|
KHẢI HUYỀN 12
Xem:
- Nữ Tử Si-on
Không phải mọi chuyên gia Thánh Kinh đều chú giải chương 12 sách
Khải Huyền về Đức Ma-ri-a. Không đào sâu chi tiết, chúng ta vẫn
nhìn ra được tối thiểu một số chi tiết cho phép xác định rằng
sắc thái Ma-ri-a trong chương này không phải là điều võ đoán,
nhưng có nền tảng chắc chắn. Những điều này dựa theo một tài liệu
mang tựa đề “Chức Năng Làm Mẹ của Si-on và của Đức Ma-ri-a” của
Hen-ri Ca-den (Henri Cazelles) viết cho đại hội Thánh Mẫu học
tại Xanh-tô Đô-ming-gô (Santo Domingo) năm 1956 và được in trong
tác phẩm nhiều tập, nhiều thứ tiếng “The Blessed Virgin and the
Contemporary Ecumenical Effort” (Đức Ma-ri-a và Nỗ Lực Đại Kết
Hiện Nay) do Hàn Lâm Viện Thánh Mẫu Học Giáo Hoàng Quốc Tế Rô-ma
xuất bản năm 1967 (x. quyển 6: Đức Ma-ri-a Trong Thánh Kinh, trang
165-178).
Trước tiên nên lưu ý rằng, như mọi phần khác trong Thánh Kinh,
ta không thể hiểu sách Khải Huyền nếu đọc nó một cách riêng biệt.
Phải đọc tiếp nối với những gì đi trước (những chủ đề, biểu tượng
có ảnh hưởng) và liên hệ với hoàn cảnh cụ thể của dân Thiên Chúa
(Do Thái) trong thời điểm quyển sách được hình thành. Lời Chúa
luôn luôn gắn liền với thực tế lịch sử của dân tộc này. Đời sống
ấy bất chấp những thăng trầm biến động lịch sử vẫn phát triển
hữu cơ và liên tục cho đến khi thời gian viên mãn trong Chúa Ki-tô
Giê-su.
Như thế, nếu muốn làm sáng tỏ khía cạnh liên tục trong chương
12, ta không thể không nhớ đến các chủ điểm Cựu Ước được sử dụng
ở đây. Nhưng cần thiết phải giải thích chúng phù hợp với hoàn
cảnh dân tộc của Chúa (Do Thái), tức là dân tộc mà Cựu Ước nhắm
đến. Điều này giúp ta hiểu được sâu hơn các chủ điểm và áp dụng
các chủ điểm ấy cụ thể hơn.
Chủ điểm “sinh đôi” được trình bày trong chương 12 sách Khải Huyền:
một trẻ nam ở câu 5 và những người còn lại trong dòng dõi Người
Nữ ở câu 17 đã thấy có trong Cựu Ước. Tiên tri Mi-kê-a nói về
cuộc giáng sinh đế vương của Đấng Mê-si-a (5:2) chắc chắn có liên
hệ với lời tiên tri I-sa-i-a 7:14, nhưng ông còn đề cập đến một
cuộc ra đời khác nữa trong đoạn 4:9-10, “cuộc sinh hạ này có những
đau đớn, vì có liên hệ đến sự giải thoát và cứu độ” (H. Ca-den,
sđd, tr. 172).
Trong I-sa-i-a 66, chúng ta cũng có những viễn tượng tương tự.
Câu 7: “Trước khi ở cữ, Bà đã sinh con, trước khi đau đớn lên
cơn, Bà đã sinh hạ con trai” - theo lời Ca-den (Cazelles) - thực
sự ám chỉ đến cuộc sinh hạ của vị thừa kế vương giả (Đấng Mê-si-a).
Và cuộc sinh hạ này đặc trưng bằng chi tiết không “đau đớn,” trong
khi đó câu 8 đã nói rõ ràng về cuộc sinh hạ một dân tộc mới “vào
chỉ một ngày” nhưng không loại trừ việc Si-on “đang ở cữ.”
Những tiên dẫn (antecedents) Cựu Ước này (ở đây khá tóm lược)
đã được sử dụng để soi sáng những chi tiết liên hệ trong chương
12, và chương 12 đã tiếp nối và làm sáng tỏ các tiên dẫn có liên
hệ ấy như thế nào?
“Một trẻ nam” trong I-sa-i-a 66:7 lại xuất hiện trong câu 5: “một
con trai,” đó là Đấng Mê-si-a, Đấng sẽ cai trị các dân tộc (x.
Tv 2:9). Ngài được “cất bổng lên nơi Thiên Chúa” và “lên ngai
của Người”, trong khi Người Nữ thì “trốn lên rừng vắng” (c.6).
Đối chiếu với các dữ liệu Phúc Âm, việc ra đời và “giải thoát”
của “trẻ nam” được giải thích là vinh quang của Đức Ki-tô trước
ngai Thiên Chúa Cha (H. Ca-den, sđd, tr. 175).
Nếu ý tưởng trên chỉ về Chúa Ki-tô và về Mẹ Ngài, thì vào thời
điểm tác giả viết Khải Huyền, Đức Ma-ri-a không còn là một phụ
nữ vô danh, một người sẽ đến, hoặc là một biểu tượng của dân Giê-ru-sa-lem
hay Si-on mà từ đó Đấng Mê-si-a sẽ được sinh ra. Người Nữ ấy đã
có một danh phận, ấy là Đức Ma-ri-a.
Ở đây, như vậy không phải là không đề cập gì đến Giáo Hội. Thật
ra, tác giả Khải Huyền không giới hạn những kết quả của việc sinh
hạ đau đớn vào việc tôn vinh Chúa Ki-tô. Ông còn thấy không phải
trên trời, nhưng ở dưới đất đã xảy ra những cuộc tấn công của
con thú chống lại “những người còn lại của miêu duệ Người Nữ”
(12:17). Họ là những người tuân giữ các giới luật Thiên Chúa và
làm chứng cho Chúa Ki-tô.
“Ngoài Đức Ki-tô và Chúa Cha, còn có các ki-tô hữu trên địa cầu.
Họ là kết quả từ cuộc sinh hạ đau đớn trên núi Can-vê. Vì chỉ
có một miêu duệ trên toàn cầu, đó là Chúa Ki-tô và những người
còn lại của miêu duệ Người Nữ, cho nên chỉ có một Người Nữ, đó
chỉ có thể là Đức Ma-ri-a” (H. Ca-den, sđd, tr. 176).
Việc qui về Can-vê (làm sáng tỏ ý tổng quát của câu 2: Người Nữ
“đang khi thai nghén và kêu la chuyển bụng đau đớn quằn quại sinh
con”) và về vai trò Đức Ma-ri-a trên núi Can-vê đã giải thích
được lý do tại sao tác giả sách Khải Huyền hướng về I-sa-i-a 66:8;
điều ấy cho phép ông qui về Đức Ma-ri-a, Mẹ Đấng Mê-si-a “trách
vụ của dân tộc Đấng Mê-si-a đang đè nặng trên Si-on.” Việc cá
nhân hóa ấy (personalization) không phải là một việc làm tùy tiện
của tác giả (sđd).
Tóm lại, qua chương 12 sách Khải Huyền ta thấy toàn bộ quá trình
“cá nhân hóa” đã được phát triển đến bước cuối cùng đặc trưng
qua việc sinh hạ kép đôi và chức vụ làm mẹ của Nữ Tử Si-on đối
với Dân Tộc Mới của Chúa. Sau cùng, chúng ta còn thấy “chính nhờ
Đức Ma-ri-a mà Si-on đã sinh ra một dân tộc mới và một miêu duệ
đông đúc... do quyền năng Thiên Chúa và Thánh Thần của Người”
(sđd, tr 178).
A.
Bốt-sa
|