|
ĐỨC MẸ CÁP, CA-NA-ĐA
Khắp Bắc Mỹ, ít có nơi nào được khách hành hương yêu thích kính
viếng như đền thánh Đức Mẹ Cáp (Cape, Quebec). Hằng năm, nhất
là vào mùa xuân và mùa hạ, cả triệu người tuôn về ốc đảo không
gian xanh mát. Khu vườn yên tĩnh này với ngôi nguyện đường có
từ năm 1714 cùng bức tượng Đức Mẹ linh thiêng đã hai lần được
các vị đại diện của Đức Thánh Cha đội vương miện vào các năm 1904
và 1954.
1. Một Địa Điểm Ưu Tuyển...
Kích động được lòng tin sốt sắng như thế, nơi đây ắt phải có gì
đặc biệt. Trên mũi đất khiêm tốn dọc theo dòng sông Xanh Lô-răng
(St. Laurence) xinh đẹp đã có các cuộc thần hiện chăng? Không
phải, nhưng có hai sự lạ khiến ta không thất vọng. Họ đạo thánh
Ma-ri-a Ma-đa-lê-na nhỏ bé - tên xứ đạo gốc của người chủ đất
đầu tiên từ miền Sa-tô-đuyn (Châteaudun) ở Pháp đã đặt chân đến
đây năm 1636 - thực sự trở thành một địa điểm hành hương khởi
đầu vào năm 1879, và từ năm 1888 kéo dài mãi mãi dưới sự bảo trợ
đặc biệt của Đức Mẹ Rất Thánh Mân Côi. Trước đó, năm 1694, hội
Mân Côi đã được thành lập tại đây và dọn đường cho tất cả.
2. “Chiếc Cầu Mân Côi” (1879)
Hai vị linh mục đầy đức tin sốt sắng là cha sở Đê-ghi-lê (Degilets)
và cha phó Đuy-goai (Duguay) đã cổ động được một số giáo dân thờ
ơ nguội lạnh trở nên đạo đức lạ thường chủ yếu là nhờ kinh Mân
Côi đơn sơ. Tháng 3 năm 1879, Đức Mẹ đã nhậm lời. Người ta quyết
định xây dựng một thánh đường khang trang hơn. Nhưng đá để xây
nhà thờ thì ở bên kia sông. Phương thức vận chuyển ít tốn kém
nhất là chở đá vượt dòng sông rộng hơn một dặm trong thời kỳ nước
đóng băng. Nhưng mùa đông năm ấy, nước sông không đóng băng. Cha
sở Đê-ghi-lê bèn hứa ngài sẽ không phá nhà thờ cũ nhưng sẽ dâng
kính Đức Mẹ Mân Côi nếu như Đức Mẹ ban cho cha một “chiếc cầu
bằng băng.”
Lời cầu nguyện của ngài đã được nhận lời. Theo một bia kỷ niệm
dịp đệ nhất bách chu niên, “từ ngày 18 đến ngày 26 tháng 3 năm
1897, con chiên họ đạo thánh Ma-đa-lê-na đã chuyển đá để xây nhà
thờ mới dưới sự bảo trợ hiển nhiên của Đức Mẹ Mân Côi trên đá
băng của dòng sông Xanh Lô-răng như trên một chiếc cầu. Họ đã
đặt tên “Cầu Mân Côi.” Và một đền thánh được hình thành.
3. “Điều Phi Thường Nhãn Tiền” (1888)
Một hiện tượng kỳ diệu đã xảy ra vào đêm trước ngày long trọng
cung hiến ngôi nguyện đường cho Đức Mẹ. Gương mặt tượng Đức Me,å
với những nét giống ảnh Đức Mẹ Hay Làm Phép Lạ, bỗng trở nên sống
động trước mặt ba nhân chứng là cha Đê-ghi-lê, cha Phê-đê-rích
(Frederic) O.F.M., và một phế nhân là ông Pi-e La-cơ-roa (Pierre
Lacroix). Mãi đến ngày qua đời, cả ba vị vẫn xác quyết tuyên thệ
tin nhận sự thật của sự kiện. Một trong ba nhân chứng kể lại:
“Tôi thấy rõ ràng đôi mắt của bức tượng mở to (mắt bức tượng vẫn
nhìn xuống) và hết sức sinh động như thể đang nhìn chúng tôi.”
Ánh nhìn của Đức Ma-ri-a tại Cáp không ai có thể quên được.
4. Lòng Sốt Sắng của Quần Chúng
Thực sự ngay từ lúc đầu, nhiều đoàn hành hương đã được tổ chức
bằng thuyền bè, xe lửa, và xe ngựa. Họ đã đáp ứng và không ngừng
đáp ứng những lời kêu gọi của Đức Mẹ. Nhiều đặc ân và ơn cải thiện
đời sống đã được Đức Mẹ tràn đổ ở đây với hàng ngàn nhân chứng
lần lượt đến từ khắp Bắc Mỹ. Công tác mục vụ cho đông đảo tín
hữu hành hương trở nên hết sức khó khăn. Năm 1902, đức giám mục
sở tại đã thân nhờ các tu sĩ Thừa Sai Tận Hiến Cho Mẹ Vô Nhiễm
(Missionary Oblates of Mary Immaculate) vì ngài thấy đây là một
cơ hội tuyệt hảo để đem Phúc Âm đến cho người nghèo và tầng lớp
bình dân, một hình thức “truyền giáo tại chỗ,’’ theo ý tưởng của
vị sáng lập là chân phước Êu-giê-nô Ma-dơ-nô (Eugene of Mazenod).
Từ đó, mọi sự đều phát triển. Với “Những Khu Vườn Đức Trinh Nữ,’’
địa điểm cầu nguyện thích thuận giữa những làn nước long lanh
và vườn cây xanh được cắt tỉa; một vương cung thánh đường nguy
nga được cung hiến vào năm 1964; những “nhóm Mân Côi’’ tụ tập
cầu nguyện, suy niệm kinh Mân Côi; và đặc biệt là tuần bát nhật
tổ chức long trọng từ ngày 7 đến 15 tháng 8 hằng năm, một chiến
dịch lôi cuốn rộng rãi quần chúng với sự trợ lực của các dụng
cụ nghe nhìn hiện đại phục vụ những biển người đầy nhiệt tâm,
hăng say, vui ca và sốt sắng.
Các giám mục địa phương đã nhiều lần bày tỏ lòng ngưỡng vọng đối
với những gì đã diễn ra tại đền thánh Đức Mẹ Cáp. Rõ ràng đền
thánh này đã chiếm một vị trí đặc biệt trong lòng các tín hữu
bằng những phương thế siêu phàm. Sau một thời kỳ chậm chừng trong
những năm 1960, dòng thác tín hữu hành hương và mức độ sốt sắng
lại bùng lên mạnh mẽ, đáng chú ý là công tác mục vụ cầu nguyện
cho các bệnh nhân. Tại Cáp, nhờ Mẹ Ma-ri-a, những người hành hương
thuộc đủ mọi lứa tuổi, trong những giờ phút nghỉ ngơi bổ dưỡng
cho cuộc lữ hành dương thế đã tìm lại được Chúa Giê-su, Đấng vẫn
hằng kêu gọi: “Hãy hối cải và tin vào Tin Mừng.”
A. Đuy-mong
|