây nên bao nhiêu thảm hại cho đời sống con
người.
5. Bất bao dung trong đối thoại dẫn đến
hành động bất nhân
Khi sự bao dung không được ứng dụng triệt
để trong đối thoại, người ta sẽ trở thành những kẻ bất bao
dung trong hành động. Ngay như Phật giáo được coi là đạo
từ bi hỷ xả cũng đã có những trường hợp cưỡng chế các tôn giáo
khác, như Trần Nhân Tông đi các nơi kêu gọi phá bỏ dâm từ,
hay như ở Nhật, chuyện Phật giáo vũ trang là một thực tại
lịch
sử. Cũng thế, đã có từng mấy thế kỷ, các nhà Nho và các quan
lại theo Khổng giáo đã chủ trương loại trừ Phật giáo, rồi
tới triều Nguyễn lại chống báng Kitô giáo mạnh mẽ hơn nữa.
Đó là
chưa nói đến chính sách dân tộc của Nho giáo về lệ “tru di
tam tộc”, hay đường hướng trọng nam khinh nữ v.v. Còn về
các tôn giáo độc thần như Do thái giáo, Kitô Giáo, Hồi giáo,
thì
thái độ tuyệt đối hóa và bất bao dung còn diễn ra ở một mức
độ cao hơn nhiều.
Chính vì vậy mà Giáo hội Công giáo đã
từng đấm ngực ăn năn, đã công khai sám hối về những lỗi lầm
trong quá khứ. Một trong những lỗi lầm đó được nêu rõ là
thái độ bất bao dung và bạo động chống lại những người ly khai,
chiến tranh tôn giáo, việc dùng vũ lực trong các chiến dịch
của nghĩa binh thánh giá, những hình thức tra tấn, cưỡng
bức...
Giáo hội đã bày tỏ nỗi đau đớn sâu xa về những lần đã sử
dụng bạo lực để bảo vệ chân lý, một hành động hoàn toàn đi
ngược
với Tin Mừng. Bất bao dung chẳng giải quyết được gì, mà còn
tạo thêm hằn thù, phản loạn. Chính sách bất bao dung có thể
có những thành công tạm bợ bên ngoài, nhưng là một thất bại
não nề, và là một vết nhục mãi mãi trong cái nhìn của mọi
người.
Từ Công đồng Vatican II, Giáo hội đã mở
ra con đường đối thoại với mọi người, như phương thế hữu
hiệu nhất để xây dựng một thế giới nhân ái. Chính lòng nhân
ái mới
nâng cao tâm hồn con người, chứ không phải tài năng chinh
phục bằng những lý lẽ, hay giáo thuyết cao siêu. Các Nghị phụ
đã
lên tiếng như sau: “Niềm ước mong đối thoại đó chỉ do lòng
yêu chân lý hướng dẫn và dĩ nhiên vẫn giữ được sự khôn ngoan
thích hợp; về phần chúng tôi, niềm ước vọng này không loại
trừ một ai hết: từ những người đang tôn thờ những giá trị
tinh thần nhân bản cao quí mà chưa nhận biết Đấng Tạo Thành
đến
những ai chống đối và bách hại Giáo Hội bằng nhiều cách.
Vì Thiên Chúa Cha là nguyên lý và cùng đích mọi sự, nên tất
cả
chúng ta đều được kêu gọi làm anh em với nhau. Và vì thế,
được gọi lãnh nhận thiên chức làm người và làm con Thiên Chúa,
chúng
ta có thể và phải cộng tác, không bạo động, không xảo trá
để xây dựng một thế giới trong hòa bình đích thực.”(GS 92).
Trong tương quan đối thoại tôn giáo cũng
vậy, mà cá nhân cũng thế, ta dễ bị tính cao ngạo và thành
kiến khống chế, nên cách xử thế trở nên bất bao dung. Khi tìm
hiểu
người khác, ta dễ chụp mũ lên họ bằng những quyết đoán nông
nổi, hoặc “cả vú lấp miệng em”: áp đặt tính cách và quan
niệm của mình để phủ bỏ tính cách và quan niệm của họ. Trong
quan
hệ để giải quyết vấn đề với nhau, ta cũng dễ rơi vào thái
độ “vạch lá tìm sâu” để chứng minh mình có lý, là tốt, là đúng,
là hơn kẻ khác. Cứ như vậy, trong tiến trình đối thoại, người
khác trở thành không, để ta trở thành có. Đối thoại như thế
là xúc phạm đến nhân phẩm người khác, là biến người khác
thành
cái phông để mình vẽ rồng vẽ rắn, hay sân khấu để mình mặc
sức múa may làm hề. Đối thoại như thế trở thành độc thoại,
độc tôn. Bất bao dung trong mọi trường hợp có thể đồng nghĩa
với bất nhân, bất nghĩa, bất chính, là một thái độ phi nhân
hóa tha nhân.
6. Hướng nhìn về Chúa nơi nhau
Đời sống thì không toàn hảo, và con người
cũng không hoàn hảo. Chỉ có lòng bao dung, lòng thương xót
mới cải thiện chúng ta. Khi nhân danh tôn giáo hay chân lý,
ta đánh mất lòng bao dung, và khi nó bị bỏ quên thì tôn giáo
bị lầm lạc, chân lý chẳng còn nghĩa lý, đức hạnh mất gốc.
Càng không thể nhân danh luật lệ, nguyên tắc, quyền bính, chức
vụ,
để hành xử trái ngược với lòng bao dung. Tất cả mọi cái đó
trở thành phi lý khi chưa nhận ra chân lý của lẽ sống làm
người. Người thật sự chiêm nghiệm và tiếp cận với đời sống
của Thiên
Chúa là người có đầy Thần Khí Chúa, nên họ cũng sống ở mức
độ cao nhất của lòng từ bi Chúa. Chiêm nghiệm là tấm gương
cho ta thấy được tấm lòng cao cả của Thiên Chúa. Đó cũng
là cái lọc, qua đó ta có thể nhận định được sự nghèo hèn và
phẩm
cách của mình. Người chiêm nghiệm không tìm sự toàn hảo ngoài
Chúa. Họ biết sự nghèo hèn của họ, và cũng biết rằng, chính
ở đó là nhu cầu cho họ khao khát và cảm nhận việc Chúa đến
để lấp đầy tâm hồn họ.
Nếu phải xét xử hay phân định một con
người, cứ xem lòng bao dung của mình và của người đó mà xét
thì không thể sai lầm. Tiêu chuẩn tối hậu của ngày phán xét
chung cũng là thế thôi (x. Mt 25, 31-46). Chân lý tiềm ẩn
trong mỗi người, nơi mỗi tôn giáo. Không ai có quyền giới hạn
chân
lý hay Thiên Chúa. Thiên Chúa hiện diện trong mỗi hữu thể,
và ngược lại, mỗi hữu thể là một thành phần tham dự vào hữu
thể thuần túy. Cứ tưởng mình hay đạo giáo của mình mới có
chân lý, có Thiên Chúa, để từ đó mà “thay Trời hành đạo” thì
quả
là tai ương. Người ta chỉ có thể theo Trời chứ không thể
thay Trời: “Thuận Thiên giả tồn”. Chỉ khi luôn ý thức đặt mình
dưới
sự hiện diện của Thiên Chúa, ta mới thấy Ngài khắp nơi, gặp
Ngài mọi lúc qua mọi con người, để nhận biết rằng chẳng còn
ai xa lạ, cũng không còn ai thấp kém. Lúc đó, lòng bao dung
trở thành ngọn lửa đốt cháy của tình yêu, mà Chúa Giêsu đã
mang đến và đã nhóm trong lòng mọi người bằng Thánh Thần
của Ngài. (x. Lc 12, 49).
Người ta có thể lý luận rằng, bao dung
quá hóa ra dại khờ. Đúng thế, Đức Giêsu đã trở nên dại khờ
khi quá bao dung. Kitô hữu dễ bị cám dỗ chạy theo lý lẽ và
khôn ngoan của thế gian, có mấy khi bình tâm đào sâu lý lẽ
và khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì vậy, Galeria cũng nói rằng:
“Trop d’indulgence pour les méchants deviendrait de l’injustice
pour les bons”: “Quá khoan dung với kẻ hung bạo thành ra
bất công với người lương thiện”. Hoặc như Napoléon khẳng định
rằng:
“Toute indulgence pour les coupables annonce une connivence”:
“Sự khoan hồng nào đối với kẻ có tội cũng biểu thị một sự
đồng mưu”.
Nói vậy chẳng lẽ Thiên Chúa bất công và
đồng mưu với tội lỗi hay sự ác của con người? Dụ ngôn cỏ lùng
là sai lạc? (x. Mt 13, 24-30). Tận diệt bất công hay kẻ tạo
ra bất công? Khai trừ tội lỗi hay kẻ có tội? Cho dù sự bao
dung có thể thực hiện bằng nhiều phương cách cho mỗi trường
hợp, nhưng không có trường hợp nào là không thể bao dung. Sự
bao dung khoan nhượng của Thiên Chúa đối với con người, là
để con người có cơ hội trở về với Ngài, để khơi động và phục
hồi những trái tim đã băng giá và hư hoại do sự bất bao dung
của chính con người đối với nhau. Đành rằng làm như vậy là
chấp nhận liều lĩnh, có thể có nguy cơ bị phản phúc và tình
trạng sẽ trở nên tệ hại gấp bội. Nhưng nếu không như vậy, là
tiêu diệt cách ngang nhiên bừa bãi sự sống và tự do của con
người. Trái tim Chúa bị đâm thâu là vì thế. Có ai đi vào con
đường “cách mạng” của lòng bao dung quyết liệt mà không phải
trả giá như Đức Giêsu, như Mahatma Gandhi, Martin Luther King...
Ai dám cho mình khôn ngoan và tài giỏi hơn Thiên Chúa? (x.
Is 40, 13-14). “Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: "Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế.” (Mt 9, 13; x. Hs 6, 6).
Cái nhìn bao dung
cho ta biết nhìn thấy điều chính đáng ngay trong cái không
xác đáng, thánh thiện
ngay trong tội lỗi, trong sạch ngay trong bợn nhơ, điều lành
ngay trong sự dữ, may mắn ngay trong rủi ro, thành công ngay
trong thất bại, hạnh phúc ngay trong đau khổ. Chỉ khi nào
lòng bao dung rộng mở, mọi sự mới trở nên rõ ràng: không còn
luật
lệ nào là tuyệt đối; không còn một tội nào mà không được
tha; không còn một nhu cầu nào mà không được coi trọng; không
còn
một đau khổ nào bị bỏ quên; không còn yếu hèn nào mà không
được nâng đỡ; không còn một phủ nhận nào mà không được đón
nhận.
Lạy Chúa, con cứ khư khư nắm giữ kiểu
suy nghĩ một chiều, nên con cứ cầm giữ mình và cản lối người
khác. Không bao dung trong chính tư tưởng của mình được thì
làm gì con có thể bao dung trong đối thoại, trong phương
hướng hành động. Chính vì vậy, cuộc sống cứ bị thắt chặt mà
không
thể mở ra.
Con có thể mở ra nhiều thứ theo đường
hướng và ý muốn của mình, nhưng lại đóng vào trước đường
hướng và ý muốn của Chúa. Con cầu xin Chúa lắng nghe con, nhưng
có mấy khi con biết lắng nghe Chúa. Trong đối thoại với anh
em, con đòi họ hiểu con mà mấy khi con hiểu họ. Hóa ra con
chỉ biết nghe con và độc thoại với chính con. Những điều con
cảm tưởng hóa ra là ảo tưởng.
Bởi vậy, con
vẫn là con, vẫn chưa trở thành con như con phải là. Bao quanh
con vẫn là thành kiến,
chủ quan, tự mãn, tính bất bao dung và tham vọng chinh phục.
Xin giải thoát con khỏi chính con, để
con có thể trở thành con trong Con: Ngôi Lời nhập thể và nhập
thế, là mẫu mực của mọi tính cách đối thoại và là chính sự
Đối Thoại. Để từ đó, con biết mở ra một tương quan mới với
mọi người trong tình yêu liên kết, giao hòa, hợp nhất, để
cùng
đón nhận Chân Lý là chính Chúa.
LM Thái Nguyên VietCatholic
News (Thứ Hai 14/01/2008)
LM Thái Nguyên -