|
THỤ
THAI ĐỒNG TRINH
Xem:
- Truyền Tin
- Đồng Trinh Trọn Đời
Đức Ma-ri-a thụ thai Chúa Giê-su mà vẫn còn đồng trinh, “không
biết đến người nam.” Hai Phúc Âm có minh chứng điều này, và các
tín biểu cổ xưa nhất cũng tuyên xưng như thế: “Tôi tin... Chúa
Giê-su Ki-tô... đã đầu thai bởi phép Chúa Thánh Thần, được sinh
ra bởi Đức Bà Ma-ri-a Đồng Trinh và đã làm người.”
Các nhà Cải Cách Tin Lành thế kỷ XVI như Lu-tê-rô, Guyn-li (Zwingli),
Can-vanh... đã giảng dạy về sự đồng trinh của Đức Ma-ri-a, Mẹ
Chúa Giê-su mà không hề nghi vấn. Việc Chúa Giê-su được đầu thai
trinh khiết gắn liền mật thiết với mầu nhiệm Nhập Thể.
1. Chứng Cứ Phúc Âm
Thực sự Phúc Âm Mát-thêu và Lu-ca đều nói tương tự: “Trước khi
họ về chung sống với nhau, Ma-ri-a đã thụ thai do quyền năng Chúa
Thánh Thần” (Mt 1:18); “Chúa Thánh Thần sẽ đến trên Bà và quyền
năng Đấng Tối Cao sẽ bao trùm Bà” (Lc 1:35).
Giữa hai chứng cứ trên có nhiều điểm tương đồng rõ rệt mặc dù
lời văn và văn cảnh có khác biệt nhau.
a) Việc Chúa Giê-su được đầu thai là công việc của Chúa Thánh
Thần. Thánh Giu-se chỉ là người cha theo luật pháp mà thôi.
b) Việc thụ thai xảy ra sau khi Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se “đính
hôn.” Nhưng khi Chúa sinh ra, thì các ngài đã sống với nhau theo
hôn ước.
c) Chúa Giê-su giáng sinh vào triều đại vua Hê-rô-đê tại thành
Bê-lem quê hương vua Đa-vít.
d) Sau khi Chúa sinh ra, Thánh Giu-se và Đức Ma-ri-a về cư ngụ
tại thành Na-da-rét.
Theo Pê-rô (C. Perrot): “Xét trên bình diện lịch sử, nhà chú giải
Kinh Thánh có thể xác nhận đã có tồn tại một niềm tin về sự kiện
thụ thai (trinh sạch) như thế không những trong các động đồng
Phúc Âm Mát-thêu và Lu-ca, mà còn trong một lưu truyền xuất hiện
trước đó và được cả hai vị thánh sử dùng làm tài liệu để viết
Phúc Âm. Có lẽ lúc đầu vấn đề được truyền tụng trong các nhóm
tín hữu gốc Do Thái ở Giu-đê-a như cộng đoàn thánh Mát-thêu. Các
nhóm này đã quen với các trình thuật của người Do Thái về những
cuộc ra đời kỳ diệu, và tiếp nhận chứng cớ của sự đồng trinh ấy.”
2. Thực Tại Sự Kiện Thụ Thai Trinh Khiết
Đối với một số nhà giải thích Thánh Kinh hiện hay, việc đầu thai
trinh khiết của Chúa Giê-su chỉ là một cách trình bày bóng bẩy
hoặc mang tính biểu trưng về chân lý thần học, rằng Chúa Giê-su
là Con Thiên Chúa. Không đào sâu chi tiết, chúng tôi chỉ xin đưa
ra một vài nhận định về vấn đề hệ trọng này, có liên can đến lòng
tôn sùng Đức Ma-ri-a.
a) Thực sự thì Phúc Âm Mát-thêu chương 1 và 2 đã giới thiệu các
biểu tượng Thánh Kinh, đặc biệt là trong trình thuật các Đạo Sĩ,
như ngôi sao, vàng, nhũ hương, mộc dược. Nhưng sự kiện giáng sinh
trinh khiết của Đấng Mê-si-a đã được các tiên tri loan báo từ
xa xưa (bản văn Hy Bá, sách tiên tri I-sa-i-a 7:14 viết: “Này
đây, một Trinh Nữ sẽ sinh con”), và như thế coi như đã tạo ra
một mâu thuẫn: vì Đấng Cứu Thế phải là dòng dõi vua Đa-vít. Chính
Thánh Giu-se là người đã giải quyết được mâu thuẫn ấy qua việc
Ngài, theo luật pháp, nhận Chúa Giê-su làm “con vua Đa-vít.” Vì
vậy, những ki-tô hữu gốc Do Thái thời ấy không hề thắc mắc nghi
nan gì về sự kiện đầu thai trinh khiết của Chúa Giê-su.
b) Khởi đầu Phúc Âm của mình, thánh Lu-ca đã nói rõ về việc ngài
sắp trình bày “các biến cố đã thực hiện giữa chúng tôi, theo như
các kẻ từ đầu đã chứng kiến” (Lc 1:1-2). Như thế, trong trình
thuật Truyền Tin, ngài minh chứng cho điều ngài tin là một sự
kiện có thực, một sự kiện quan trọng đối với não trạng người Hy
Lạp. Rõ ràng là có nhiều hàm ý Thánh Kinh liên hệ với nhau như:
Nữ Tử Si-on, Đám Mây che phủ Nhà Tạm Chúa, sự kiện I-sa-ác ra
đời cách lạ, và nhiều ý khác nữa. Hầu như không thể xác quyết
được những điểm mang nhiều hàm ý ấy là những chi tiết trong sự
kiện Truyền Tin hay chỉ là cách diễn tả của Đức Ma-ri-a, của truyền
thống Gio-an, hay của thánh Lu-ca. Nhưng chắc chắn là thánh Lu-ca
đã xác nhận có sự thụ thai trinh khiết và hành vi đức tin của
Mẹ Ma-ri-a.
c) Dựa trên chứng cứ các Phúc Âm, chúng ta tin vào thực tại sự
kiện thụ thai trinh khiết cũng tương tự như chúng ta tin vào mầu
nhiệm Chúa Giê-su Phục Sinh. Ta không thể theo lối chú giải biểu
tượng thuần túy vì như thế là chúng ta đã chối bỏ tất cả thực
tại khách quan của chứng từ mà Giáo Hội sơ khai đã tiếp nhận và
tất cả sự mới mẻ của mầu nhiệm Chúa Giê-su Cứu Độ (x. 1Cr 15:14:
“Nếu Chúa Ki-tô đã không sống lại thì lời rao giảng của chúng
tôi trở nên trống rỗng và niềm tin của anh em cũng trống rỗng”).
Thiên Chúa lẽ nào lại đi đánh lừa những kẻ tin tưởng vào chứng
cứ của các Tông Đồ. Ngài thực sự đã can thiệp một cách phi thường
vào sự kiện Con Ngài nhập thể.
3. Ý Nghĩa Sự Kiện Thụ Thai Trinh Khiết
Như
Đức Ma-ri-a, Giáo Hội không ngừng suy niệm về sự kiện Chúa Giê-su
được đầu thai trinh khiết, một sự kiện vô tiền khoáng hậu để cố
gắng hiểu ra ý nghĩa đầy đủ của sự kiện ấy dưới ánh sáng của lịch
sử Dân Chúa được Thánh Kinh ghi chép lại.
a) “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể,” câu này gợi
lại biến cố ra đời kỳ diệu của I-sa-ác (Lc 1:37; Ga 18:14). Bài
ca Magnificat gợi lại bài ca của bà An-na, người đàn bà son sẻ
đã sinh hạ tiên tri Sa-mu-en. Sự kiện Đức Giê-su được đầu thai
trinh khiết là một điển hình quan trọng trong các sự kiện ra đời
kỳ diệu mà quyền năng Thiên Chúa tối cao đã thực hiện để cứu vớt
dân Người.
Ơn cứu độ chỉ phát xuất từ Thiên Chúa chứ không từ khả năng nhân
loại. Chính Thánh Danh Giê-su, nghĩa là Thiên Chúa Cứu Độ cũng
nói lên điều ấy.
Theo phương diện này, sự trinh bạch của Đức Ma-ri-a là một dấu
chỉ nói lên sự nghèo khó cùng cực của con người trước Thiên Chúa
là Đấng dùng ân sủng Người để cứu độ họ (x. Lc 18:26-27). Tâm
hồn nghèo khó là bí quyết để hy vọng.
Thiên Chúa là Chủ Tể tuyệt đối của sự sống. Đây là hành vi đức
tin căn bản của Áp-ra-ham: “Tin không nao núng, ông đã nhìn đến
thân xác chết cằn của mình... và lòng dạ cằn cỗi của Sa-ra, đối
với lời hứa của Thiên Chúa, ông đã không cứng tin mà hoài nghi;
trái lại, ông đã nên vững mạnh trong lòng tin... Những lời đã
“đã được kể cho ông’’ không chỉ được viết vì ông mà thôi, mà còn
vì chúng ta nữa: sẽ được kể cho cả ta nữa, những kẻ tin vào Đấng
đã cho Đức Giê-su, Chúa chúng ta, sống lại từ cõi chết’’ (Rm 4:19-24).
Đầu thai trinh khiết và phục sinh là hai phép lạ về sự sống mà
chỉ mình Thiên Chúa mới có thể thực hiện qua Thánh Thần của Người
là “Đấng ban sự sống.’’
b) “Ngài sẽ được gọi là Con Thiên Chúa’’ (Lc 1:35), “một người
con được gọi là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng
ta” (Mt 1:23). Việc thụ thai đồng trinh là một dấu chỉ hết sức
rõ ràng về mầu nhiệm con người Đức Giê-su, Đấng không có một người
cha nào khác ngoài Thiên Chúa. Những lời đầu tiên ghi lại trong
Phúc Âm Lu-ca là: “Ông Bà không biết rằng Tôi phải ở trong nhà
Cha Tôi sao?,” để trả lời cho câu nói của Đức Ma-ri-a, “này Cha
Mẹ đã vất vả tìm Con” (Lc 2:48-49).
Lúc cầu nguyện, Chúa Giê-su xưng với Chúa Cha là “Áp-ba” (Abba,
Mc 14:36) có nghĩa là Cha, và người Do Thái đã tố cáo Ngài “dám
gọi Thiên Chúa là Cha mình” (Ga 5:18). Đối với Đức Ma-ri-a và
Thánh Giu-se, cũng như với tất cả chúng ta, sự kiện thụ thai đồng
trinh vẫn luôn là một dấu chỉ giúp cho trí năng nhân loại hiểu
được phần nào mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người.
c) “Nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần.” “Thánh Thần sẽ ngự xuống
trên Bà.” Vai trò của Chúa Thánh Thần cũng mang nhiều ý nghĩa
tương tự. Ở đây, các nhà thần học Hy Lạp nhìn thấy một phản ánh
việc Ngôi Con nhiệm sinh từ đời đời trong tình yêu Ngôi Cha. Việc
nhập thể trinh khiết, ngày Hiện Xuống, và các bí tích là công
trình liên kết của Chúa Thánh Thần, những công trình của tình
yêu muôn thuở của Ngôi Cha và Ngôi Con.
d) “Phúc cho Bà vì đã tin.” Trong biến cố Truyền Tin cho Đức Ma-ri-a
cũng như khi loan báo cho Thánh Giu-se, Thiên Chúa đã đề nghị
việc thụ thai đồng trinh cho Đức Giê-su và mong chờ sự thuận ý
trong đức tin của hai Đấng, sự kiện ra đời siêu nhiên ấy trở thành
đối tượng trung tâm và là thước đo niềm tin của các vị vào Thiên
Chúa, Đấng Cứu Độ. Đối với chúng ta cũng vậy, Thiên Chúa muốn
chúng ta có một thái độ chấp nhận tự do và bền vững trong đức
tin để Đức Giê-su có thể phát triển trong chúng ta qua hoạt động
của Chúa Thánh Thần.
Đức
tin Mẹ Ma-ri-a trước sự kiện thụ thai đồng trinh là một mẫu mực
tuyệt vời cho đức tin Giáo Hội trước công trình cứu độ của Thiên
Chúa.
J.
Lô-ren-sô
|