|
LỘ ĐỨC, PHÁP
1.
Thời Gian và Không Gian
Lộ
Đức năm 1858 là một thị trấn có chừng năm ngàn cư dân nằm bên
bờ sông Pô (Pau), cửa ngõ dẫn đến những thung lũng miền núi Pi-rê-nê.
-
Hang đá Mát-sa-bi-en (Massabielle - tiếng Pháp là Vieille Masse,
nghĩa là núi cổ) nằm ở phía tây của thị trấn, cách bờ sông không
xa, nằm dưới chân núi đá Ét-pơ-luýc (Espelugues, từ chữ Spelunca
nghĩa là hang).
-
Ngày 11 tháng 2 năm 1858, khoảng ba năm sau khi giáo lý Đức Mẹ
Vô Nhiễm Nguyên Tội được tuyên tín, một trẻ nữ mười bốn tuổi quê
ở Lộ Đức tên là Bê-na-đê-ta Su-bi-ru (Bernadette Soubirous) và
hai bạn đang đi mót củi dọc theo tả ngạn con sông. Hai bạn đã
sang bờ bên kia để Bê-na-đê-ta ở lại đứng chờ một mình. Bê-na-đê-ta
đang đứng trước hang thì thình lình nhìn thấy “Bà Áo Trắng.’’
Bà cầm chuỗi hạt Mân Côi cầu nguyện và mỉm cười với Bê-na-đê-ta.
-
Ngày 14 tháng 2, lần hiện ra thứ hai, lần này với sự có mặt một
số bạn nhỏ của Bê-na-đê-ta, Bà chỉ mỉm cười nhưng không nói gì.
-
Từ ngày 18 tháng 2 đến ngày 4 tháng 3, Bà hiện đến mười ba lần
và ban sứ điệp.
-
Ngày 25 tháng 3, lễ Truyền Tin, Bà xưng danh hiệu. Sau đó Bà còn
hiện ra hai lần nữa ngày 7 tháng 4 và ngày 16 tháng 7.
- Tổng
cộng Bà Áo Trắng hiện ra mười tám lần.
2.
Thụ Nhân
-
Bê-na-đê-ta sinh ngày 7 tháng 1 năm 1844 tại Lộ Đức trong một
gia đình Công Giáo. Cha mẹ làm nghề xay bột. Gia đình tuy sa sút
chật vật nhưng sống rất đạo hạnh, yêu thương và cảm thông. Năm
1858, họ dời đến “Nhà Tù,’’ một trại giam của thị trấn đã bỏ hoang
và sống nương tựa một người bà con tốt bụng.
-
Bê-na-đê-ta bị bệnh dịch tả và bị suyễn.
-
Là con cả trong gia đình, Bê-na-đê-ta làm lụng giúp đỡ mẹ và thường
xuyên phải nghỉ học. Em không biết đọc biết viết, chỉ biết nói
thổ âm Bu-guyn-đi-an (Burgundian). Đức Mẹ đã ban sứ điệp bằng
thổ âm ấy của miền Lộ Đức. Vì thiếu chuẩn bị, Bê-na-đê-ta vẫn
chưa được rước lễ lần đầu. Để chuẩn bị, em phải bỏ Ba-trét (Bartrès),
nơi em được gửi nuôi và sống từ tháng 9 năm 1857 đến tháng 1 năm
1858. Tóm lại, em thuộc thành phần cùng khổ hèn kém nhất: không
tiền của, không quyền thế, không chữ nghĩa.
-
Nhưng Bê-na-đê-ta lại có tư chất tối ưu để trở thành một nhân
chứng. Em rất ngay thật. Hơn nữa, em rất tốt lành, kiên quyết
và xả kỷ hơn các bạn cùng tuổi. Vì thế, em là một khí cụ khả dụng
để truyền đạt sứ điệp Đức Mẹ trao phó, không thêm thắt hoặc cắt
xén.
-
Bê-na-đê-ta đã thực hiện các sứ điệp cầu nguyện và sám hối, nhất
là trong quãng đời tu trì tại Nê-vơ (Nerves), một đời sống đau
khổ nhưng quảng đại và hạnh phúc. Bê-na-đê-ta qua đời tại tu viện
ngày 16 tháng 4 năm 1879, xác chị được bảo quản nguyên vẹn. Chị
được phong thánh ngày 8 tháng 12 năm 1933.
3.
Sứ Điệp
* Cho
riêng Bê-na-đê-ta: “Con hãy làm cho Ta một đặc ân, đó là hãy đến
đây trong vòng mười lăm ngày”; “Ta không hứa cho con được hạnh
phúc ở đời này nhưng là đời sau.” Thực tế, Bê-na-đê-ta được Đức
Mẹ cho biết những cuộc thị kiến sẽ không đem lại lợi lộc hay ưu
đãi đặc biệt cho chị. Sứ điệp tập trung vào vấn đề cầu nguyện
và ba bí mật mà Bê-na-đê-ta chưa hề tiết lộ. Không có lý do gì
để nghĩ rằng những bí mật này chứa đựng điều gì khác thường, có
lẽ chỉ gồm một số điều cho riêng Bê-na-đê-ta nhưng phù hợp với
sứ điệp mà chúng ta đã biết.
*
Về việc sám hối:
“Hãy
cầu xin Thiên Chúa cho các tội nhân.”
“Hãy sám hối! Hãy sám hối! Hãy sám hối!”
“Hãy hôn đất cầu cho các tội nhân ăn năn trở lại.”
“Hãy uống nước suối và tắm rửa trong đó.”
“Hãy ăn cỏ đằng kia.”
Cầu
nguyện, thực hành sám hối và đặc biệt là hoán cải đời sống, một
dấu lạ nói lên sự biến cải này: dòng suối được khơi tìm dưới chân
hang đá ngày 25 tháng 2. Dòng suối là sự nhắc nhở về sự cần thiết
phải thanh tẩy và về suối nguồn “vọt lên sự sống muôn đời” (Ga
4:14). Nhưng Đức Mẹ cũng muốn dòng suối đem lại sự trợ giúp phần
xác nữa. Nhiều bệnh nhân đã được chữa lành ngay từ thời gian đầu
qua việc tắm rửa hay dìm mình xuống nước.
*
Sứ điệp cho Giáo Hội:
“Hãy
nói cho các linh mục rằng người ta sẽ lũ lượt đến đây, vậy hãy
xây một nguyện đường tại nơi này.”
Mẹ
kêu gọi Dân Chúa xây dựng một đền thờ, một công trình vật chất
nhưng là dấu chỉ việc xây dựng một công trình thiêng liêng “đền
thờ Chúa” bằng những “viên đá sống động.”
*
Danh hiệu từ sứ điệp:
Ngày
25 tháng 3, vì Bê-na-đê-ta nài nẵng, Bà Đẹp hang đá Mát-sa-bi-en
đã xưng mình: “Ta là Đấng Đầu Thai Vô Nhiễm.”
Với
những ai được kêu mời hoán cải, Mẹ tỏ mình là Đấng “Đầy Ơn Nghĩa
Chúa.” Mẹ là hình ảnh của Giáo Hội. Mẹ cũng là Mẹ Giáo Hội, vì
Mẹ vẫn tiếp tục nhiệm vụ từ mẫu của Mẹ đối với Thân Thể Mầu Nhiệm
Con Mẹ.
*
Sứ điệp của Mẹ vọng lại lời Phúc Âm:
.
“Hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (Mt 26:41; Lc 18:1).
. “Hãy cải đổi đời sống! Nước Trời đã đến gần” (Mt 4:17).
. “Hễ ai uống nước Ta ban sẽ không bao giờ khát nữa” (Ga 4:14).
. “ Con là “Đá” và trên Đá này Ta sẽ xây Giáo Hội của Ta” (Mt
16:18).
. “Ta luôn ở với các con cho đến ngày tận cùng của thế giới” (Mt
28:20).
4.
Những Tiếng Vang
- Ủy
ban điều tra do đức cha Lô-ren-sô (Laurence) thành lập sau khi
thẩm vấn Bê-na-đê-ta và điều tra các sự kiện lành bệnh đã công
bố kết luận ngày 18 tháng 1 năm 1862 rằng, Mẹ Thiên Chúa đã thực
sự hiện ra mười tám lần với Bê-na-đê-ta Su-bi-ru.
-
Tháng 5 năm 1871: Làm phép gian hầm nhà thờ và tháng lễ đầu tiên
được cử hành tại hang đá.
-
Ngày 15 tháng 8 năm 1871: Làm phép nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm.
-
Năm 1872: Biểu chứng của toàn thể nước Pháp lần đầu tiên là một
đoàn hành hương với “cờ và biểu ngữ.” Cuộc rước kiệu đuốc lần
đầu tiên.
-
Năm 1873: Đoàn hành hương toàn quốc được các cha dòng Đức Mẹ Lên
Trời tổ chức.
-
Năm 1874: Các đoàn hành hương đầu tiên đến từ khắp các nước, trước
hết là Hoa Kỳ và Bỉ.
-
Năm 1876: Lễ đội triều thiên cho Đức Mẹ Lộ Đức.
-
Năm 1889: Khánh thành nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi.
-
Ngày 25 tháng 3 năm 1958: Kỷ niệm đệ nhất bách chu niên ngày Đức
Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, thánh hiến vương cung thánh đường thánh
Giáo Hoàng Pi-ô X.
-
Nhiều đại hội Thánh Thể quốc tế và Thánh Mẫu quốc tế được tổ chức
tại Lộ Đức (như đại hội Thánh Thể quốc tế năm 1981).
-
Nhiều đoàn hành hương qui tụ trên mười vạn người, đặc biệt gồm
những người đã từng phục vụ hoặc được ơn trở lại tại Lộ Đức.
5.
Ngày Nay
-
Hằng năm có chừng bốn triệu khách hành hương đến kính viếng Lộ
Đức, trong đó hơn một triệu được tổ chức thành các phái đoàn.
-
Hầu hết các địa phận tại Pháp và Bỉ đều tổ chức các chuyến hành
hương hằng năm. Các tổ chức hành hương nổi tiếng toàn quốc như
Mong-pho (Montfortian), Toàn Quốc, Mân Côi. Cũng có các đoàn hành
hương quân đội quốc tế.
-
Hằng năm có đến 650.000 bệnh nhân được một đội ngũ tiếp viên “Hiếu
Khách” đón tiếp và phục vụ tại ba trung tâm.
-
Hằng ngày, từ lễ Phục Sinh đến giữa tháng mười có thánh lễ và
rước kiệu nến.
-
Mỗi tuần hai lần có thánh lễ quốc tế kính thánh Pi-ô X do các
giám mục và hằng trăm linh mục đồng tế (dịp lễ cầu nguyện cho
Đức Phao-lô VI có đến tám trăm vị đồng tế).
-
Quan trọng là số lượng người xưng tội riêng (tại nguyện đường
Hòa Giải), và nhiều nghi thức giải tội tập thể theo đúng các tiêu
chuẩn giáo luật.
-
Mỗi tuần có ít nhất hai lần ban phép xức dầu tập thể cho các bệnh
nhân.
-
Quan trọng ưu tiên dành cho cầu nguyện và hoán cải đời sống với
những nơi cầu nguyện như Hang Đá và Gian Hầm luôn đặt Mình Thánh.
Đường Thánh Giá cũng là nơi luôn đông đúc. Có các điểm giúp khách
hành hương nhìn các biến cố theo chiều hướng Phúc Âm, nhằm đưa
ra một “nỗ lực chung hướng đến đổi mới” (tông thư của Đức Pi-ô
XII, dịp kỷ niệm đệ nhất bách chu niên biến cố Lộ Đức, 1958).
-
Tiếp nhận những người không tin và những người đang tìm chân lý,
có dịch vụ “Cánh Cửa Rộng Mở.”
-
Dịch vụ cho các bạn trẻ: đón tiếp, chỗ trọ, hướng dẫn có “Trại
Bạn Trẻ.”
-
Tiếp đón người lớn tuổi.
-
Hướng về Giáo Hội hoàn vũ với Lều Truyền Giáo.
-
Chứng tá cho công việc từ thiện của Giáo Hội có thành phố thánh
Phê-rô của tổ chức cứu trợ và phục vụ Công Giáo nhằm giúp đỡ hỗ
trợ các đền thánh.
-
Những điểm tiếp chuyện các vấn đề chữa bệnh và phép lạ (phòng
y tế), vấn đề ơn gọi (lều “Ơn Gọi”), vấn đề hôn nhân gia đình
(Mục Vụ Gia Đình), các vấn đề hòa bình (Pax Christi) v.v...
Lộ
Đức đã tiếp tay với Công Đồng Va-ti-ca-nô II hướng về mục đích
đem Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô đến cho thế giới. Như thế, ngày
nay vẫn như từ buổi đầu là sống sứ điệp của Đức Mẹ truyền đạt
qua chị Bê-na-đê-ta.
R.
Poanh
|