|
CỰU ƯỚC VỚI ĐỨC MA-RI-A
Xem:
- Nữ Tử Si-on
- Nữ Vương
- Tiên Trưng Thánh Mẫu
Cựu Ước không nhắc đến tên Đức Ma-ri-a một cách trực tiếp, và
cũng chưa thấy ai xác quyết có một sứ ngôn Cựu Ước nào đã trình
bày tỉ mỉ về những đặc tính riêng của Mẹ “Chúa Giê-su thành Na-da-rét.”
Nhưng Cựu Ước có nói với ta nói về Người Mẹ của “Chúa Giê-su Ki-tô,
Đấng Mê-si-a Vua.”
1. Vua Dân Ít-ra-en
Những khám phá và thành tựu của khoa chú giải cổ tự trong hai
thế kỷ qua đã làm thay đổi kiến thức của chúng ta về miền Cận
Đông cổ đại rất nhiều. Theo những kiến thức mới mẻ này, Cựu Ước
- như một chứng cứ về các trường phái ngôn sứ - đã bảo tồn và
làm phát triển hy vọng của một dân tộc đối với Thiên Chúa của
riêng đất nước họ, một Thiên Chúa hiện diện sống động trong các
vị lãnh tụ của họ.
Trong
thời kỳ sơ khởi của quá trình hình thành các sách Thánh Kinh,
dân Do Thái cũng muốn có một vị vua “như các nước khác” để xét
xử và dùng sức mạnh quân sự mà cứu vớt họ (1Sm 8:5-20; 9:16).
Đức vua là người được Thiên Chúa tuyển chọn, ban cho sức mạnh
cùng khôn ngoan của Ngài (1V 3:28). Hành động của Thiên Chúa chân
thật là hành động nào và được thể hiện ra sao? Những điều ấy đã
được mặc khải tuần tự qua quá trình hình thành Thánh Kinh.
Những dân tộc miền Cận Đông cổ thời phân biệt vua chúa với quan
án. Dù cả hai đều nắm giữ chức năng chính trị, nhưng vua chúa
thì cha truyền con nối. Thực tế chế độ cha truyền con nối là đảm
bảo tốt nhất cho tính liên tục của nhà nước khi có sự chuyển đổi
quyền bính từ người này qua người khác. Khi chế độ phong kiến
cát cứ (city-state) xuất hiện khoảng năm 300 trước Công Nguyên
như một hình thức văn minh tiến bộ, kinh đô chính là nơi cung
cấp các dịch vụ mà bộ lạc, trại tộc hay làng xã trước kia đã không
làm nổi như quân đội, pháp chế, phân công, tất cả đều được bảo
đảm trên văn bản. Chìa khóa để các dịch vụ ấy hoạt động suông
sẻ chính là đức vua và “nhà” của đức vua.
2- Vai Trò của Vị Mẫu Hoàng và Các Tiên
Ảnh của Đức Ma-ri-a
Vì sự ổn định và thịnh vượng cho mọi gia đình, gia đình đức vua
phải thực hiện tốt chức năng của mình. Vì thế, vai trò của vị
mẫu hoàng hết sức hệ trọng.
Trong địa vị người vợ, bà có một ảnh hưởng liên hệ đến an ninh
đất nước. Bà có thể “xoay chiều” đức vua, và có khi còn trở thành
một nguyên nhân gây rối loạn giữa lúc chế độ đa thê còn thịnh
hành.
Trong địa vị người mẹ, bà là nguyên nhân cho sự ổn định. Thường
thường, ngai báu của vua con cũng nhờ vào đầu óc và khả năng bén
nhạy chính trị của bà. Bà thường hành xử như một vị nhiếp chính.
Bà hiểu đức vua, và có thể nói với ngài những điều không ai dám
tâu trình. Còn đức vua có nghe theo lời mẹ cũng không phải lo
sợ gì. Vì ngoài con ra, người mẹ đâu cần quan tâm gì khác.
Như thế, những tổng hợp Thánh Kinh cổ xưa nhất - “tài liệu” J
của Ngũ Kinh và câu chuyện thừa kế Đa-vít - đã phản ánh những
vấn đề theo truyền thống hay kinh nghiệm trong triều đình và của
riêng Sa-lô-môn về vai trò của những người nữ hình bóng của Đức
Ma-ri-a. Dước tác động hay sự đồng ý của Đức Gia-vê, Thiên Chúa
Ít-ra-en, những người đàn bà ấy đã sửa dọn cho sự tuyển chọn và
ngày Con vua Đa-vít ngự đến.
Nguyên tổ A-đam đã bị vợ xúi bẩy mà coi thường lời Chúa và nghe
theo con rắn. Nhưng Thiên Chúa đã hứa rằng một miêu duệ của E-và,
người gót chân bị thương, sẽ đạp nát đầu rắn già. Sa-ra và A-ga,
cả hai đều sinh cho Áp-ra-ham một hậu duệ, nhưng Sa-ra đã dành
được quyền thừa kế cho I-sa-ác. Tuy không nói ra nhưng Thiên Chúa
đã bằng lòng và chuẩn nhận cách thế Rê-béc-ca dàn xếp để đoạt
phước lành trưởng nam của E-sau cho Gia-cóp. Cũng tác giả trước
kia đã xác nhận vai trò tích cực của Thiên Chúa trong sự kiện
đứa con đầu lòng của E-và ra đời (“Tôi đã sinh ra - hay có được
- một trẻ nam nhờ sự giúp đỡ của Thiên Chúa”: St 4), nay cũng
nhắc lại sự can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa trong những sự kiện
ra đời này (St 30:2; x. 20:17 tt).
Chỗ khác ta thấy, Ra-ken là người vợ được sủng ái, nhưng Li-a
lại là người sinh ra Giu-đa, người sẽ được mọi dân nước phục tùng
(St 49:10). Rồi Díp-pô-ra, vợ của Môi-sen đã cứu chồng bằng việc
cắt bì cho đứa con trai của họ (Xh 4:24-26). Sau cùng, Bát-sê-ba,
nhờ sự trợ giúp của tiên tri Na-than đã đoạt được ngai báu Đa-vít
cho con trai mình là Sa-lô-môn. Bà khấu đầu phục lạy Đa-vít, quân
vương của bà, nhưng Sa-lô-môn, con bà lại khấu đầu phục lạy bà
(1V 2:19). Trong sách Các Vua, danh tính vị mẫu hoàng này đã được
cẩn trọng ghi lại.
Đến đời tiên tri I-sa-i-a, ông lại củng cố và phát triển dòng
tư tưởng này trong sách Đấng Em-ma-nu-en (Is 6:1 - 9:6). Quyển
sách này được bắt đầu bằng sự kiện vua U-si-a băng hà và kết thúc
bằng sự kiện lên ngôi Đa-vít của một Con Trẻ, người sẽ tiếp nhận
các danh hiệu Chúa-Người, như Thiên Chúa anh hùng, Cố Vấn kỳ diệu,
Người Cha muôn thuở, Hoàng Tử hòa bình. Sách tiên tri I-sa-i-a
cũng xác quyết sự vững bền muôn thuở của triều đại Đa-vít bất
chấp những âm mưu lật đổ của con người (7:4-9).
Dấu chỉ sự vững bền này là sự ra đời của Đấng Em-ma-nu-en: Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.
Vị tiên tri không đề cập đến người cha, nhưng là người mẹ, Almah
lúc bấy giờ vẫn chưa làm mẫu hoàng. Như chúng ta đã thấy nơi dân
tộc Ít-ra-en cũng như triều đại Pha-ra-on ở Ai Cập, chính nhờ
hoàng hậu mà vị thần linh quốc gia sẽ ban phước đặc biệt xuống
cho đứa con sẽ ra đời trong hoàng tộc.
Tiên tri Mi-kê-a cũng tiếp nhận dấu chỉ truyền thống về mẫu tính
hoàng tộc (5:2). Theo ông, cuộc sinh hạ cứu độ (salvific) trở
thành cuộc sinh hạ cứu chuộc (redemptive), vì trong Mi-kê-a 4:10,
chính Nữ Tử Si-on sinh hạ đau đớn để được cứu khỏi tay những thù
địch của Bà. Tiên tri Giê-rê-mi-a viết tiếp truyền thống đức vua
và mẹ vua: họ thông phần trong vinh quang (triều thiên) và tủi
nhục (13:18; 22:26). Sau cùng, tiên tri Ê-dê-ki-en đã biến mẹ
của hai vị vua sau cùng của nhà Giu-đa là Dê-ô-da-kim và Dê-rê-ki-a
thành biểu tượng cho Ít-ra-en, “Bà ta bây giờ không còn một cứng
cáp, một quyền trượng” (19:14), mặc dù lúc đó vị tiên tri vẫn
giữ lại sự ưu tuyển của nhà Đa-vít (34:23 tt; 37:25 tt).
3- Niềm Hy Vọng Đấng Mê-si-a và Mẹ Ngài
Trong
niềm tin của Ít-ra-en, niềm hy vọng Đấng Mê-si-a thể hiện qua
các bản văn vẫn liên kết sứ mệnh cứu độ của Đấng Mê-si-a, Con
vua Đa-vít với hành động của Thiên Chúa dành cho Mẹ Ngài. Sau
khi triều đại quân chủ sụp đổ, các bản văn tiếp tục phát triển
tư tưởng thần học này qua các nhân vật nữ.
Sách
Châm Ngôn (chương 31) kết thúc với hình ảnh của người vợ lý tưởng:
do hành động thông minh bà trở thành vinh quang cho chồng và hạnh
phúc cho gia đình. Hoàng hậu Ét-te e lệ đã can đảm triều yết vua
A-su-ê-rô để cứu vớt dân tộc mình. Và bà Giu-đi-tha đạo hạnh đã
can đảm dấn thân để giải cứu dân thành.
Những nhân vật này nói lên khía cạnh tốt đẹp của Ít-ra-en và Giu-đa,
và chắc chắn gắn liền với hình ảnh Mẹ của Đấng Mê-si-a, Người
đem lại ơn cứu độ toàn vẹn và chung quyết cho những người Ít-ra-en
tín trung. Các thánh ký Phúc Âm cũng ám chỉ về những nhân vật
này mỗi khi nói về Đức Ma-ri-a, Mẹ Chúa Giê-su Ki-tô.
Để hiểu mầu nhiệm Nhập Thể, có lẽ chân dung Khôn Ngoan trong sách
Huấn Ca chương 24 là đầy đủ nhất xét theo thần học. Sách Châm
Ngôn chương 8 đã minh chứng rằng người thừa kế hoàng tộc đích
thực, “nhờ người mà các vua cai trị” (sách Khôn Ngoan) chính là
Khôn Ngoan sinh từ Thiên Chúa trước mọi thời đại. Huấn Ca chương
24 cho biết rằng Khôn Ngoan vĩnh hằng đã được Đấng Tối Cao trồng
trong đất Ít-ra-en (câu 12) và có chỗ trong lều thánh (tức là
Đền Thờ, câu 10), từ nơi đây Khôn Ngoan được lớn lên và triển
nở trước khi kêu gọi muôn dân nước. Chính nhờ Đức Ma-ri-a mà Ngôi
Lời hằng sống, Đấng muôn dân đợi trông đã trải qua kinh nghiệm
được "trồng" vào và lớn lên giữa nhân loại.
H. Ca-den
|