|
|
HAI TIẾNG “XIN VÂNG”: LUẬN VỀ ĐỨC MARIA
Trần Hữu Thuần
Mẹ ôi! Đời con dõi bước theo Mẹ. Chúng ta bây giờ hát câu hát của Cha Mi Trầm nghe dễ dàng vì lời ca quen thuộc và điệu ca thánh thót, mà lắm khi không nghĩ, liệu có dễ dàng dõi bước theo Mẹ hay không? Hai tiếng “Xin vâng” nằm trên đầu lưỡi sẵn sàng bật ra mà thiếu mất suy tư sâu thẳm kèm theo sau đó. Đặt mình vào vị trí của Đức Maria, một thiếu nữ mười lăm mười sáu chưa lập gia đình—chưa nói đến việc Người đã tự hứa không lập gia đình để phụng sự Thiên Chúa—chúng ta có dám thưa hai tiếng nhẹ nhàng đó để mang thai khi chưa có chồng như cô thiếu nữ Maria đã thưa không? Rồi suốt cuộc đời, chúng ta có can đảm thưa hai tiếng “Xin vâng” theo ý Thiên Chúa không? Theo tôi, thật khó, vì phải bỏ đi nhiều thứ quá. Ta thử điểm qua sự mất mát Đức Maria phải gánh chịu qua hai giai đoạn cuộc đời: Khi thưa “Xin vâng” với sứ thần để Ngôi Lời nhập thể, và khi thưa “Xin vâng” với ý định của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ của Đức Giêsu.
A - Lời “Xin vâng” thưa với sứ thần:
Tân Ước—Phúc âm Luca— tường thuật cuộc đối đáp giữa sứ thần từ bắt đầu cho đến khi Đức Maria thưa hai tiếng “Xin vâng” vỏn vẹn từ câu 28 đến câu 38. Chúng ta ngày nay đọc lại tường thuật mười câu ngắn gọn đó, có cảm giác chẳng chút khó khăn nào khi cô Maria trinh nữ tuân hành thụ thai theo quyền lực của Chúa Thánh Linh. Có lẽ không thiếu người trong chúng ta cho rằng, Đức Maria “đầy ơn phúc” như vậy nên chuyện thưa “Xin vâng” là chuyện dĩ nhiên khi nghe tiếng sứ thần mời gọi.
Suy nghĩ lại cho thấu đáo, tôi nghĩ không đơn giản như vậy. Tôi cho rằng tâm tư của cô trinh nữ Maria phải dằn vặt rất nhiều vì biết bao nhiều điều phải mất đi khi thuận theo ý Chúa qua hai tiếng “Xin vâng” đơn giản đó:
1. Mất sự trinh khiết tự nguyện:
Sứ thần liền nói: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ…. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu” (Lc. 1, 30-31 [1] ). Có lẽ phải nói là thưa cô Maria, vì không ai gọi một thiếu nữ còn trẻ chưa lập gia đình bằng bà. Sứ thần không hề hứa cô sẽ thụ thai, cô sẽ sinh con, và cô sẽ còn trinh khiết. Nhưng ở đây, vấn đề không phải là cô Maria sợ hãi và đau khổ vì sẽ mất đi sự trinh khiết, mà chính là vì cô sẽ mất đi một điều cô đã lựa chọn.
Một người khi đã chọn lựa một điều gì, điều đó sẽ trở thành một phần của bản thể, một phần của tài sản tinh thần hoặc vật chất. Mất đi sự chọn lựa đó là mất đi chính bản thể, chính tài sản của mình. Tại sao? Vì chính sự chọn lựa đã là một công việc khó khăn, dằn vặt. Tôi có một số tiền, và tôi muốn mua một bộ xalông. Hình ảnh của món đồ tôi muốn mua hiện ra mập mờ trong trí tôi. Tôi dọ giá nơi này dọ giá nơi khác, cân nhắc chất lượng và kiểu dáng, cân nhắc nơi sản xuất, bàn bạc với người này người khác. Cuối cùng, tôi đem về nhà món hàng vừa túi tiền của tôi mà tôi cho là vừa ý. Liền đó, khi bộ xalông được đặt vào phòng khách, tôi đã thấy nó làm sao ấy. Tôi bực bội vì đã không chọn lựa đúng theo ý tôi muốn, cho đến khi một ai đó nói, “Thôi được rồi, thế cũng được!” Trong muôn ngàn người con trai con gái tôi để mắt chọn lựa để kiếm được một người tâm đầu ý hợp, rốt cuộc tôi trở thành vợ thành chồng của một ai đó. Thế nhưng, chắc không ít người trong chúng ta nếu có cơ hội sẽ làm lại khác đi!
Nếu sự chọn lựa của tôi là một chọn lựa hoàn toàn tuyệt bích theo ý tôi muốn, thử hỏi tôi còn trân quí đến chừng nào. Vì thế, chúng ta có thể hiểu được thiếu nữ Maria đã phải đau đớn chừng nào khi thưa hai tiếng “Xin vâng” đơn giản đó. Giữa nhiệm vụ cao cả thụ thai và làm mẹ Con Đấng Tối Cao (Lc. 1, 32) với việc giữ sự trinh khiết đã chọn lựa và trân quí, cô thiếu nữ Maria không cho vinh dự cao cả trước có thể sánh được với điều cô đã chọn lựa sau. Vì vậy nên cô đã ngại ngùng: “Việc ấy sẽ xẩy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” (Lc. 1, 34) Cuối cùng, cô đã thuận thưa “Xin vâng” không phải vì vinh dự làm mẹ Con Đấng Tối Cao, mà chỉ vì vâng phục thánh ý của Thiên Chúa, “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc. 1, 38). Và trong sự vâng phục, cô Maria tin rằng sự trinh khiết mà cô đã chọn lựa sẽ không mất đi do quyền năng của Chúa Thánh Linh qua lời sứ thần bảo đảm, cho dẫu không nói ra rõ ràng, “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc. 1, 37; nhấn mạnh của bản dịch)
2. Mất danh dự và mạng sống:
Theo luật Israel, người con gái mất trinh khiết trước khi lập gia đình bị chồng phát hiện sẽ bị ném đá cho đến chết (Đnl. 22, 20-21). Khi một cô gái đã đính hôn lại ăn nằm với người đàn ông khác, cả hai người cũng sẽ bị ném đá cho đến chết (Đnl. 22, 23-24). Ở đây còn hơn thế. Cô thiếu nữ Maria chẳng những “mất trinh khiết,” “ăn nằm với người khác,” mà còn đã mang thai không phải do Đức Giuse, người được chọn lựa để cô gọi là chồng. Liệu cô Maria không biết cô có thể sẽ bị ném đá cho đến chết nếu Đức Giuse—theo lệ thường—tố cáo tình trạng đó sao? Chắc chắn cô đã biết luật, và như thế ta thấy cô sẽ phải sợ hãi đến chừng nào khi thưa hai tiếng”Xin vâng” tưởng chừng đơn giản đó.
Luật lệ Việt Nam ta ngày xưa đối với việc con gái không chồng mà chửa cũng nặng nề vô cùng. Các cô nếu không thú nhận ai là tác giả của bào thai để làng qui tội, sẽ bị nằm sấp để bụng bầu vào một cái hố đào sẵn, trói căng tay căng chân để chịu phạt mấy chục hèo, chưa tính gia đình phải nộp phạt và bị xóm giềng bêu riếu “Đồ gia đình không biết dạy con!” Thậm chí các cô còn có thể bị bỏ trôi sông như trong chuyện cổ tích truyền kì Bá đế [2] . Có cô gái Việt Nam nào mấy ngàn năm về trước dám thưa hai tiếng “Xin vâng” để nhận lấy một bào thai không chứng minh được không? Câu trả lời chắc chắn là không.
Trong Đức Maria, Mẹ Chúa Con, Bộ II (Mary, Mother of the Son, Vol. II [3] ), Mark Shea tưởng tượng việc cô thiếu nữ Maria sau khi mang thai đã—với giọng nói ngây thơ vô tội—trình bày với Đức Giuse và những người khác về việc cô mang thai do quyền lực của Chúa Thánh Linh qua câu chuyện cô gặp gỡ sứ thần. Shea còn đặt câu hỏi liệu người đọc nào có vợ, tin tưởng vào vợ, có sẽ tin được vợ mình khi nghe bà ta kể lại câu chuyện mang thai không phải do chồng như câu chuyện của Đức Maria không? Shea trả lời ông tin vợ ông.
Tôi không biết có ai trong chúng ta tin được vợ mình như ông Shea đã tin vợ ông ấy hay không. Riêng tôi, tôi không dám cả quyết. Làm sao mà tin được chuyện lạ lùng như vậy? Ai mà tin được điều cô ta nói là thụ thai bởi quyền phép của Chúa Thánh Linh (Lc. 1, 35), cứ y như trong chuyện thần thoại?
Nói như thế để cho thấy, hai tiếng “Xin vâng” tuy đơn giản nhưng không phải dễ dàng nói lên. Nếu thiếu niềm tin tưởng thực sự và hoàn toàn vào quyền năng của Thiên Chúa, cô thiếu nữ Maria chắc chắn không dạm bạo mồm bạo miệng. Chỉ một lời “Xin vâng” cô thốt lên, cả danh dự cả mạng sống của cô có thể chấm dứt trong tủi nhục.
3. Mất niềm vui đơn giản của cuộc sống bình thường:
Một cô gái mang thai trước khi về nhà chồng, cho dẫu được chồng tin vào câu chuyện gặp gỡ sứ thần do mình kể lại, liệu có thể giải thích với mọi người lí do mang thai của mình không? Chắc không. Chắc cô Maria cũng không tránh khỏi tiếng ong tiếng ve của những người xóm giềng ngồi lê đôi mách, vô công rỗi nghề. Chúng ta ngày nay khi nói đến Đức Maria, Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, chúng ta có ngay hình ảnh của một Đức Bà uy nghiêm ngự trên tòa, chân đạp con rắn, đầu đội vương miện mười hai ngôi sao, tay ẳm Chúa Hài Nhi hoặc đang buông thỏng ban muôn ân phúc, mà quên đi hình ảnh của cô Maria, một thiếu nữ “mười sáu trăng tròn.” Do đó, khi nói cô Maria sợ hãi vì đã mang một bào thai không thể giải thích nguồn gốc với mọi người, có người lấy làm “kì cục,” không chừng còn cho là phạm thượng. Thế nhưng, đặt trong bối cảnh của Israel thời đó, bối cảnh của cô thiếu nữ thôn quê, điều này phải là một điều hết sức bình thường.
Sách Phúc âm ngụy thư Giacôbê viết, “Và cô ở lại với Elizabeth ba tháng; và ngày qua ngày bụng cô lớn hơn lên. Và cô Maria sợ hãi, trở về chính nhà cô và ẩn mình tránh các con trai của Israel. Và cô được mười sáu tuổi khi các huyền nhiệm này xẩy ra [4] .” Cho dẫu đây là trong ngụy thư, không được xếp vào văn kiện chính thức của Giáo hội, câu chuyện cũng nói lên được tâm trạng chung của mọi thiếu nữ Israel thời đó trong trường hợp như cô Maria: sợ hãi và xấu hổ. Hai tiếng “Xin vâng” đã lấy mất đi của cô Maria cuộc sống hồn nhiên thôn dã của cô thiếu nữ tuổi xuân phơi phới.
4. Mất lòng tin của những người đã tin tưởng vào Bà:
Cũng theo Ngụy thư nói trên, Đức Giuse được các tư tế giao cho gìn giữ người trinh nữ của Chúa:
Và vị tư tế nói với Giuse, Ông đã trúng thăm được chọn để bảo vệ người trinh nữ của Chúa…. Và Giuse nói với Maria: Này, tôi đã nhận cô từ đền thờ của Chúa; và giờ đây tôi để cô ở lại nhà, và đi xa để cất nhà cửa của tôi, rồi tôi sẽ trở về với cô [5] .
Như thế cho biết ông Giuse đã một lòng tin tưởng vào sự trinh khiết của cô Maria, sự trinh khiết mà ông và mọi người nghi ngờ cô đã đánh mất do kết quả của việc cô thưa hai tiếng “Xin vâng” tuân phục thánh ý của Thiên Chúa. Chẳng lẽ cô không biết lời “Xin vâng” đơn giản của cô sẽ làm mất lòng tin nơi ông Giuse đã tin tưởng vào cô sao? Và chẳng lẽ lòng cô—thánh thiện và trinh trong như vậy—lại không cảm thấy xót xa khi phải làm mất lòng một người như Giuse sao?
Hơn thế nữa, các tư tế khi giao cô cho Giuse để giữ trọn lề luật hôn nhân của mọi người Do thái, đã với mục đích để Giuse, một người đã luống tuổi, giữ gìn “người trinh nữ của Chúa” theo ý nguyện giữ trinh khiết mà cô đã chọn lựa từ lâu. Vì thế, khi Annas, một kí lục, đến nhà Đức Giuse, và:
thấy Maria đang mang thai. Và ông chạy đến với vị tư tế, và nói với ông ấy: Giuse, người mà ông xác minh, đã phạm một tội nặng nề. Và vị tư tế nói: Sao lại thế? Và ông ấy nói: Ông ta đã làm ô uế người trinh nữ mà ông ta đã nhận ra khỏi đền thờ của Chúa, và đã lén lút thành hôn với cô ta…. [6] .
Vị tư tế cho người dẫn Giuse và Maria đến trước tòa:
Và vị tư tế nói: Maria, tại sao cô đã làm điều này? Và tại sao cô đã hạ thấp linh hồn cô đến thế, và đã quên Chúa, Thiên Chúa của cô?... Và cô khóc xót xa, nói: Như Chúa Thiên Chúa của tôi hằng sống, tôi trong sạch trước Người, và chẳng biết một người đàn ông nào [7] .
Một lần nữa, chúng ta tự hỏi, Đức Maria khi thưa hai tiếng “Xin vâng,” chẳng lẽ không biết là sẽ phải chấp nhận “tiếng khóc xót xa” vì làm mất niềm tin của các vị tư tế đã chăm sóc gìn giữ ý nguyện của cô đối với Thiên Chúa. Không cần trả lời, chúng ta hiểu lòng cô đã phải cân nhắc đắn đo và đau đớn chừng nào khi thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc. 1, 38).
B. Lời “Xin vâng” trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa:
Trong giai đoạn thứ hai của cuộc đời, Đức Maria không còn may mắn được sứ thần đến hỏi để có thể suy nghĩ trước khi nói lên hai tiếng “Xin vâng.” Dư âm và hiệu quả của lời thưa “Xin vâng” thứ nhất đã đóng ấn cuộc đời Bà. Bà không còn cách nào khác hơn cách tuân phục thánh ý của Thiên Chúa mà Đức Giêsu—Con Trai Bà—phải thực hiện.
5. “Một lưỡi gươm sẽ đâu thâu tâm hồn bà” (Lc. 2, 35):
Nếu Thiên Chúa cho phép tin vào lời tướng số thì đây là một hạn vận cho Con Trai Bà và cho chính Bà mà Đức Maria không có cách nào khác ngoại trừ vâng phục. Thánh Luca ghi lại lời của ông Simêôn:
“Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; và như vậy những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc. 2, 34-35).
Nếu là chúng ta, liệu chúng ta có thể “điềm nhiên” để cuộc đời xẩy ra đau đớn như vậy mà không “cựa quậy” cố tránh thoát hay không? Chẳng lẽ “cha và mẹ Hài Nhi” (Lc. 2, 33) đành buông xuôi theo số phận dễ dàng như vậy sao? Thế mà quả thực, Đức Maria lại để vang lên hai tiếng “Xin vâng” trong lòng Bà, hoàn toàn tuân phục thánh ý của Thiên Chúa. Làm sao Bà có thể làm như vậy mà không cay đắng trong lòng?
6. “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga. 2, 5)
Tại tiệc cưới Cana mà câu chuyện ai trong chúng ta cũng có thể đã thuộc nằm lòng, Thánh Gioan tường thuật lời yêu cầu của Đức Maria với Con Trai Bà để xin tiếp tay với chủ nhà khi nhà chủ hết rượu (Ga. 2) . Khi đọc các tường thuật Kinh thánh, chúng ta thường chỉ nhớ đến bản thể Thiên Chúa của Chúa Giêsu mà quên đi bản thể con người của Người. Đức Maria không vậy. Đức Giêsu vẫn là con trai của Bà theo tính người đồng thời là Thiên Chúa của Bà theo tính Chúa. Đặt mình vào thời đại lúc Chúa Giêsu còn tại thế, điều này dễ hiểu vì chẳng một ai—ngoại trừ Đức Maria—nhận biết thiên tính của Đức Giêsu. Giáo hội ban đầu cũng cần đến Công đồng Chalcedon—451 năm sau Chúa Giáng sinh—để xác nhận hai bản tính của Đức Giêsu Kitô sau nhiều cơn sóng gió lạc giáo hoặc nhận điều này hoặc nhận điều kia mà không nhận cả hai! Ngày nay, thậm chí còn có người không nhận cả nhân tính cả thiên tính của Đức Giêsu Kitô khi cho rằng câu chuyện về Đức Giêsu xứ Nazareth chỉ là một huyền thoại!
Đức Maria trong tiệc cưới này đã yêu cầu một hành động khác thường của Đức Giêsu không phải để phô trương rằng Bà có một người con trai tài phép như người Tin lành Evangelical quan niệm theo bộc lộ của Mark Shea trong Đức Maria, Mẹ Chúa Con, Bộ II [8] . Đúng ra, Bà muốn cho mọi người nhìn thấy tính Thiên Chúa trong người mà dáng vẻ bên ngoài là con trai của Bà để mọi người nói lên lời “Xin vâng” khi Bà dặn những người giúp việc, “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga. 2, 5). Chắc chắn những người nghe lời Đức Maria dặn dò sẽ phải thắc mắc, “Anh con trai con bà Maria này là ai và sẽ làm được điều gì mà chúng ta phải vâng lời anh ta?”
Đức Maria không chỉ giữ lời “Xin vâng” mà Bà đã một lần thưa với sứ thần để tuân phục Thiên Chúa mà còn muốn mọi người—môn đồ và không phải môn đồ của Đức Giêsu Kitô—phải thưa lời “Xin vâng” như vậy, “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.”
7. “Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga. 19, 26):
Là môn đồ đầu tiên của chính con trai mình trong Giáo hội, Đức Maria đã vâng phục trọn đời Bà. Lời “Xin vâng” được biểu hiện một lần cuối cùng trong cuộc sống trần thế của Đức Giêsu—con trai Bà và là Con Trai Đấng Tối Cao (Lc. 1, 32)—khi Đức Giêsu giao phó Bà cho Gioan, môn đồ người mến, “Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga. 19, 26). Phúc âm Gioan không mô tả một lời đáp trả nào của Đức Maria trước lời lẽ của Đức Giêsu.
Lời thưa “Xin vâng” đó được biểu hiện rõ rệt khi Gioan kết thúc tường thuật: “Kể từ giờ đó, người (Gioan) rước bà về nhà mình” (Ga. 19, 27). Đức Maria “xin vâng” con trai mình mà cũng là Thiên Chúa không một lời thảo luận. Bà không hề nói, “Thôi, hay con để mẹ với với dì Elizabeth cho có chị có em!” Trái lại, người con trai đó, người đàn ông đó, cho dẫu giờ đây đang phơi xác trần truồng, thân thể rách nát, máu me vương vãi, đang hấp hối cái chết nhục nhã của kẻ tội phạm ngang hàng với quân trộm cướp (Lc. 23, 33; Mc. 15, 27-28; Mt. 27, 38), vẫn là Thiên Chúa cao cả mà Bà không ngừng thưa lên hai tiếng “Xin vâng” của kẻ nữ tì hèn mọn.
Kết luận: “Trong đầm gì đẹp bằng sen”
Câu ca dao của tổ tiên ta để lại ví hoa sen như mẫu người không vướng thị phi đàm tiếu trong cuộc sống trần tục, “Gần bùn nhưng chẳng hôi tanh mùi bùn.” Nếu đem lời ví von này đặt vào Đức Trinh Nữ Maria, chắc không có lời nào thích hợp hơn. Trong cuộc sống của xã hội Israel, cuộc sống mà Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta đã lên án là “mồ mã tô vôi,”xã hội với những người Pharisêu mà Phúc âm Matthêô đã dành nguyên chương 23 để tường thuật lời Chúa Giêsu lên án, xã hội với một thứ men xấu xa mà Đức Kitô phải căn dặn các môn đồ “Anh em phải coi chừng men Pharisêu và men Hêrôđê!” (Mc. 8, 15), Đức Maria đã một mình biểu dương đức trinh khiết và đức vâng phục. Gương phẩm hạnh của Mẹ chúng ta đã rõ ràng đến nổi sứ thần phải nghiêng mình chào kính, “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng” (Lc. 1, 28). Phẩm hạnh Mẹ chúng ta đã trỗi bật đến nổi Thiên Chúa cho Mẹ được “từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc. 1, 48).
Nếu đặt Mẹ trên nền thời đại chúng ta đang sống, phẩm hạnh của Mẹ còn “bỗng bừng lên, ngát một đài sen.” Trinh khiết và vâng lời trong thời đại này, thanh niên nam nữ cho là chuyện của những người xuẩn ngốc rồ dại. Ai nghe theo bài học “xin vâng” mà Đức Maria để lại sẽ bị coi như là những kẻ không biết đến thế đứng của chính mình để đòi hỏi, những kẻ nhu nhược chỉ biết để người khác đè đầu cỡi cổ mình.
Tuy nhiên, lời “Xin vâng” không đơn giản chi là một lời nói, một câu hát Mẹ ôi! Đời con dõi bước theo Mẹ. Nói lên được lời nói đơn giản đó là một quá trình đau khổ và chấp nhận, như Mẹ đã phải đau khổ và chấp nhận suốt cả cuộc đời. Muôn ân sủng, muôn hồng phúc, muôn tước hiệu được Thiên Chúa ban cho và được Giáo hội sử dụng để ca tụng Mẹ, theo tôi đều xuất phát từ hai tiếng “Xin vâng” can đảm đó. Hồng phúc Thụ thai vô nhiễm, hồng phúc Hồn xác lên Trời, hồng phúc Mẹ Thiên Chúa, theo tôi sẽ không bao giờ có nếu không có sự can đảm của việc Mẹ thưa với sứ thần hai tiếng “Xin vâng.”
[1] Trần Phúc Nhân và nhiều người, Kinh thánh trọn bộ Cựu Ước và Tân Ước, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1999. Tất cả trích dẫn Kinh thánh trong bài này đều lấy từ sách trên.
[2] Bá Đế, http://www.maiyeuem.net/vtopic41659.html
[3] Mark P. Shea, Mary, Mother of the Son, Vol. II. San Diego: Catholic Answers, 2009, Ch. 2, tr. 63-64. Người viết bài này đã dịch và phổ biến trên dunglac.org., Ch. 2, Nhân chứng của Đức Giuse về sự Trinh khiết vĩnh viễn của Đức Maria.
[4] Phúc âm ngụy thư Giacôbê 12; dịch từ bản tiếng Anh: http://www.newadvent.org/fathers/0847.htm
[5] Ngụy thư, 9.
[6] Ngụy thư, 15.
[7] Ngụy thư, 15.
[8] Shea, sđd. cc. 3, tr. 88; bản dịch: Ch. 2, Ý nghĩa của tiệc cưới Cana.
Trần Hữu Thuần
dongcongnet sưu tầm 31-1-2010
|
|