03. TẠI
SAO PHẢI YÊU MẾN ĐỨC MẸ
Anh chị
em rất thân mến trong Chúa Kitô và Mẹ Maria.
Mùa hè năm
1980, tôi đã đến thăm một gia đình
Công Giáo Việt Nam định cư tại miền
Tây Hoa Kỳ. Trước kia, gia đình này là một
gia đình Công Giáo sùng đạo. Nhưng sau khi
sang Hoa Kỳ được 1 năm, đã nghe
lời dụ dỗ của Mục sư Tin Lành,
bỏ đạo Công Giáo để gia nhập
Tin Lành giáo.
Câu hạch
xách đầu tiên của gia trưởng này,
tôi đố anh chị em biết về vấn
đề gì đấy?
Đó là
hai câu phản đối, mà ý nghĩa chung quy chỉ
là một.
Câu thứ
nhất: Tại sao người Công Giáo lại
phải yêu mến Đức Mẹ?
Và câu thứ
hai: Người Công Giáo thờ Đức Mẹ.
Đó là trái luật Thánh Kinh.
Nghĩa
là: Tin Lành chĩa mũi giùi vào Đức Mẹ.
Gia chủ
còn trưng các câu Kinh Thánh, nhất là Cựu Ước,
để minh chứng cho lập luận đặc
mùi Tin Lành Thệ phản.
Tôi cũng
xin gia chủ và hai người con, một trai,
một gái đã trưởng thành, lấy Kinh
Thánh, mở trang diễn tả Chúa Cứu Thế
đã giáng sinh để tấn công lại.
Tin Lành rất
hãnh diện vì họ rất tôn kính sùng mộ Chúa
Giêsu Kitô, mà danh từ riêng của họ gọi
là Đấng Christ.
Tin Lành giáo
và Công Giáo giống nhau về một điểm:
Nhận biết, tôn thờ và yêu mến Chúa Giêsu
Kitô, Đấng Cứu Thế, bên Tin Lành quen gọi
là Cứu Chúa của họ.
Chúng ta tôn
kính, thờ phượng và yêu mến Chúa Kitô,
đó là điều hợp tình, hợp lý, thật
là chính đáng, phải đạo làm con.
Thế
nhưng, nếu là một người con có
hiếu với cha mẹ, thì ngoài việc tôn kính
hiếu thảo ra, con cái còn phải bắt chước
cha mẹ nữa. Bắt chước các nhân đức
và tính tốt của các ngài.
Đối
với Chúa Kitô cũng thế, ngoài việc tôn
thờ yêu mến, chúng ta còn phải bắt chước
gương sáng và việc làm của Ngài.
Một
điểm đầu tiên và cần thiết bắt
buộc chúng ta phải bắt chước Chúa
là tôn kính, mến yêu Đức Mẹ.
Chúng ta phải
tôn kính yêu mến Đức Mẹ như Chúa Kitô.
Chúng ta lại
phải tôn kính yêu mến Chúa Kitô như Đức
Mẹ.
Lý
do I:
Chúng ta phải
yêu mến tôn kính Đức Mẹ, vì chính Chúa
Kitô đã để gương lại cho chúng
ta.
Anh chị
em có biết không, trước khi mở chương
trình cứu chuộc loài người sa đọa,
Thiên Chúa đã phác họa ra nhiều phương
cách:
a. Chúa có
thể tuyên bố một câu: Ta tha hết các tội
lỗi Adam Evà và cả con cái miêu duệ từ
tạo thiên lập địa cho đến tận
thế. Tức thì tội lỗi nhân loại được
tẩy xóa ngay. Nhưng Thiên Chúa đã không làm như
thế.
b. Hoặc
Thiên Chúa có thế sai một vị tiên tri, hay một
sứ giả, rảo quanh trái đất, để
ban ơn tha tội cho mọi người. Nhưng
Thiên Chúa cũng không xài giải pháp đó.
c. Hay là
Thiên Chúa giáng trần với một con người
phi thường, hoặc mặc một thân xác
đã trưởng thành để thoát khỏi
cảnh lệ thuộc vào cha mẹ, rồi đi
khắp nơi truyền giảng chân lý Phúc Âm cho
nhân loại. Thế nhưng, Chúa Kitô đã không
làm như vậy.
Thiên Chúa
Ba Ngôi đầy uy quyền, đầy thông sáng
và khôn ngoan đã chọn một giải pháp đơn
sơ, thông thường, bình dị, giống hệt
con người, tức là lệ thuộc vào một
người Mẹ. Ngôi Hai Thiên Chúa đã mặc
xác loài người trong cung lòng Trinh Nữ Maria.
Ngài đã náu mình trong đó suốt chín tháng trời,
sống nhờ khí huyết và hơi thở của
bà Mẹ. Sau khi sinh, đã để cho bà Mẹ
nuôi dưỡng săn sóc, đúng hệt câu tục
ngữ Việt Nam: "Chín tháng cưu mang, ba năm
bú mớm". Nhưng không phải Chúa Giêsu chỉ
lệ thuộc vào người Mẹ trong thời
gian thơ ấu, mà suốt ba mươi năm
trường, Ngài luôn luôn ở bên người
Mẹ. Ngài đã nhận lấy Trinh Nữ cưu
mang sinh hạ Ngài làm Mẹ. Và người Trinh
Nữ được diễm phúc Chúa đặc
tuyển đó là ai? Thưa chính là ĐỨC MẸ
MARIA.
Trong ba năm
thoát ly gia đình để đi giảng đạo,
Đức Mẹ vẫn theo sát bên Con, và theo tình
hiếu thảo đậm đà của Chúa Cứu
Thế, có lẽ Ngài đã nhiều lần dẫn
các Tông đồ về thăm lại ngôi nhà mà
Ngài và Mẹ đã sinh sống 30 năm.
Như thế,
anh chị em đã thấy rõ điều chân thật
này:
Từ trời
xuống thế gian để cứu chuộc
nhân loại, Chúa Kitô đã qua con đường
Maria để đến với nhân loại.
Thì cũng
một đường lối đó, chúng ta muốn
về Trời với Chúa Ba Ngôi, cũng phải
qua con đường Maria.
Lý
do II:
Xét về
bản tính nhân loại, Thiên Chúa đã ban cho mỗi
người chúng ta một bà mẹ. Đó là khối
Tình Yêu. Đó là tổ ấm của chúng ta. Thì
về mặt siêu nhiên, thuộc đời sống
thiêng liêng vĩnh cửu, chúng ta cũng cần
có một bà mẹ để bảo vệ, săn
sóc và hướng dẫn chúng ta chiến đấu
với ma quỉ, vững bước trở về
Nhà Cha trên trời. Thiên Chúa khôn ngoan sáng suốt
vô cùng đã ban Đức Trinh Nữ Maria làm Mẹ
thiêng liêng, Mẹ phần linh hồn của chúng
ta.
Người
mẹ phần xác dù yêu thương con mấy,
một ngày kia cũng phải lìa con để
về bên kia thế giới. Nhưng người
Mẹ thiêng liêng Mẹ phần linh hồn hằng
theo sát chúng ta suốt cuộc sống tạm ở
trần gian mà cả trong cuộc sống vĩnh
cửu đời sau nữa.
Lý
do III:
Chúng ta phải
hết lòng tôn kính mến yêu Đức Mẹ,
vì Đức Mẹ là Đấng Trung Gian, ban
phát các ơn của Thiên Chúa.
Giáo Hội
Công Giáo hợp với các thánh Giáo phụ, nhất
là thánh Bênađô và thánh Bernađinô, đã đồng
thanh quả quyết rằng: "Chúa Thánh Linh,
Đấng thánh hóa nhân loại đã thông ban muôn
ơn phúc cao cả nhiệm mầu cho Đức
Mẹ Maria, và để Mẹ được
toàn quyền quyết định: muốn ban phát
cho ai, khi nào, cách nào và ban phát bao nhiêu là tùy ý Mẹ"
(Thành Thực Sùng Kính Đức Mẹ, trang 37,
No 25).
Như thế
là: "Tất cả các ơn Thiên Chúa ban xuống
cho nhân loại đều phải qua tay Đức
Mẹ Maria".
Anh chị
em thân mến!
Sống
trên đời đầy gian lao thử thách và
đau khổ này, chúng ta cần rất nhiều
ơn Chúa cả về phần xác lẫn phần
hồn. Vậy muốn lãnh nhận được
các ơn Chúa, bắt buộc chúng ta phải đến
Đức Mẹ. Càng tôn sùng kính yêu Đức
Mẹ, chúng ta càng được Đức Mẹ
ban phát các ơn của Chúa cho chúng ta.
Anh chị
em hãy nhớ kỹ lời thánh Gioan Đamascênô
quả quyết rằng: "Lòng thành thực
sùng kính mến yêu Đức Mẹ Maria là một
khí giới linh thiêng Thiên Chúa chỉ ban cho những
linh hồn được tiền định
cứu rỗi mà thôi" (Thành Thực Sùng Kính
Đức Mẹ, trang 51, No 41).
QUỶ
CA TỤNG ĐỨC MẸ
Xin anh chị
em hãy lắng nghe câu chuyện sống động
sau đây:
Tại
thành Marcasona nước Pháp, thời thánh Đaminh
còn sống, có một chàng thanh niên khô đạo,
đã cả dám ngạo mạn khinh chê phép lần
hạt Mân Côi mà Đức Mẹ dã truyền cho
thánh Đaminh phải cổ võ giáo dân thi hành. Chúa
đã để cho y bị quỉ ám để
tỏ rõ uy quyền Đức Mẹ.
Gia nhân dẫn
chàng thanh niên đến thánh Đaminh, xin ngài trừ
quỷ. Thánh nhân dạy đem anh ta đến
nhà thờ. Và trước mặt đông đảo
giáo dân, ngài hỏi ma quỷ lớn tiếng:
- Trên thiên
đàng, đừng kể Thiên Chúa Ba Ngôi, còn Đấng
nào mày sợ hơn cả?
Tên quỷ
la hét, tru trếu ghê rợn, chứ nhất định
không nói.
Thánh Đaminh
truyền cho hắn phải nói ra sự thật.
Hắn
miễn cưỡng chỉ xin được
nói nhỏ vào tai thánh nhân mà thôi. Nhưng thánh Đaminh
không chịu. Ngài liền sấp mình xuống đất
nài xin Đức Mẹ dùng quyền phép bắt
quỉ phải xưng thú công khai.
Ma quỉ
tinh khôn và xảo quyệt đáo để. Hắn
giả đò khiêm nhượng nói với thánh
nhân rằng:
- Chúng tôi
là kẻ dối trá, ngài đừng tin. Xin ngài
hãy nhờ các Thiên Thần là những kẻ thật
thà trả lời cho ngài biết.
Thánh Đaminh
đâu có chịu thua ma quỉ. Ngài lại sấp
mình xuống trước toà Đức Mẹ,
nài van Mẹ dùng quyền phép bắt ma quỉ
phải xưng thú ra, để giáo dân biết
rõ.
Tức
thì Đức Mẹ thân hiện, cầm roi đánh
tên quỉ, bắt buộc hắn phải thú ra.
Bấy giờ hắn kêu la rống hét có vẻ
hằn học tức tối với Đức
Mẹ, rồi nói to tiếng công khai rằng:
"Tất
cả mọi người hãy lắng tai mà nghe:
Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa có quyền phép
gìn giữ, bảo vệ những ai tôn kính Ngài
khỏi sa hỏa ngục. Ai sùng kính yêu mến
Ngài thật tình thì thoát khỏi tay chúng tao. Mỗi
lời Bà ấy xin cùng Thiên Chúa thì thần thế
và hiệu nghiệm hơn mọi lời các Thánh.
Ai sắp mất linh hồn sa hỏa ngục
mà kêu tên Maria, thế nào cũng được
cứu giúp. Nếu không có Bà Maria giúp đỡ,
che chở, thì đạo Công Giáo đã phải
vô cùng khốn đốn, khó lòng mà đứng
vững được trước sức tấn
công như vũ bão của chúng tao. Bà ấy ban
cho những ai siêng lần chuỗi Mân Côi được
khỏi mọi sự dữ, được ơn
ăn năn thống hối mọi tội lỗi
và được về thiên đàng".
(Cố Lương, Sách Tháng Đức Bà,
trang 38-40).
Anh chị
em rất thân mến,
Giờ
đây, chúng ta hãy đề cập đến
câu phản đối thứ II.
Đa số
anh chị em Tin Lành cho chúng ta là: Thờ Đức
Mẹ.
Không, trăm
lần không, ngàn vạn ức triệu lần
không. Công Giáo chúng ta không thờ Đức Mẹ.
Động
từ tôn thờ, hay là thờ phượng chỉ qui
về Thiên Chúa, Đấng tạo thành trời
đất mà thôi.
Thỉnh
thoảng một đôi khi chúng ta nghe mấy người
Công Giáo bình dân, ít học nói: "Mua một tượng,
chuộc một tượng Đức Mẹ
về thờ" là họ dùng sai danh từ, nhưng
tận thâm tâm họ không hiểu sai như vậy.
Cũng
như những câu dân Việt Nam năng dùng là:
"Thờ cha kính mẹ" hoặc "Thờ
ông bà". "Đạo thờ ông bà". Chữ
thờ ở đây có nghĩa là tôn kính. Mặc
dầu họ nói thờ cha mẹ, thờ ông bà,
nhưng tận thâm tâm, họ vẫn tin có Thượng
Đế, có ông Trời, có Đấng Tối
Cao, Ngài cai quản vũ trụ, Ngài cao cả
hơn hết thảy ông bà, cha mẹ. Người
Việt Nam chúng ta, mặc dù dùng sai danh từ:
Thờ ông bà, nhưng không bao giờ kể ông
bà cha mẹ như là Chúa Tể, là Thượng
Đế, là Đấng Tối Cao.
Đàng
khác, anh chị em Tin Lành trông thấy chúng ta đua
nhau chạy đến Đức Mẹ, đua
nhau tôn kính, yêu mến và làm vinh danh Đức Mẹ
bên ngoài như trang hoàng tòa Đức Mẹ tại
nhà thờ, hoặc tư gia rất lộng lẫy,
đầy hoa tươi, nến cháy; hoặc
tổ chức các cuộc cung nghinh Đức
Mẹ rất sầm uất v.v... thì kết cho
là thờ Đức Mẹ.
Thật
sự, có người Công Gíao Việt Nam nào, cũng
như Công Giáo thế giới, đã tôn sùng yêu
mến Đức Mẹ mà quên Chúa, bỏ rơi
Chúa hoặc tẩy chay Chúa đâu?
Trái lại,
vì nhận thấy mình hèn hạ, khốn nạn,
tội lỗi, không dám trực tiếp đến
trước tôn nhan Thiên Chúa, nên người Công
Giáo chúng ta đến cùng Đức Mẹ, nhờ
Mẹ bầu cử cùng Chúa cho mình ơn này ơn
khác. Giống hệt cảnh ngoài xã hội, nhiều
người muốn cho công việc được
mau kết quả, được nhà vua hay tổng
thống mau biết đến, thì họ đã
đi cửa sau, cửa tắt, tức là trực
tiếp chạy đến kêu cầu bà hoàng hậu,
hoặc bà tổng thống hay bà chủ tịch
để nhờ bà đệ đạt nguyện
vọng của mình lên cấp trên mau lẹ
hơn.
Chúng ta không
hề bao giờ coi Đức Mẹ là Thiên Chúa,
không bao giờ tôn thờ Đức Mẹ thay
Thiên Chúa. Làm như vậy, chúng ta đã trở
thành rối đạo. Người Công Giáo chúng
ta luôn luôn và mãĩ mãi "tôn thờ Thiên Chúa là
cha toàn năng, Đấng tạo thành trời
đất, muôn vật hữu hình và vô hình"
như kinh Tin Kính chúng ta đọc với linh
mục chủ tế các lễ Chúa nhật và lễ
trọng. Và chúng ta cũng hết lòng tôn kính mến
yêu Đức Trinh Nữ Maria, là Mẹ Ngôi Hai
Thiên Chúa, cũng là Mẹ yêu dấu của mỗi
người Công Giáo chúng ta. Ngài là Đấng giữ
kho ơn phúc của Thiên Chúa để phân phát
cho chúng ta.
Ngoài ba lý
do đã nêu trên, chúng ta sẽ lần lượt
tìm hiểu thêm các lý chứng mạnh mẽ bắt
buộc chúng ta phải tôn sùng mến yêu Đức
Mẹ, tôi sẽ lần lượt trình bày trong
các bài giảng tiếp theo sau.
Nhưng
tuyệt đối chúng ta không bao giờ tôn thờ
Đức Mẹ như Chúa Tể, mà anh chị
em Tin Lành, hoặc anh em thuộc các tôn giáo bạn
đã hiểu lầm chúng ta.
Tôi cũng
xin toàn thể anh chị em Công Giáo từ nay bỏ
hẳn các danh từ dùng sai, dùng không đúng, gây
ngộ nhận cho người khác.
Đó là
các câu: Mua tượng Mẹ, chuộc ảnh
tượng Đức Mẹ về thờ. Không
phải mua về để thờ, mà để
tôn kính.
Sau đây,
tôi xin kể cho anh chị em nghe một câu chuyện
tả rõ lòng thương của Mẹ trên các
tội nhân.
CÔNG
LÝ VÀ TÌNH THƯƠNG
Trong thời
Đại Cách Mạng của nước Pháp,
tức là năm 1789, tại một làng Công Giáo,
dân chúng tôn sùng một pho tượng Đức
Mẹ đặt một nơi tôn nghiêm đầy
hoa nến. Bọn Cách mạng Pháp muốn phá hủy
lòng tin nơi người Công Giáo, đã chủ
trương hủy bỏ pho tượng thời
danh đó. Chúng đua nhau chế nhạo, khinh
dể mỉa mai việc sùng kính của giáo dân.
Một đứa trong bọn, để tỏ
ra mình là anh hùng hảo hớn đã đề
nghị: Vứt tượng xuống giếng
sâu. Giêsu Maria! Mọi người đứng đắn
trong làng ghê tởm chuyện phạm thánh đó.
Nhưng chúng vẫn thực hiện ý định.
Tên anh hùng hảo hớn bắt tay vào việc
ngay, hăng hái hơn hết mọi người,
chúng khiêng thánh tượng ném xuống giếng
trong khi reo hò và buông lời phạm thượng.
Nhưng chẳng vui được lâu, tên đầu
sỏ bị Thiên Chúa phạt mù hai mắt ngay
lập tức. Hắn phải nhờ chúng bạn
dắt về nhà. Dầu vậy, hắn vẫn
không tỏ dấu ăn năn, mà còn chống
đạo mạnh mẽ hơn nữa!
Mười
năm sau, tức là năm 1799 hoà bình trở lại,
tôn giáo được phục hồi và phát triển,
nhưng tượng Đức Mẹ vẫn
còn nằm dưới đáy giếng rất sâu.
Mọi tín hữu đau lòng. Một hôm cha sở
lên tòa giảng hô hào rằng:
"Kính
thưa anh chị em! Chúng ta cần phải
làm việc đền tạ Đức Mẹ,
đồng thời phải đưa thánh tượng
Đức Mẹ lên khỏi giếng".
Mọi
người đồng ý. Một ngày đã được
chọn. Dân chúng tụ họp đông đủ
chung quanh giếng, chỉ còn thiếu cha sở.
Bỗng từ xa tiến lại, cha sở tay
dắt anh mù, kẻ đã chủ mưu ném tượng
xuống giếng ngày xưa, đang tiến lại.
Dân chúng la ó, đả đảo tên thủ phạm.
Cha sở
làm hiệu cho mọi người im lặng, rồi
lên tiếng nói:
"Anh
chị em rất thân mến, người mù hôm
nay đến với chúng ta đầy lòng thống
hối, muốn xin chúng ta tha tội tầy trời
anh đã phạm xưa. Anh đã tha thiết xin
tôi tha và cũng xin anh chị em tha nữa. Anh ta
cũng xin được phép chung tay với chúng
ta kéo tượng Đức Mẹ lên. Chắc
chắn Chúa và Đức Mẹ đã tha thứ
cho anh, vì anh đã nhận tội mình và hình phạt
vì tội".
Dứt
lời cha nói, người mù cũng giơ cao
hai tay, mắt tràn lệ, nài xin dân chúng tha thứ
và quên đi mọi tội lỗi của anh. Lương
tâm anh hằng cắn rứt suốt 10 năm
nay, như lời anh thú.
Dân chúng
đồng thanh hô to: "Chúng tôi quên hết, quên
tất cả. Chúng tôi sẵn sàng tha thứ hết".
Rồi
người ta dắt anh mù đến sát bờ
giếng, họ đưa một đầu giây
kéo cho anh mù cầm. Một người leo thang
xuống giếng buộc thánh tượng còn
nguyên vẹn, mặc dù đã ngâm dưới nước
từ 10 năm qua.
Sau khi buộc
chặt đầu giây vào tượng, giáo dân
bắt đầu hát Kinh Cầu Đức Mẹ,
vừa hát vừa nỗ lực kéo tượng
Mẹ lên. Thánh tượng tuy rất nặng,
nhưng đã từ đáy giếng rất sâu
lên tới bờ giếng an toàn.
Khi giáo dân
vừa trông thấy thánh tượng Mẹ, liền
vỗ tay reo hò và tung hô ầm ĩ vang dậy
một góc trời. Bỗng một tiếng hô
lớn át hẳn tiếng hò reo, mọi ngưòi
sửng sốt im lặng, lắng nghe:
"Tôi
đã khỏi mù! Tôi đã khỏi mù!"
Thì ra, anh
chàng phạm thánh vui mừng hớn hở kêu to
lên trong lúc hai gối quỳ phục bên bờ
giếng, hai tay giơ cao lên trời, lòng đầy
sốt sắng và cảm động.
Mọi
người bỡ ngỡ, nhưng vui sướng
tràn ngập cõi lòng. Anh mù theo đoàn người
rước tượng Đức Mẹ đến
nơi tôn kính cũ. Anh còn sống đạo đức
sốt sắng lâu năm, để ca tụng
lòng thương xót vô biên của Đức Mẹ.
(Trích La Vierge Marie, trang 96).
Lạy
Mẹ Maria! Xin Mẹ dạy chúng con biết yêu
mến Chúa Kitô là Con Cưng chí ái của Mẹ
như Mẹ đã yêu mến Ngài.
Chân thành
cám ơn toàn thể anh chị em.
Lm.
An Bình, CMC
|