16.
MẸ MARIA TRÔNG CẬY VỮNG VÀNG
CẬY TRÔNG VÀO CHÚA
"Cậy vào Chúa tôi đâu còn sợ
"Đố phàm nhân làm chi nổi tôi nào?" (Tv. 55:5)
Kính thưa toàn thể anh chị em,
Đó là câu Thánh vịnh của Thánh vương Đavít mà ngày nay Giáo sĩ
và Tu sĩ nam nữ thường đọc trong Sách Nguyện các Giờ Kinh. Đó
cũng là câu tôi cảm thấy sung sướng và thích thú nhất mỗi lần
đọc đến. Nếu tôi được phép thêm, tôi sẽ thêm vào câu Thánh Vịnh
đó như sau:
"Cậy trông vào Thiên Chúa, tôi không hề sợ hãi.
Đố phàm nhân cùng ma quỉ làm chi nổi được tôi!"
Phải thách đố cả ma quỷ nữa, vì đa số nỗi lo âu sợ sệt của chúng
ta là do ma quỉ gây ra.
Phải rồi, một khi chúng ta được Thiên Chúa che chở phù hộ, thì
ai làm gì được chúng ta? cho dù ma quỷ có tài khéo, đầy mưu mô
xảo quyệt, cũng không thể vượt qua quyền phép vạn năng của Thiên
Chúa.
Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta đã hơn một lần trông thấy
các em bé, cả trai lẫn gái, mới một hai tuổi, đang bước đi lẫm
chẫm, hễ các em trông thấy người lạ, mặc dù người lạ đó âu yếm
vẫy tay mời gọi các em, hoặc đưa bánh quà ra tặng các em, thế
mà các em vẫn sợ hãi khóc thét lên, rồi cuống quít chạy tọt vào
lòng mẹ. Sau khi được an toàn bên lòng mẹ giữa hai tay mẹ ôm chặt
lấy mình rồi, em bé nhoẻn miệng cười hồn nhiên với cặp mắt nhìn
chòng chọc vào đối phương mà không chớp, như ngầm mách bảo rằng:
"Đã có má gìn giữ, bé không còn sợ nữa đâu!"
Quả thật lòng người mẹ luôn luôn và mãi mãi là pháo đài kiên cố,
là hầm trú ẩn an toàn cho đoàn con.
Không những loài người luôn bám chặt vào lòng mẹ khi gặp nguy
biến, mà ngay cả loài vật, một loài không có trí khôn, cũng hành
động như thế.
Ông Thompson, một ngưòi Mỹ chuyên môn đi săn thú vật vùng núi
North Dakota đã kể lại rằng:
Một hôm gặp được một con dê rừng dẫn hai dê con đang ăn lá trong
một bụi rậm ở sườn núi, ông mừng rỡ hân hoan nghĩ thầm rằng, hôm
nay mình được một món bở. Ông liền chạy theo, nhằm con dê mẹ để
bắn cho què giò, rồi sẽ bắt sống hai dê con. Nhưng dê mẹ khôn
lanh đã lùa cho 2 dê con chui vào hốc đá, rồi đứng án ngữ ngoài
cửa hốc đá, để bảo vệ an toàn cho hai đứa con, không muốn cho
bất cứ ai động chạm đến con của mình. Phần hai dê con, đã nép
kín trong hốc đá sau lưng mẹ mình, coi như là pháo đài kiên cố,
rồi phó thác mạng sống cho mẹ mình canh giữ.
Thấy cảnh tượng cảm động đó, ông Thompson ngừng tay súng, lủi
thủi bước xuống khỏi sườn núi, không dám xúc phạm đến mối tình
mẫu tử thắm nồng của ba mẹ con chị dê rừng nữa.
Chính mắt tôi, và có lẽ cả anh chị em nữa, đã hơn một lần mục
kích bầy gà con đang rảo bước quanh gà mẹ để kiếm mồi. Bất ngờ
có một tiếng động mạnh do máy xe nổ, hoặc tiếng quạ kêu, diều
hú, hay là tiếng chân người tiến lại, thì chẳng con nào bảo con
nào, tất cả các gà con đã nhanh nhẩu chạy nấp dưới bụng gà mẹ.
Rồi gà mẹ nằm rạp xuống, dùng bụng và 2 cánh phủ kín đàn con,
cặp mắt đảo liếc khắp nơi, cổ rướn lên cao, sẵn sàng chiến đấu
để bảo vệ đàn con. Đang náu ẩn trong khu an toàn đó, chốc chốc
một vài gà con tò mò, dùng mỏ vén lông bụng hoặc cánh gà mẹ, nhìn
ra ngoài để quan sát tình hình, rồi lại rụt đầu vào bụng mẹ. Đứng
ngoài nhìn, đố ai thấy gà con đâu!
Trông thấy cảnh tượng đượm tình mẫu tử thắm nồng đó, ai còn đang
tâm làm hại các con cái của chị gà mẹ nữa!
Vậy tôi xin hỏi anh chị em: Ai đã dạy cho các em còn bé tí, cũng
như loài vật còn nhỏ, biết cậy trông vào người mẹ của mình như
thế? Và một khi đã nằm gọn vào lòng mẹ rồi, chúng nó chẳng còn
lo sợ gì dưới thế gian này nữa?
Chắc chắn anh chị em sẽ trả lời rằng: Đó là một hành động theo
bản năng thiên phú, tức là bản năng Thiên Chúa đã phú bẩm cho
loài người cũng như loài vật khi vừa mới sinh ra.
Phải rồi, đó cũng là một lý lẽ để chứng minh hùng hồn rằng: Có
Thiên Chúa, Đấng đã tạo thành vạn vật.
Anh chị em rất thân mến,
Mối tình mẹ chăm sóc bảo vệ đàn con và con cái cậy trông phó thác
vào mẹ, đó là phản ảnh trung thực mối tình vĩ đại Thiên Chúa dành
để cho chúng ta. Như thế, mối tình mẫu tử chỉ là hình ảnh mà thôi.
Tình Chúa yêu ta, che chở bênh vực chúng ta, mới là nguồn gốc
mọi mối tình mẫu tử khác.
CHÚA LÀ HẠNH PHÚC CỦA CON
"Chúa là hạnh phúc của con Chúa ơi!
Chúa là hoan lạc đời con".
Kính thưa toàn thể anh chị em, khi nghe hát câu Thánh Vịnh đó,
anh chị em có cảm động không? Phần riêng tôi rất xúc động!
Vì tôi cảm nghiệm rằng: Thiên Chúa mới là nguồn hạnh phúc, nguồn
hoan lạc của chúng ta. Tại sao có nhiều người, kể cả người Công
Giáo nữa, không lo tìm kiếm chính nguồn hạnh phúc, nguồn tình
yêu và nguồn hoan lạc đó, lại lo chạy kiếm tìm hạnh phúc, hoan
lạc và tình yêu tạm bợ của trần gian đến nỗi bị thiệt thòi cả
mạng sống!
Chắc anh chị em đã hơn một lần được nghe người ta ca lên:
"Sống không tình yêu là chết mà biết thở!"
Thế rồi người ta đua nhau lao đầu vào tình yêu tạm bợ giống như
những con thiêu thân lao đầu vào ngọn lửa, để rồi bị sém cánh
hoặc bị chết thiêu! Nào có ai trên đời đã được hoàn toàn thỏa
mãn vì tình yêu thế tục đâu? Có ai đã không gặp khổ đau vì tình
đời phụ bạc trong cuộc sống trần gian đâu? Vì thế, một thi sĩ
ẩn danh đã đặt ra câu thơ đầy ý nghĩa này:
"Tình trường là chốn đầy Hoa
Bước chân vào đó phải sa lụy sầu!"
Chưa hết đâu bà con cô bác! Thiên hạ còn đua nhau tìm kiếm hạnh
phúc và hoan lạc nơi Tiền Của nữa. Vì theo câu tục ngữ Việt Nam:
"Có tiền mua Tiên cũng được" mà!
Nhưng chúng ta cần lưu ý lời Thánh Phaolô Tông Đồ Cả đã nhắc khéo
chúng ta rằng: "Tiền tài là phân thổ"!
Ngoài tình và tiền ra, người ta còn tìm kiếm công danh và địa
vị nữa. Như câu tục ngữ Việt Nam tả rõ: "Một miếng giữa làng
bằng một sàng trong bếp". Có nghĩa là dù được một tí chức
tước danh vọng trong làng cũng bằng cả đống danh dự chức quyền
tại gia đình và dòng tộc mình. Và câu khác thực tế hơn: "Được
tiếng khen ho hen chẳng còn"!
Thế nhưng, sau khi đã nếm đủ mọi sung sướng trần gian, kể cả tình,
tiền, tài, danh, lợi, không thiếu một sự gì, thì vua Salomon,
một ông vua giầu có và khôn ngoan nhất thế giới, đã phải thốt
lên một câu trước khi chết, làm danh ngôn cho hậu thế.
"Vanitas Vanitatum omnia Vanitas", có nghĩalà:"Mọi
sự đều phù vân giả trá hết!"
Chính Chúa Kitô cũng đã phán dạy rõ ràng: "Được lời lãi cả
thế gian mà mất linh hồn, nào được ích gì?" (Mt 16:26).
Kính thưa anh chị em!
Như thế, anh chị em đã thấy rõ:
Chỉ có Thiên Chúa mới là nguồn Tình Yêu, nguồn Hạnh Phúc và nguồn
Hoan Lạc chân chính, trường cửu cho con người mà thôi. Ngoài Chúa
ra, mọi sự đều tạm bợ, nhất thời và phù vân giả trả hết! Chúng
nó sẽ lìa bỏ chúng ta sau khi chúng ta nhắm mắt xuôi tay về bên
kia thế giới.
Vì thế, bao lâu còn sống tạm trên cõi đời này, xin anh chị em
hãy cậy trông vào Chúa, dù ở địa vị nào, hoàn cảnh nào, anh chị
em cũng đừng bao giờ chán nản hay thất vọng. Chúa là nguồn hy
vọng của anh chị em. Trong khi gặp may mắn, bằng an, mọi công
việc đều xuôi thuận, chúng ta cậy trông Chúa đã đành, mà ngay
cả khi chúng ta gặp gian lao, đau khổ, thử thách, hoặc thất bại,
chúng ta lại cần phải cậy trông vào Chúa hơn nữa. Vì các Thánh
thường nói:
"Giờ thất vọng là giờ của Thiên Chúa"
Thánh vịnh 17 của Thánh vương Đavít cũng làm cho chúng ta vững
trông vào Chúa: "Thiên Chúa là sức mạnh, là đá tảng, là đồn
lũy chở che, là nơi tôi nương ẩn, là thuẫn đỡ, là Đấng giải thoát
tôi" (Tv 17:2-3).
MẸ MARIA TRÔNG CẬY VỮNG VÀNG
Anh chị em nên nhớ: Không một vị Thánh nào lúc còn sống ở thế
gian mà không có lòng trông cậy vào Chúa. Vì đời là bể khổ, là
nơi sống tạm để giao chiến với ba kẻ thù lợi hại và nguy hiểm
nhất, đó là: Xác Thịt, Thế Gian và Ma quỷ.
Nhưng chưa có vị Thánh nào trên trời cũng như chưa một phàm nhân
nào dưới đất có lòng trông cậy mạnh mẽ, vững vàng cho bằng Đức
Mẹ Maria, Mẹ yêu dấu của chúng ta. Giờ đây chúng ta hãy lướt qua
cuộc sống tạm của Mẹ giữa trần gian sẽ thấy rõ điều đó.
Khi Mẹ Maria vừa lên ba tuổi, cái tuổi mà, theo quan niệm người
Việt Nam thì : "Ăn chưa no lo chưa tới", tuổi đang phải
sống dựa vào ba má, để ba má âu yếm, săn sóc và nuôi dưỡng, thế
mà bé Maria sau khi được ơn Chúa soi sáng và hướng dẫn, đã nhất
quyết từ bỏ cha mẹ, vào tu trong Đền Thánh Giêrusalem, để lại
cha mẹ già cảnh đơn côi tẻ lạnh. Nhưng Mẹ Maria đầy lòng trông
cậy vào Chúa. Phó thác song thân yêu dấu cho Thiên Chúa và tin
tưởng rằng Chúa sẽ lo liệu mọi nhu cầu cho ba má.
Đến 15 tuổi, Mẹ Maria lại được Sứ Thần Thiên Chúa đến đề nghị
chịu thai Chúa Cứu Thế. Mẹ đã tỏ vẻ thắc mắc vì mình đã khấn giữ
Trinh Khiết trọn đời; nhưng sau khi được Sứ Thần giải thích: Thụ
thai không do loài người mà do quyền phép Thiên Chúa và sinh con
vẫn còn trinh khiết vẹn tuyền, thì Mẹ hoàn toàn cậy trông vững
mạnh vào Thiên Chúa.
Nhưng theo thiển ý của tôi, lòng trông cậy của Mẹ Maria mạnh mẽ
nhất, vững vàng nhất và nổi nang nhất là lúc được tin thánh Giuse
báo phải đem trẻ Giêsu cấp tốc di tản sang Ai Cập.
Lần đề nghị mang thai, Sứ Thần đã trực tiếp báo tin và giải thích
cặn kẽ cho Đức Mẹ. Lần di tản này, chỉ do Thánh Giuse báo và không
có một lời giải thích: Đi đâu? Đến đó làm gì? Ai sẽ giúp đỡ về
vật chất? Sẽ tạm trú ở đâu? Vì nước Ai Cập đối với Thánh Gia là
cả một xa lạ: không bà con thân thích, không bạn bè quen biết!..
Với một lòng cậy trông vững mạnh vào Thiên Chúa, Đức Mẹ vâng lời
ngay. Đây là tiếng FIAT (Xin Vâng) thứ hai, cách lời Fiat thứ
nhất ngày Truyền Tin chừng 10 tháng. Mẹ không đặt câu hỏi với
thánh Giuse để biết thêm lý do và các chi tiết. Mẹ không phiền
trách Thánh cả: tại sao lại đi vội vã đêm hôm, không kịp chào
từ biệt những người thân quyến? Cũng không kịp mua sắm gì cho
Ấu Chúa trong lúc đi đường xa?
Mẹ cũng không kỳ vọng vào phép lạ mà có lẽ rằng Ấu Chúa sẽ làm,
vì theo kinh nghiệm lần khai sổ gia đình tại Bêlem, Mẹ và Thánh
Giuse không thể tìm được nhà trọ, Ấu Chúa vẫn mần thinh. Đến nỗi
phải sinh hạ Ấu Chúa tại chuồng bò lừa, Ấu Chúa vẫn chấp nhận.
Nói tóm lại: Mẹ Maria phải trông cậy về ba phương diện:
1/ Trông cậy cho chính mình. 2/ trông cậy cho Con của Mẹ, và 3/
Trông cậy cho toàn thế giới.
1 - Mẹ Maria Trông Cậy Cho Chính Mình. Xin anh chị em suy cho
kỹ: Suốt cuộc sống trần gian của Mẹ, Thiên Chúa đã bao trùm biết
bao là mầu nhiệm cao cả: Mầu Nhiệm Vô Nhiễm Tội - Mầu nhiệm làm
Mẹ mà vẫn Toàn Trinh - Mầu nhiệm Ngôi Hai mặc xác loài người -
Mầu nhiệm Đau Khổ vv.
Vì thế Mẹ phải sống bằng đức Trông Cậy. Mặc dầu các mầu nhiệm
đó vượt khỏi trí óc loài người của Mẹ, nhưng Mẹ vẫn trông cậy
vào quyền phép vạn năng và tình thương vô hạn của Chúa, nên Mẹ
luôn phó thác cho Chúa, như em bé nằm gọn trong lòng bà mẹ. Mẹ
luôn nhớ lời Sứ Thần Gabriel đã minh xác với Mẹ ngày Truyền Tin
rằng: "Đối với Thiên Chúa, không có sự gì là không có thể"
(Lc 1:37).
2 - Mẹ Maria Trông Cậy Cho Con Mình. Như chúng ta đã biết các
tiên tri cũng như Sứ Thần Gabriel đã loan báo về Cậu Ấm duy nhất
của Mẹ: Nào Người là Con Đấng Tối Cao, cai trị đời đời nhà Giacóp,
nào vương quyền Ngài bành trướng vô biên cương, nào Ngài là Chiên
Thiên Chúa, ngang hàng với Thiên Chúa Cha và quyền phép vô song
v.v.. Trong khi đó thì hết biến cố này đến biến cố khác tiếp tục
nối đuôi nhau xảy tới cho Con yêu dấu của Mẹ, kể từ ngày Ngài
được sinh ra trong hang bò lừa, cho đến ngày Ngài chịu chết cách
ố nhục trên thập giá, biến cố nào cũng xem ra ngược hẳn lại những
điều đã tiên báo!
Nhưng Mẹ Maria chỉ dùng Đức Tin và Đức Cậy mà sống. Mẹ Maria hết
lòng Trông Cậy cho Con yêu dấu của Mẹ được làm tròn sứ mệnh mà
Thiên Chúa Cha đã trao phó. Mặc dầu trước các biến cố đau thương
dồn dập xảy đến cho Con, thì lòng Bà Mẹ đã phải đau đớn như chính
mình phải chịu. Đức Trông Cậy đã nâng đỡ Mẹ để sống mỗi ngày.
3 - Mẹ Maria Trông Cậy Cho Giáo Hội và Thế Giới. Chắc anh chị
em đã biết: Giáo Hội sơ khai mà Chúa Giêsu vừa thành lập với 12
Tông Đồ và 72 Môn Đệ đã được Chúa huấn luyện suốt ba năm trời,
thì nay bề ngoài xem ra như tan rã! Thày Giêsu bị bắt, các đồ
đệ của Thày kẻ thì chối Thày, kẻ khác lại nộp Thày, các kẻ còn
sót lại thì gác giò lên vai chạy bán sống bán chết, để Thày trơ
trụi một mình bị bắt, bị tra tấn, đánh đập, bị vác khổ giá nặng
và cuối cùng bị đóng đinh chết tức tưởi trên thập giá! Bề ngoài,
kẻ thù của Chúa Kitô coi như đã đắc thắng! Chúng mừng vui như
mở cờ trong bụng và nghĩ tưởng rằng, phen này tà giáo Giêsu Kitô
sẽ bị chúng tiêu diệt hết!
Chỉ còn một mình Mẹ Maria là đứng vững, tràn đầy Đức Tin và Đức
Cậy. Mẹ không thất vọng. Nhưng trái lại Mẹ tràn đầy hy vọng. Mẹ
trông cậy vào lời Chúa Kitô phán: Chúa Kitô sẽ phục sinh.
Và trong thời gian Giáo Hội sơ khai coi như bị tan rã, thì Đức
Mẹ đã làm gì?
- Mẹ đã an ủi những Môn Đệ còn trung thành. Mẹ khích lệ những
Môn Đệ đã sa ngã vì yếu đuối. Mẹ chiêu mộ tất cả các Tông Đồ và
Môn Đệ của Chúa Kitô lại để cầu nguyện, hy vọng và trông đợi Chúa
Phục Sinh.
Đức Cậy của Mẹ đã làm cho Giáo Hội cùng sống lại với Chúa Kitô.
Đức Trông Cậy của Mẹ còn bao trùm khắp thế giới, cả trên các người
công chính cũng như những tội nhân. Mẹ giúp họ hiên ngang bước
theo Thầy Chí Thánh và ai vì yếu đuối ngã quỵ, Mẹ nâng họ chỗi
dậy, đặt hết niềm tin, niềm trông cậy ở phúc trường sinh Thiên
Đàng để họ cố gắng cải thiện cuộc sống. Ôi! Đức Trông Cậy của
Mẹ rạng ngời và vững mạnh dường nào!
ÁP DỤNG THỰC HÀNH
Anh chị em rất thân mến,
Chúng ta rất sung sướng vì đang có Đức Mẹ. Chúng ta cũng rất hãnh
diện vì tự nhận mình là con riêng của Đức Mẹ. Vậy chúng ta hãy
tha thiết nài van Đức Mẹ giúp chúng ta biết tin tưởng, cậy trông
và phó thác vào Thiên Chúa.
Chính Đức Mẹ đã phán với chị Luxia lần hiện ra ngày 13 tháng 6
năm 1917 tại Fatima, khi thấy Luxia tỏ ra buồn rầu lo sợ vì phải
ở thế gian lâu: "Hỡi con, đừng sợ. Trái Tim Mẹ sẽ là nơi
con ẩn náu và là đường dẫn con đến với Chúa".
Đức Mẹ sẽ dẫn dắt ta tới Chúa, tức là sau khi chết rồi, Mẹ sẽ
dẫn chúng ta về Trời hưởng kiến thánh nhan Thiên Chúa. Vì thế
xin anh chị em đừng sợ. Hãy hết lòng trông cậy vào Chúa và Đức
Mẹ. Chúa và Đức Mẹ không bao giờ bỏ kẻ đã đặt hết niềm tin tưởng
cậy trông và phó thác vào các Ngài.
Nhưng xin anh chị em lưu ý: Chúng ta cần đặt hết niềm tin tưởng
cậy trông vào Chúa và Đức Mẹ trong khi chúng ta gặp gian nan,
đau khổ, thử thách, nói tóm lại là tất cả những gì xảy đến cho
chính chúng ta hoặc cho gia đình chúng ta, mà trái với ý muốn
tự nhiên của chúng ta. Trong những lúc này, chúng ta càng tăng
nhiệt độ lòng cậy trông lên mạnh mẽ hơn.
Một hôm trời nổi phong ba bão tố, sấm chớp rền vang, thế mà vua
Xêsarê một mực xuống tàu vượt biển, để sang thăm ông vua một nước
láng giềng như đã loan báo. Thuyền trưởng và thủy thủ đoàn phải
tuân lệnh ra đi, tâm hồn lo âu sợ sệt. Tàu ra giữa biển thì gặp
gió to, sóng lớn, lại thêm mưa bão, làm con tàu bập bềnh, lắc
lư, như muốn chìm xuống lòng biển! Thuyền trưởng điều khiển con
tàu đến toát mồ hôi, và bụng bảo dạ: e không thoát khỏi tử thần,
và có lẽ thủy thủ đoàn sẽ làm mồi cho cá biển!
Thấy thuyền trưởng và thủy thủ đoàn khiếp sợ quá, vua Xêsarê nghiêm
nét mặt quát to:
- "Các ngươi lo sợ gì? Chớ thì các ngươi không biết rằng,
hiện có Xêsarê Đại Đế đang ở dưới tàu với các ngươi ư?"
Lời nói đanh thép và quả cảm đó như liều thuốc linh diệu, đã đánh
tan mối lo sợ khiếp đảm của thuyền trưởng và thủy thủ đoàn.
Anh chị em thân mến,
Trường hợp này giống hệt trường hợp Chúa Giêsu đi thuyền với các
Môn Đệ trên hồ Tibêria bị cơn bão bất thình lình mà Chúa vẫn ngồi
ngủ. Các Môn Đệ sợ hãi cuống quít đã đánh thức Chúa dậy xin cứu
chữa, thì được Chúa mắng yêu: "Thầy hiện diện đây, sao các
con còn sợ hãi?"
Chớ gì trong đời sống thường ngày của anh chị em, khi gặp phong
ba bão táp giày vò thân xác và tâm hồn, anh chị em chớ nản lòng
rủn chí. Hãy vững lòng trông cậy vào Chúa và Đức Mẹ. Chính Chúa
đang ngự trong lòng anh chị em sẽ nói với anh chị em: "Cha
có mặt bên con đây. Con đừng sợ".
Sau đây, tôi xin cống hiến anh chị em một câu truyện lý thú, để
anh chị em tăng bội lòng trông cậy tín thác vào Chúa và Đức Mẹ
hơn.
Ở
KỊCH THÀNH CÔNG NHẤT
Cha Rho trong sách Sabati del Gesu Esempio 28 và cha Lyrêô trong
sách Trisagium Marianum cuốn III đã thuật lại câu chuyện sau đây
xảy ra tại Guenđrê khoảng năm 1465.
Một thiếu nữ tên là Maria được cậu sai đi chợ tại Nimêga mua vật
dụng và chiều về đến trọ trong nhà bà dì tại thành phố Nimêga.
Cô nhanh nhẹn vâng lời ông cậu. Nhưng chiều hôm đó, tìm được nhà
bà dì, thì bà này không đón tiếp, lại giận ghét hất hủi đuổi cô
đi, buộc lòng cô lại phải trở về nhà. Giữa đường, đêm xuống mịt
mù tăm tối, tâm hồn vừa bực tức vừa sợ sệt, cô gọi ngay quỷ đến
giúp cô. Tức thì một tên quỷ đội lốt người đến gặp cô. Nó hứa
sẽ bênh cô nhưng với điều kiện. Cô Maria thắc mắc hỏi hắn:
Ông muốn tôi làm gì bây giờ?
Hắn trả lời ngay: Tôi muốn từ nay cô đừng làm dấu thánh giá nữa
và phải đổi tên!
Cô
Maria trả lời: Bỏ dấu thánh giá thì được, từ nay tôi sẽ không
làm nữa. Còn tên của tôi là Maria thì tôi không muốn đổi, vì tên
ấy rất đẹp, rất có ý nghĩa, nên tôi thích lắm.
Thằng quỷ nói dỗi ngay: "Thế thì thôi, chả giúp gì nữa đâu!"
Sau một hồi lời đi tiếng lại, cả hai cùng đồng ý bỏ một số chữ
trong tên Maria, chỉ giữ lại chữ đầu là M và chữ cuối là A và
gọi là cô EMMA. Sau đó, hai người dẫn nhau sang thành phố Anve.
Ối giời đất ơi! Thằng quỷ đã chiều cô ta hết cỡ! Suốt 6 năm ở
đó, Emma đã sống cuộc đời trác táng với thằng quỷ đội lốt người
này, đến nỗi dân chúng đều cho là vết ô nhục cho cả thành phố!
Một hôm, Emma rộn lên mối tình vời vời nhớ quê hương, đòi tên
quỷ cho nàng trở về làng quê cũ. Ban đầu quỷ không chịu, nhưng
cuối cùng hắn phải chiều theo ý nàng. Cả hai trở về thành Nimêga.
Một chiều nọ, dân Công Giáo thuộc thành phố này diễn vở tuồng
tả lại cuộc đời của Đức Mẹ, nàng cương quyết đến tham dự. Tên
quỷ cũng gượng gạo đi theo nàng. Khi xem lại cuộc sống của Đức
Mẹ ở trần gian xưa, thì một tàn lửa yêu mến Đức Mẹ còn âm ỉ tận
đáy lòng Emma bỗng dưng bùng cháy lên, nàng khóc sướt mướt vì
cảm động và hối hận. Tên quỷ kia cau có, nói với nàng: "Lại
muốn làm trò hề hả? Thôi, ở đây làm gì nữa?" Nói xong nó
kéo Emma ra khỏi hội trường, nhưng nàng cương quyết cự lại không
chịu đi theo. Thằng quỷ thấy Emma muốn thoát khỏi sự ràng buộc
với hắn liền căm tức tột độ, rồi ôm lấy người Emma tung lên trên
sân khấu. Rất may khi rơi xuống, nàng không bị gẫy tay hoặc gẫy
cổ, mà chỉ đau ê ẩm thân mình. Nàng kể hết câu chuyện cho những
người hữu trách buổi văn nghệ đó, rồi xin được gặp cha xứ, để
tỏ bày tâm sự cho ngài và xin xưng tội.
Cha xứ dã gởi nàng lên Đức Giám Mục thành Bologna. Gặp vấn đề
nan giải hi hữu này, Đức Cha lại gửi nàng sang gặp Đức Giáo Hoàng.
Nghe và giải tội cho nàng xong, Đức Thánh Cha ra việc đền tội
cho nàng là phải mang mãi ba vòng xích sắt: một vòng ở cổ và hai
vòng ở hai tay. Nàng hoàn toàn vâng phục và đến Maestricht xin
vào một Tu viện dành cho các phụ nữ sám hối. Ở đây, Emma hăng
hái làm việc đền tội rất nhiệm nhặt.
Sau 14 năm sống khổ hạnh, một buổi sáng đẹp trời, khi thức dậy,
nàng thấy cả 3 vòng xích đã bị bẻ gẫy lúc nào rồi. Và hai năm
sau đó, nàng đã chết bằng an trong hương thơm thánh thiện. Nàng
đã để lại tờ di chúc xin được mai táng với ba vòng xích đã cứu
nàng thoát ách nô lệ ma quỷ, để trở thành một người con của Đức
Mẹ (Vinh Quang Đức Mẹ Maria I, trang 284-286).
"Chúng con trông cậy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời. Xin chớ
chê, chớ bỏ lời chúng con nguyện trong cơn gian nan thiếu thốn.
Đức Nữ Đồng Trinh hiển vinh sáng láng."
Chân thành cám ơn toàn thể anh chị em.
Lm.
An Bình, CMC
|