|
LỄ ĐỨC MẸ SẦU BI
Ngày 15 tháng Chín
___________
I.
TIẾN TRÌNH TÍN LÝ ĐỨC MẸ ĐỒNG CÔNG
Thế kỷ II, Thánh Giustinô khởi xướng tín lý Mẹ Maria cộng tác
với Chúa Giêsu Con Mẹ trong công trình Cứu chuộc loài người. Thánh
Giáo phụ dựa vào câu Tiền Phúc âm (St 3:15): Thiên Chúa phán hứa
sẽ đặt một Phụ Nữ chiến thắng ác thần thay thế người phụ nữ đã
bị ác thần đánh bại, và thánh nhân suy diễn sự tương phản trong
Thư Thánh Phaolô (Rm 5:12; 1Cr 15:21-22) giữa cựu Ađam và Tân
Ađam. Cựu Ađam đã đem tội lỗi và sự chết vào trần gian. Đối lại,
Tân Ađam đã phục hồi loài người. Cựu Ađam không một mình làm sa
đoạ loài người, vì bà Evà đã cộng tác vào tội Ađam. Cũng thế,
Tân Ađam không một mình hồi phục loài người, vì Đức Maria đã cộng
tác với Người trong công trình Cứu thế. Trong cuộc đối thoại với
lạc giáo Tryphon, Thánh Giustinô nói: "Evà nghe theo lời
con Rắn đã sinh ra sự bất tuân và sự chết. Đức Trinh Nữ Maria
đáp lại lời Thiên thần Gabrie loan tin mừng rằng Đấng Thánh sinh
ra bởi Mẹ sẽ là Con Thiên Chúa. Nhờ Người, Thiên Chúa đánh bại
con Rắn và những thiên thần, những người giống như con Rắn".
Tín
lý Mẹ Maria cộng tác với Chúa Cứu thế qua luận lý tương phản giữa
bà Evà và Mẹ Maria của Thánh Giustinô đã được các Thánh Giáo phụ
diễn giải và bổ túc.
A - Từ thế kỷ II đến thế kỷ VIII: Đặc biệt là Thánh Êphrem, Thánh
Ambrôsiô, Thánh Êpiphanô, Thánh Phêrô Kim ngôn, Thánh Môdestô
và Thánh Đamascenô.
B
- Từ thế kỷ IX tới thế kỷ XVI: Các Thánh tiến sĩ và các nhà thần
học đồng thanh tiếp tục minh chứng vai trò cộng tác vào công cuộc
Cứu chuộc của Mẹ. Các Thánh tiến sĩ như Thánh Đamianô, Thánh Anselmô,
Thánh Bênađô, Thánh Bônaventura, Thánh Albertô, Thánh Tôma, Thánh
Canisiô. Các nhà thần học như Eadmer, Arnold Chartres, Richard
St. Lawrence, Tauler, Gerson, Denis the Carthusian, Clichtove,
Salmeron, Morales, Suarez.
Danh
từ Đấng Đồng công (Coredemptrix) bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XIV
trong một Thánh thi của nhà thờ Thánh Phêrô tại thành Salzburg
(Austria):
Pia, dulcis et benigna,
Nullo prorsus luctu digna
Si fletum hinc eligeres.
Ut compassa Redemptori,
Captivato transgressori,
Tu Coredemptrix fieres.
Nghĩa
là: Mẹ nhân từ, hiền dịu và khoan dung,
Mẹ hoàn toàn không đáng chịu một đau khổ nào.
Nếu từ đây Mẹ khóc thương
Như Người thông phần đau khổ với Chúa Cứu Thế,
Thì, với Đấng đã chịu tử hình,
Mẹ cũng trở nên Đấng Đồng Công Cứu Chuộc.
C - Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX: Tín lý Mẹ Đồng Công được các
Thánh tiến sĩ và các nhà thần học khai triển rộng rãi, mặc dù
gặp phản ứng của giáo phái Cải cách. Trong các Thánh thì có Thánh
Laurensô Brindisi, Thánh Robertô Bellarminô, Thánh Euđê, Thánh
Grignion Montfort, Thánh Anphong Ligouri. Các nhà thần học như
Đức Hồng y Berulle, Cornelius a Lapide, Gaspar Tausch, Salazar,
Vulpes, Novati, Luke Wadding, George de Rhodes, Reichensperger,
Dubois, Widenfeld, Crasset, Van Ketwigh, Charles del Moral, Trombelli,
De Clorivière, Jeanjacquot, Peraldi, Faber, Hồng y Wiseman, Hồng
y Newman, Hồng y Manning, Scheeben, Đức Piô IX, Đức Lêô XIII.
Trong thế kỷ XIX, danh từ Đấng Đồng công năng được dùng.
D
- Thế kỷ XX: Tín lý Mẹ Đồng công được các Đức Giáo hoàng: Đức
Lêô XIII, Đức Thánh Piô X, Đức Bênêđictô XV, Đức Piô XI, Đức Piô
XII, Đức Gioan Phaolô II giảng dạy rất minh bạch. Riêng Đức Piô
XI kêu xin Đức Mẹ rõ ràng với tước hiệu Đấng Đồng công. Và Đức
Gioan Phaolô II cũng nêu bật giáo huấn về vai trò Đức Mẹ Đồng
công, đặc biệt trong Thông điệp "Mẹ Đấng Cứu Thế", Tông
thư "Sự Khổ đau Cứu chuộc", và ngài rõ ràng dùng tước
hiệu "Coredemptrix" có tới 5 lần:
1. Trong lời chào chúc các bệnh nhân sau cuộc đại triều yết tại
quảng trường Thánh Phêrô, Rôma, ngày mồng 8 tháng 9 năm 1982.
2. Trong huấn từ sau kinh Truyền tin tại Arona năm 1984.
3. Trong bài giảng tại đền thánh Đức Mẹ Guayaquil, nước Ecuador,
ngày 31 tháng 1 năm 1985.
4. Trong huấn từ Ngày Quốc tế Giới trẻ, Chúa nhật Lễ Lá năm 1985.
5. Dịp kỷ niệm 600 năm tôn phong Thánh Brigitta hiển thánh ngày
mồng 6 tháng 10 năm 1991.
Ngoài ra, trong 52 buổi đại triều yết, Đức Thánh Cha nêu cao vai
trò Đồng công đặc biệt của Mẹ trong nhiệm cuộc Cứu thế của Chúa
Kitô.
Công
đồng Vatican II, dưới triều đại Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô
VI, đã minh nhiên nêu rõ sứ mạng Đồng công của Mẹ: "Đức Maria
đã tận hiến làm tôi tớ Chúa, phục vụ cho thân thế và sự nghiệp
của Con Mẹ, và phục vụ mầu nhiệm Cứu chuộc dưới quyền và cùng
với Con của Mẹ... Sự liên kết giữa Mẹ và Con trong công cuộc Cứu
rỗi được tỏ rõ, từ khi Mẹ Maria thụ thai Chúa Kitô cách trinh
khiết cho đến lúc Chúa Kitô chết".
Theo
cha Dillenschneider, thế kỷ XX có rất nhiều nhà thần học diễn
giải tín lý Đức Mẹ Đồng công. Đó là các nhà thần học Le Rohellec,
Broise, Bainvel, Bittremieux, Friethoff, Bover, Garcia Garces,
Borzi, Seiler, Philipon, Deneffe, Carol, Hugon, Anger, Mura, Rondel,
Hồng y Lépicier, Terrien, Keuppens, Merkelbach, Boyer, Roschini,
Lagrange, v.v.
Từ
tháng 3 năm 1993, phong trào "Vox Populi" (Tiếng dân)
đã phát động khắp Giáo hội "Chiến dịch Thỉnh nguyện thư"
tâu xin Đức Thánh Cha tuyên tín Mẹ Maria là "Đấng Đồng công".
Phong trào này do tiến sĩ thần học Mark Miravalle, giáo sư đại
học dòng Phanxicô tại Steubenville, bang Ohio, Hoa Kỳ, lãnh đạo,
với ban cố vấn gồm 32 Hồng y. Cho tới tháng 10-1997, phong trào
đã thu thập được chữ ký của hơn 500 Giám mục, 55 Hồng y và 5 triệu
tín hữu thuộc 155 quốc gia. Cuối tháng 5 năm 1996, một Hội nghị
quốc tế được tổ chức tại Rôma gồm 3 Hồng y, 13 Giám mục, và một
số đông linh mục, giáo dân chính thức yểm trợ phong trào "Vox
populi".
Tín
lý về Mẹ Maria cộng tác với Chúa Giêsu, Con Mẹ, trong công cuộc
Cứu thế qua các thời đại, đã được sáng tỏ và vững chắc. Còn danh
từ Mẹ Đồng công Core-demptrix, tuy đã được dùng trong Giáo hội
từ thế kỷ XIV và đặc biệt trong thế kỷ XIX, và tiếp đầu ngữ (prefix)
"co" (không có nghĩa đặt Mẹ ngang hàng với Chúa trong
công cuộc Cứu thế), vẫn chưa được Giáo hội chính thức xác định
và công nhận, đặc biệt trong phụng vụ.
II.
LỊCH SỬ PHỤNG VỤ
Năm 1011, một nguyện đường đầu tiên dâng kính Đức Mẹ đứng dưới
chân thánh giá tại Paderborn, nước Đức. Dòng Citercian và Dòng
Phanxicô khởi xướng lòng sùng kính Đức Mẹ Sầu bi từ thế kỷ XII
và thế kỷ XIII.
Từ đó đến năm 1969 có hai lễ Đức Mẹ Sầu bi:
1. Lễ Đức Mẹ Sầu bi ngày thứ Sáu sau Chúa nhật Khổ nạn (trước
Chúa nhật lễ Lá).
Năm 1423, Công đồng Cologne, nước Đức, thành lập lễ Đức Mẹ đồng
thụ nạn (Compassion of Mary) để đền tạ vì tội do bè rối Hussites
xúc phạm ảnh tượng Thánh giá vả ảnh tượng Đức Mẹ đứng dưới cây
Thánh giá. Năm 1482, Đức Sixtô IV truyền soạn một bài lễ kính
Đức Mẹ đau thương, tưởng nhớ Đức Mẹ dưới chân Thánh giá.
Năm 1714, Dòng Tôi tớ Đức Mẹ được phép cử hành lễ Đức Mẹ Sầu bi
vào thứ Sáu tuần Thương khó. Năm 1727, nhờ sự vận động của Dòng
Tôi tớ Đức Mẹ, lễ này được Đức Bênêđictô XIII đặt hẳn vào ngày
thứ Sáu sau Chúa nhật Khổ nạn.
Năm 1969, lễ này bị bãi bỏ do việc cải tổ Phụng vụ sau Công đồng
Vatican II. Lý do việc bãi bỏ ngày lễ Đức Mẹ đau thương ngày thứ
Sáu sau Chúa nhật Khổ nạn là vì Giáo hội không muốn mừng hai lần
trong một năm một biến cố hay một mầu nhiệm.
2. Lễ Đức Mẹ Sầu bi ngày 15 tháng Chín
Năm 1668, Dòng Tôi tớ Đức Mẹ được phép Toà thánh mừng lễ Đức Mẹ
Sầu bi ngày Chúa nhật thứ ba tháng Chín.
Năm 1704, Đức Clêmentê XI ban đại xá cho những ai tham dự lễ này.
Năm 1814, Đức Piô VII lập lễ này trong khắp Giáo hội để tạ ơn
Đức Mẹ đã giải thoát Đức Thánh Cha khỏi sự quản thúc của vua Napoléon.
Sau này, Đức thánh Piô X quyết định chuyển lễ từ Chúa nhật thứ
ba tháng Chín sang ngày 15 tháng 9 sau ngày Suy tôn Thánh giá,
để liên kết cuộc Đồng thụ nạn của Mẹ Maria với cuộc Khổ nạn của
Chúa Giêsu. Ngoài việc thiết lập Thánh lễ, còn có những hình thức
đạo đức kính Đức Mẹ Sầu bi.
1. Thánh thi Stabat Mater dolorosa (Mẹ sầu bi đứng bên Thánh giá)
do tác giả Jacopone di Todi (1230-1306), tu sĩ dòng Phanxicô,
và được lưu hành trong khắp Giáo hội từ thế kỷ XIII. Thánh thi
này được dùng làm Ca tiếp liên đọc trong ngày lễ Đức Mẹ Đau thương
15 tháng Chín như ngày nay.
2.
Lòng sùng kính Đức Mẹ Sầu bi cũng được lập vào thế kỷ XIV do Chân
phúc Henri Susô.
3.
Ngắm bảy Sự Đau đớn Đức Mẹ, kèm theo bảy kinh Kính mừng sau mỗi
ngắm, được Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ ấn định năm 1646. Trong Toàn niên
kinh nguyện Giáo phận Bùi Chu, Đức cha Đaminh Hồ ngọc Cẩn sửa
đổi lại còn một kinh Lạy Cha, một kinh Kính mừng và một kinh Sáng
danh sau mỗi ngắm.
BẢY
SỰ ĐAU ĐỚN ĐỨC MẸ
Năm 1482, cha Gioan Couderberghe, giáo xứ Flanders, nước Bỉ, bắt
đầu giảng về việc sùng kính Bảy Sự Đau đớn Đức Mẹ:
1.
Cụ già Simêon nói tiên tri cùng Đức Mẹ (Lc 2:34-35).
2. Đức Mẹ đem Chúa Giêsu trốn sang nước Ai Cập (Mt 2:13-21).
3. Chúa Giêsu ở lại trong đền thờ mà Đức Mẹ tìm kiếm Người ba
ngày (Lc 2:41-50).
4. Đức Mẹ gặp Đức Chúa Giêsu vác cây Thánh giá (Ga 19:17).
5. Đức Mẹ đứng kề Thánh giá Đức Chúa Giêsu là Con rất yêu dấu
khi trút linh hồn (Ga 19:18-30).
6. Hai môn đệ hạ xác Chúa Giêsu mà trao cho Đức Mẹ ẵm kính (Ga
19:39-40).
7. Môn đệ táng xác Chúa Giêsu vào huyệt đá mới (Ga 19:40-42).
III.
Ý NGHĨA PHỤNG VỤ
1. Dựa theo giáo huấn Công đồng Vatican II, Giáo hội muốn lòng
sùng kính Đức Mẹ của chúng ta hướng về Chúa Kitô. Do đó, Giáo
hội muốn chúng ta sùng kính Đức Mẹ đồng thụ nạn với Chúa Kitô
khổ nạn để chúng ta noi gương Mẹ, mà kết hợp cuộc đời khổ đau
của ta với cuộc đời tử nạn của Chúa Kitô, mong mai sau chúng ta
cùng được trường sinh vinh hiển với Người như Đức Mẹ.
2. Trong việc sùng kính và mừng lễ Đức Mẹ Sầu bi, Giáo hội nhắc
nhớ chúng ta hiểu sâu xa rằng qua Thánh Gioan, Chúa Giêsu đã trao
trối Mẹ Maria cho chúng ta: "Này là Mẹ con", và trối
chúng ta cho Đức Mẹ: "Này là con Bà". Như vậy, Đức Mẹ
là Mẹ thật của chúng ta, và chúng ta thật là con của Đức Mẹ. Dưới
cây Thánh giá, Đức Mẹ đã thực sự sinh ra chúng ta về phần hồn
trong nỗi cực độ khổ đau, cũng như mẹ phần xác sinh ra chúng ta
về phần xác, cũng trong đau đớn theo án lệnh Chúa đã ra cho tổ
mẫu Evà: "Ngươi sẽ sinh con đẻ cái trong đau đớn" (St
3:16). Mẹ Maria hạ sinh chúng ta càng trong đau khổ, Mẹ càng yêu
thương chúng ta.
3. Trong mầu nhiệm Đồng thụ nạn của Mẹ Maria với cuộc Khổ nạn
Cứu thế của Chúa Giêsu, Giáo hội cũng nhắc nhớ chúng ta rằng,
nhờ Mẹ mà chúng ta được hưởng ơn Cứu độ đã trào dâng từ thương
tích của Chúa.
4. Trong sứ mạng Đồng công của Mẹ Maria với sứ mạng Cứu chuộc
của Chúa Cứu Thế, Giáo hội khích lệ chúng ta cũng hãy ý thức sứ
mạng của chúng ta, là đồng công với Chúa và Mẹ trong việc cứu
rỗi chính mình chúng ta, và cũng trong việc làm tông đồ cứu rỗi
người khác.
IV.
CA TIẾP LIÊN TRONG THÁNH LỄ (Stabat Mater)
1. Mẹ sầu bi, tầm tã giọt châu, đang đứng bên cây thập giá, nơi
Con Người đã bị treo lên.
2. Một lưỡi gươm nhọn đã đâm qua tâm hồn Bà đang rên siết, đang
sầu khổ và đau buồn.
3. Ôi đau buồn sầu khổ biết bao cho bà Mẹ đáng suy tôn của một
người Con duy nhất!
4. Bà Mẹ hiền nhìn xem nỗi khổ hình của người Con chí thánh, mà
đau lòng thổn thức tâm can.
5. Ai là người không tuôn châu lệ, khi nhìn thấy Mẹ Chúa Kitô,
trong cảnh cực hình như thế?
6. Ai có thể không buồn bã nhìn xem Mẹ Chúa Kitô, đang đau khổ
cùng với Con Người?
7. Mẹ nhìn thấy Chúa Giêsu vì tội dân mình mà khổ cực và bị vùi
giập dưới làn roi.
8. Mẹ nhìn Con mình dịu hiền như thế, bị thống khổ lúc lâm chung,
khi Người trút hơi thở cuối cùng.
9. Ôi lạy Mẹ là niềm yêu mến, xin cho con cảm thấy mãnh lực của
đau thương, để cho con được khóc than cùng Mẹ.
10. Xin cho lòng con cháy lửa mến yêu, mến yêu Đức Kitô là Thiên
Chúa, để cho con có thể làm đẹp ý Người.
11. Ôi Thánh Mẫu, xin Mẹ làm ơn đóng vào lòng con cho thực mạnh
những vết thương của Đấng bị treo thập giá.
12. Xin Mẹ cho con được chia phần thống khổ của Con Mẹ đã thương
vong, đã khấng chịu cực hình vì con như thế.
13. Xin cho con được cùng Mẹ thảo hiếu khóc than, cùng Đấng bị
đóng đinh tỏ niềm thông cảm, bao lâu con còn sinh sống ở đời.
14. Con ước ao được cùng với Mẹ đứng bên cây thập giá và hợp nhất
cùng Mẹ trong tiếng khóc than.
15. Ôi Đức Trinh Nữ thời danh trong hàng trinh nữ, xin đừng tỏ
ra cay đắng với con, xin cho con được cùng Mẹ chan hoà dòng lệ.
16. Xin cho con được mang sự chết của Đức Kitô, được cùng Người
thông phần đau khổ và tôn thờ những thương tích của Người.
17. Xin cho con được mang thương tích của Người, cho con say sưa
cây thập giá và máu đào Con Mẹ đã đổ ra.
18. Ôi, Đức Trinh Nữ xin đừng để cho con bị lửa hồng thiêu đốt,
nhưng được Mẹ chở che trong ngày thẩm phán!
19. Lạy Chúa Kitô, khi phải lìa bỏ cõi đời này, nhờ Đức Mẹ, xin
Chúa cho con được tới lãnh ngành dương liễu khởi hoàn.
20. Khi mà xác thịt con sẽ chết, xin cho linh hồn con được Chúa
tặng ban vinh quang của cõi Thiên đường.
V.
Ý NGHĨA LỜI CHÚA TRONG THÁNH LỄ
Bài đọc I: Do Thái 5:7-9
Đây là một phần chính thư Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Do Thái khích
lệ mọi người hãy cảm thương Chúa Giêsu khi còn sống ở đời này
đã khổ đau đến rơi lệ. Đặc biệt trong vườn Gietsimani, Người khổ
đau đến cùng cực đến nỗi đã kêu van Đấng có thể cứu Người khỏi
chết. Nhưng Người đã vâng phục Chúa Cha vui lòng hy hiến để nên
căn nguyên ơn Cứu độ cho chúng ta. Đoạn văn ám chỉ Mẹ Maria cũng
cùng chịu đau khổ với Chúa để thông cảm với Chúa, và để đồng công
với Chúa cứu chuộc loài người.
Phúc âm: Luca 2:33-35
Mẹ Maria và Thánh Giuse kinh ngạc trước những lời ông già Simêon
nói về Ấu Chúa Giêsu là ánh sáng cho dân ngoại và là vinh quang
cho dân Do Thái. Ông Simêon chúc lành cho hai ông bà và nói tiên
tri với Mẹ Maria rằng: Con Trẻ này đã được đặt lên cho sự sụp
đổ hay sự đứng lên của nhiều người dân Do Thái và là mục tiêu
cho người ta chống đối, một dấu hiệu kêu mời mọi người hãy mở
lòng ra cho chương trình của Thiên Chúa và thường là một dấu hiệu
kêu gọi người ta cải tà qui chính.
Lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn Mẹ Maria như ông Simêon tiên báo là
sự thống khổ xâu xé Trái tim Mẹ. Lưỡi gươm cũng có ý nghĩa trong
tiên tri Ezekiel 14:17 là sự giáng phạt của Thiên Chúa. Chúa Giêsu
nói Người đến không phải để đem lại bình an, mà là gươm giáo (Mt
10:34-36), tức là sự chia rẽ (Lc 12:51-53). Chúa muốn nói "chia
rẽ" là Chúa và lời Chúa như mũi gươm chia lìa các gia đình
và kêu gọi các phần tử dấn thân bước theo con đường Phúc âm của
Chúa. Mẹ Maria là một người tiên phong dấn thân để trung thành
với tiếng Chúa mời gọi (xem Lc 8:19-21; 11:27-28).
VI.
THÁNH KINH
1. St 3:15: "Ta sẽ đặt mối thù giữa ngươi và người nữ, giữa
dòng dõi người nữ và dòng dõi ngươi. Người nữ sẽ đạp nát đầu ngươi".
Lời tiên tri này minh nhiên và mặc nhiên hàm chứa mầu nhiệm Maria,
về Mẹ Chúa Cứu Thế, về mẫu chức trinh trong, về đặc ân Vô nhiễm
thai, về sứ mạng Đồng công...
Lời:
"Ta sẽ đặt mối thù" liên quan đến vai trò Đồng công,
ám chỉ Người Nữ và Dòng dõi người Nữ đối đầu với Satan và bè lũ
hắn. Do đó, trong "mối thù" ẩn chứa vai trò Đồng công
của Mẹ Maria. Thực vậy, Mẹ đã cộng tác với Chúa Con trong công
trình Cứu chuộc loài người.
Lời:
"Người Nữ sẽ đạp nát đầu ngươi" tiên báo Người Nữ và
Dòng dõi người sẽ chiến thắng con rắn và bè lũ hắn. Cả câu tiên
tri trong tiền Phúc âm 3:15 làm nổi bật mối tương phản giữa Evà
và Maria, giữa Ađam và Chúa Giêsu. Nếu Evà đồng phạm với Ađam
làm hư hỏng loài người, thì Maria đồng công với Chúa Giêsu cứu
chuộc loài người.
2.
Is 7:14: "Một Trinh nữ sẽ thụ thai sẽ sinh Con Trai tên là
Emmanuel". Trinh Nữ này là Người Nữ đã được phác họa trong
lời hứa chiến thắng con rắn, lời hứa mà nguyên tổ chúng ta đã
nhận được sau khi phạm tội, và chính là Người Nữ, Mẹ Đấng đã được
Thiên Chúa trao phó công cuộc Cứu chuộc.
3.
St 3:20: "Mẹ chúng sinh". Mẹ Maria là Mẹ chúng sinh
nghĩa là tất cả loài người. Trong sứ mạng Đồng công, Mẹ cộng tác
với Chúa Kytô trong việc tái sinh chúng ta trong ơn thánh. Do
đó, Giáo hội vinh tụng Mẹ Maria là Mẹ ơn thánh. Mẹ là Mẹ chúng
ta vì Mẹ là Đấng Đồng công Cứu chuộc, và Mẹ là Đấng Đồng công
vì Mẹ là Mẹ chúng ta.
4.
Lc 1:26-38: Trong biến cố Truyền tin, Mẹ Maria khởi đầu vai trò
Đồng công với Chúa Cứu Thế. Lời thưa "Xin vâng" của
Mẹ là một sự chia sẻ thân mật với Thiên Chúa trong công trình
Cứu chuộc mà thiên sứ mặc khải cho Mẹ. Lời "xin vâng"
của Mẹ là lời Đồng công làm cho Chúa Ngôi Hai giáng trần nhập
thể trong cung lòng Mẹ, thành nên Chúa Giêsu làm người có thân
xác, để cứu chuộc loài người bằng cái chết hy tế đẫm máu trên
thập giá.
5.
Lc. 2:35: "Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu lòng Bà". Trong
dịp Mẹ Maria dâng Con trong Đền thờ, lời tiên tri của cụ già Simêon
tỏ ra cho Mẹ xem thấy tầm mức lịch sử Cứu độ của Con Mẹ, một sứ
vụ đầy đau khổ mà Mẹ phải sống trong sự đau khổ bên cạnh Chúa
Cứu thế khổ đau, và địa vị làm Mẹ của Mẹ sẽ bí ẩn và đớn đau.
6.
Ga 19:26: Mẹ Maria đứng dưới cây thánh giá Chúa Giêsu. Khi thấy
Mẹ và môn đệ yêu, Chúa Giêsu nói: "Hỡi Bà, này là Con Bà"
và nói với môn đệ: "Hỡi con, này là Mẹ con". Tiếng "Bà"
liên kết Mẹ Chúa Cứu thế với Người Nữ và dòng dõi cứu chuộc trong
tiền Phúc âm 3:15, sẽ cộng tác với Đấng Cứu thế trong việc chiến
thắng Satan, tội lỗi và sự chết. Bà đó là Mẹ Maria, là Nữ tỳ của
Thiên Chúa trong ngày thiên sứ truyền tin, sẽ là một Bà Mẹ chất
ngất đau thương cùng với Con hy tế đẫm máu cứu chuộc loài người.
7.
Kh 12:1-6: Đoạn Thánh kinh này nêu bật hình ảnh Chúa Kytô và Mẹ
Đồng công cứu chuộc loài người. Hình ảnh Mẹ Chúa Kytô trong cảnh
huy hoàng lộng lẫy của phẩm chức Mẹ Thiên Chúa. Hình ảnh Mẹ Đồng
công cứu chuộc trong cảnh tang thương cay đắng của phẩm chức Mẹ
loài người.
L.m.
Phêrô, CMC
|