![]() |
Thánh Anrê Trần An Dũng-Lạc
|
|
Giáo Hội ở những thế kỷ đầu, tuy phải đối phó với những khó khăn về tổ chức, đă để ư ghi chép lại những giáo thuyết và tinh thần anh dũng của các thánh tử đạo. Những giáo thuyết và gương chứng nhân anh dũng này được tiếp tục sống động nơi đời sống của các tín hữu ở mọi thời đại. Ở ngàn năm thứ nhất Giáo Hội đă được sinh trưởng và lớn lên bởi máu của Chúa Giêsu và máu của các thánh tử đạo: "Sanguis Martyrum - semen christianorum." Những cuộc bách hại các Kitô hữu, linh mục, tu sỹ, và giáo dân thuộc mọi thành phần của Giáo Hội đă xẩy ra nhiều nơi. Tại Việt Nam đă có hàng trăm ngàn người chịu chết v́ đạo. Chắc chắn các thánh tử đạo người Việt Nam không phải là những học giả khoa bảng thần học hay triết học. Các ngài cũng chẳng giải nghĩa được những giáo thuyết cao siêu. Nhiều vị có thể chẳng biết đọc biết viết, nhưng các ngài đă chứng tỏ đức tin chân thật bằng cái chết anh dũng v́ danh Chúa. Một điều chắc chắn là các ngài đă thâm tín nắm vững lời của Chúa Giêsu, "Đừng sợ những người chỉ có thể giết được thân xác nhưng không giết được phần linh hồn. Hăy kính sợ Đấng có thể giết được cả hồn lẫn xác" (Mt 10:28). Các Thánh Tử Đạo Việt Nam Giáo Hội và người Công Giáo Việt Nam có được đức tin như ngày nay là nhờ đức tin đơn sơ nhưng anh dũng của những vị cha ông đă sẵn ḷng đổ máu, hiến mạng sống của các ngài làm sinh lực đức tin cho con cháu, và làm nền móng kiên vững cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Lịch sử về các Thánh Tử Đạo Việt Nam kể lại rằng ở nhiều nơi, các quan bày ra rất nhiều h́nh khổ để giúp cho cuộc tra tấn có kết quả, nhưng tất cả đều vô ích. Ḷng hy sinh, đức nhẫn nại của các vị tử đạo Công Giáo Việt nam qủa là vô địch. Có những người phải đóng đanh vào ván và chịu dầm mưa giăi nắng lâu ngày ḍng dă. Có những người bị lư h́nh đổ dầu vào rốn mà đốt. Những người khác hoặc bị buộc tóc treo xuôi xuống hoặc buộc đầu ngón chân dộng ngược lên. Có nơi các quan trói người Công Giáo vào cột, rồi buộc vải thấm dầu vào các đầu ngón tay và ngón chân mà đốt làm như nến năm ngọn. Đau đớn hơn cả là h́nh phạt tùng xẻo. Một người bị trói vào cọc và những người chung quanh thay phiên nhau đến cắt từng miếng thịt. (Trịnh Việt Yên, "Máu Tử Đạo Trên Đất Việt Nam", tr. 35- 36). THÁNH ANRÊ DŨNG-LẠC Tiểu sử viết về cha Trần An Dũng tuy ngắn nhưng cũng đủ để nói lên những đức tính của một người đàn ông Việt với Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Trần An Dũng Lạc sinh vào khoảng năm 1795 trong một gia đ́nh nghèo ở Bắc Ninh. Khi sinh ra, cha mẹ đặt tên cho cậu là Trần An Dũng. Cha mẹ là người ngoại đạo. Lúc được 12 tuổi cậu theo cha mẹ vào Kẻ Chợ, nay là Hà Nội. V́ gia đ́nh nghèo cho nên đă gởi gấm cậu cho cha chính Leroy, c̣n được gọi là cha Lan, lúc ấy đang làm bề trên ở trường Kẻ Vĩnh, nuôi nấng dạy dỗ. Sau ba năm ở trường Kẻ Vĩnh, Trần An Dũng được rửa tội và lấy tên Thánh là Anrê. Anrê Trần An Dũng có trí nhớ đặc biệt, cậu đă học thuộc hết cuốn sách giáo lư chỉ trong ṿng một tuần lễ. Trần An Dũng c̣n có tính siêng năng cần mẫn, lại có năng khiếu về thơ phú và lịch thiệp ḥa nhă giao tiếp với mọi người. Do đó cậu được nhiều người mến chuộng. Sau ba năm ở trường Kẻ Vĩnh và sau khi đă được chịu phép Rửa Tội, cậu Trần An Dũng được trao cho một cha Việt Nam trông coi. Tám năm sau, cậu được lĩnh bằng thầy giảng. Sau 10 năm trong chức vụ thầy giảng, thầy Trần An Dũng được tuyển về học lư đoán (Thần Học). Ngày 15 tháng 3 năm 1823 thầy được lănh chức linh mục. Cha Anrê Trần An Dũng không những thông thạo chữ La Tinh mà c̣n thông thạo cả chữ Nho. Sau khi được thụ phong linh mục th́ cha Trần An Dũng được cử về làm phó xứ Đồng Chuối, rồi ở xứ Đoài và Sơn Miêng. Sau ba lần làm phó xứ th́ năm 1835, lúc ngài được 40 tuổi, ngài được cử về làm chánh xứ Kẻ Đầm. V́ tính t́nh ḥa nhă lịch thiệp và đối xử khôn khéo cùng với những lời giảng giải đạo đức sốt sắng của ngài cho nên ở đâu cha Trần An Dũng cũng được mọi người quí mến. Linh Mục là hiện thân của Chúa Giêsu. Cha Trần An Dũng đă là hiện thân của Chúa Giêsu qua những đức tính đặc biệt. Đơn Sơ, Khó Nghèo, Nhiệm Nhặt: Khi xuống thế làm người, Đấng Cứu Thế đă làm con của một gia đ́nh nghèo. Ngài được sinh ra trong hang ḅ lừa và lấy chiếc máng ḅ ăn làm nôi nghỉ. Trước khi ra giảng đạo Chúa Giêsu đă lên núi và vào hoang địa để ăn chay cầu nguyện suốt bốn mươi ngày. Học theo gương của Chúa, cha Trần An Dũng cũng có một lối sống đơn sơ khó nghèo và nhiệm nhặt. Cha thường giữ chay suốt Mùa Chay. Nhiều khi cha c̣n ăn chay cả những ngày thứ Tư và thứ Sáu trong năm nữa. Thường xuyên cha chỉ dùng những thức ăn đơn giản. Giáo dân Việt Nam thường có thói quen tốt lành khi được các linh mục tới thăm nhà th́ dọn những món ăn thịnh soạn để đăi các cha. Nhà có nghèo th́ cũng "bóp bụng đăi khách", cố vay mượn chạy chọt hoặc nhịn bữa trước bỏ bữa sau để có thể mua thịt mua cá làm cơm cho cha. Trong thời kỳ cấm đạo cha Dũng phải trà trộn ở trong nhà giáo dân v́ nhà xứ đă phải rỡ đi. Khi họ dọn cơm thịt hay cá lớn th́ cha trách: "Đừng làm như vậy, hăy mua tôm tép như thường dân khác mà ăn". Ḷng Thương Người: Cha Dũng hết ḿnh với nhiệm vụ chủ chăn, chẳng khi nào thấy cha ngại ngùng việc ǵ. Cha lại có ḷng thương người, nhất là người nghèo. Có được của ǵ, cha chia sẻ cho họ hầu hết. Đây là tinh thần của Chúa Giêsu. Người môn đệ của Chúa, nhất là các linh mục, không thể thiếu đức tính này. Suốt ba năm giảng đạo, Chúa Giêsu đă quan tâm đến giới nghèo. Ngài bênh vực người nghèo khi họ bị chèn ép. Ngài cứu giúp họ khi họ cần giúp đỡ. Ngài chữa lành cho họ khi họ bị đau yếu bệnh tật. Cha Trần An Dũng cũng thế, cha thường hay xuống tỉnh Nam Định thăm viếng an ủi các giáo dân bị giam cầm tại đó. Cha thường khuyên nhủ động viên cho họ rằng, "Những người chết v́ đạo th́ được lên thiên đàng ngay, c̣n tôi cứ phải ẩn trốn và mất nhiều tiền bạc mới thoát khỏi tay các quan. Thà rằng tôi bị bắt và chết v́ đạo th́ hơn." Lần bị bắt cuối cùng khi đang ở trong tù, cha nghe biết quan huyện đă làm tờ phúc tŕnh bắt được cha ở ngoài ruộng để tránh cho những giáo dân khác không bị phiền hà. Cha đă sai người nhà mang rượu và 100 viên thuốc đem đến biếu quan huyện để cảm ơn ông đă khai như vậy. Để tránh cho các thầy khỏi bị bắt, khi được mời đi thăm giúp kẻ liệt hay người ốm đau, cha thường đi một ḿnh. Khi không đi thăm hỏi làm phúc được th́ cha lại cho các thầy đi đến các nơi để thăm hỏi và khuyên bảo giáo dân t́m đến với ngài mà xưng tội. Truyện kể lại rằng năm 1835 ông Lư Nhâm v́ ghét ông Tổng Th́n là người có đạo, muốn cho ông phải tội nên đă đem lính đến bắt cha Dũng cùng với khoảng 30 giáo dân đang xem lễ ở Kẻ Sui. Ông Tổng Th́n phải đưa 6 nén bạc cho quan Huyện Hào Khánh ở Đôn Thư xin liệu việc với quan phủ kể chuộc cha Dũng ra. Quan huyện lấy 4 nén c̣n hai nén cho người nhà quan phủ và tŕnh rằng: "Cậu tôi về xem lễ ở Kẻ Sui mà quan bắt th́ xin tha." Cha Dũng được tha về. Sau đó phải đổi tên là Lạc để dấu danh tánh bởi v́ quan quân đă biết đến tên ngài. Trung Tín Tuân Theo Ư Chúa: Sau bảy năm làm cha sở Kẻ Đầm. Ngày 10 tháng 11 năm 1839 khi cha sang thăm và xưng tội với cha già Thi ở Kẻ Sui th́ cha lại bị bắt. Nhiều người khuyên cha Lạc trốn đi, v́ ông lư Pháp không nhận ra cha. Nhưng cha trả lời, "Phó mặc cho ư Thiên Chúa. Đây sẽ là lần thứ hai tôi bị bắt v́ Chúa Giêsu Kitô." Khi Lư Pháp hỏi ngài có phải cụ đạo (linh mục) không, th́ ngài nhận ngay. Họ bắt trói ngài lại. Giáo dân lại chạy tiền để xin chuộc cha ra giúp đỡ họ về phần tinh thần. Cha Lạc dùng thuyền về nhà nhưng trên đường gặp mưa to gió lớn phải ghé vào nhà của một giáo dân quen trú ẩn. Cũng lúc đó, v́ nghe Lư Pháp bắt được cụ đạo nên quan huyện đang dẫn người đi tới. Người nhà thấy cha liền hô lên "Quan! Quan!" để có ư báo cho người chèo thuyền đừng ghé lên bờ, nhưng người chèo thuyền lại nghĩ là nói đùa nên cứ ghé vào bờ. Cha Lạc liền bị chận hỏi. Ngài nhận ḿnh là cụ đạo (linh mục) và bị bắt trói lại. Đêm ấy cha ngồi nói chuyện vui vẻ với lính canh và người nhà của quan. Cha nói: "Vua cấm đạo và Đức Chúa Trời định cho tôi phải bắt, tôi không sợ ǵ, trái lại c̣n vui nữa là khác." V́ cha Lạc tính t́nh hiền lành phản chiếu gương của Chúa Giêsu nên quan cũng tỏ ra tôn trọng ngài. Sáng hôm sau khi quan ngồi ăn một mâm và cha Lạc cũng ngồi ăn một mâm. Quan nói, "Ông ngồi một ḿnh một mâm th́ cũng là quan. Ông là quan bên đạo. Tôi là quan bên đời." Trước khi đưa giải cha về huyện, quan sai làm gông bằng tre nhẹ đeo vào cổ cha Lạc. Về tới huyện B́nh Lục, quan nói vói cha, "Tôi không có ư bắt ông, nhưng kẻ tố giác cứ lên cáo măi nên tôi phải đi." Cha Lạc trả lời, "Ông không có ư bắt tôi th́ hăy tha tôi về." Quan đáp, "Bây giờ sự việc đă lộ rồi không làm ǵ được nữa." Quan nói như thế là có ư muốn ăn tiền chuộc. Giáo dân biết ư nên lo gom góp tiền để chuộc cha về. Ông Cửu B́nh muốn cầm cả cơ nghiệp để chuộc cha về. Ông biên thư tŕnh bày: "Thưa cha, cha chịu chết th́ một ḿnh cha lên thiên đàng, mà nếu cha c̣n ở lại th́ bổn đạo chúng con được nhờ. Vậy xin cha nghĩ lại." Nhưng cha Lạc đă cấm họ đem tiền chuộc. Cha nói, "Tôi bị bắt lần này là lần thứ ba. Đó đúng là thánh ư Chúa định cho tôi như vậy. Anh chị em đừng mất tiền chuộc tôi làm ǵ." Đức Cha Retord (Liêu) cũng quư cha Lạc và cha Thi. Ngài nói, "Hai cụ ấy tốt lắm, có thể chuộc được th́ chuộc". Đức Cha sai thầy Sự mang 5 nén bạc đi chuộc cha Thi và cha Lạc về. Nhưng cha Lạc nói với thầy Sự: "Thầy nghĩ mà xem, tôi cũng như thánh Phêrô, khi phải bắt lần trước được giáo dân cầu nguyện cho và được về. Lần thứ hai giáo dân cũng lo liệu cho được thoát khỏi. Nhưng ư Chúa đă định cho tôi phải chết v́ Người như thánh Phêrô, th́ nói với bổn đạo đừng chuộc tôi nữa." Quan huyện cũng lấy lời ngọt dụ dỗ cha, "Thầy đạo, thầy biết nhiều chữ nghĩa và c̣n trẻ nữa th́ tại sao lại muốn chết, có phải uổng không? Hăy tin tôi đi, nhắm mắt lại bước qua ảnh thánh hoặc chỉ đi ṿng chung quanh, nếu thầy muốn th́ để cho lính của tôi khiêng thầy qua, tôi sẽ làm án tha ngay." Lời dụ dỗ của quan không thể lấn át được lời của Chúa Giêsu, "Hễ ai muốn bảo toàn sự sống ḿnh sẽ mất sống; bằng ai muốn mất sự sống ḿnh v́ Ta lại được sống. Người nào được lợi lăi cả thiên hạ mà thiệt phần linh hồn hỏi có ích chi? Lấy ǵ đổi được linh hồn ḿnh?" (Mt 16:24- 26). Cha Lạc đă dơng dạc trả lời, "Tôi không bao giờ làm theo ư quan vừa nói đâu. Hăy khép án tôi phải cắt trăm mảnh th́ hơn." Khi giáo dân theo tiễn đưa khóc lóc, cha Lạc đă nói, "Chúng tôi cảm ơn anh chị em. Anh chị em hăy về nhà và sốt sắng làm tôi thờ phượng Chúa cũng như là chúng tôi c̣n ở giữa anh chị em. Than khóc như thế này không có ích lợi ǵ mà c̣n tăng thêm sự phiền khổ cho chúng tôi." Khi bị giam và tra khảo ở Hà Nội, Cha Lạc đă biên thư kể cho Đức Cha Jeantet như sau: "Ngày 17, quan đă giao nộp chúng con (cha Lạc và cha Thi) cho quan án để truyền lệnh bắt chúng con bước qua ảnh thánh giá. V́ chúng con từ khước nên năm sáu anh lính xấn lại khiêng chúng con qua. Cha Thi đă ôm được thánh giá nhấc lên và hôn kính. Phần con, con cho chân lên rất cao và nói với họ: "Hăy chặt bớt chân ta đi, ta rất bằng ḷng chứ đừng ḥng trông ta chối đạo." Sau đó quan lại hỏi v́ sao đạo không cho phép thờ kính tổ tiên. Con đáp lại, "Nếu có ai chào khi cha mẹ đang ngủ th́ không có kể là tôn kính bởi v́ các ngài không biết ǵ. Cũng một lẽ ấy c̣n mạnh hơn đối với người đă chết." Ngày 19 các quan lại gọi chúng con ra ṭa lần thứ hai để ép buộc chúng con. Lần này họ bắt con đeo gông nặng hơn, và ngày 21 lại thay bằng xiềng. Xiềng của cha Thi nhẹ hơn. Bốn ngày đầu con cứ chảy nước mắt hoài khi nghĩ đến các cha thừa sai và các anh em con. Nhưng từ ngày 15 tới nay th́ con vui vẻ và bằng ḷng, coi các khổ cực như không. Con thương cha Thi v́ tuổi cao không kham nổi những khốn khổ. Chúa đă thêm sức cho con để không lo lắng ǵ nữa." Ḷng Biết Ơn và Gương Sáng: Ḷng biết ơn là một điểm son của người Việt Nam. Cha Dũng-Lạc đă chứng tỏ đức tính này qua lời của ngài trong thư gởi cho Đức Cha Jeantet. Cha Lạc tâm sự, "Thưa Đức Cha, khi chúng con được thư của Đức Cha an ủi th́ cảm động chảy nước mắt ra. Chúng con là ǵ mà được các cha thương lo lắng. Chúng con được biết đạo thật là nhờ ơn các đức cha và các cha thừa sai. Chúng con không biết nói sao cho hết ḷng biết ơn của chúng con. Riêng với đức cha, xin đức cha cầu cùng Chúa cho chúng con được nghĩa cùng Chúa cho đến cùng. Chúng con đă viết tất cả những ǵ xảy ra cho chúng con trong tù cho đến bây giờ. Con vẫn phải đối đáp những lời chế nhạo của các tù nhân khác châm biếm đạo thánh. Con xin đức cha thương nhớ đến chúng con. Trong nhà tù rất khó viết thư cũng như nhận thư. Con không c̣n ǵ để viết. Vững mạnh như núi thái. Trần An Dũng." Khi các quan cho đ̣i cha Lạc và cha Thi lên để kư nhận bản án ngày 30 tháng 11, họ c̣n cố ép các ngài chối đạo. Một người nhắc đến việc thầy Phanxicô đă muốn chết hơn là chối đạo. Cha Lạc đă nhân cơ hội nói lên ḷng can đảm của ngài, "Người tín hữu mà quan vừa nói chỉ là một học tṛ của chúng tôi mà đă biết chọn nghĩa vụ hơn là sự sống. C̣n chúng tôi là các thầy đạo lại kém ḷng can đảm hơn không dám đi theo con đường chúng tôi đă vạch ra cho họ sao? Không bao giờ, thưa các quan, các quan đừng chờ đợi việc hèn nhát này." Cha Dũng-Lạc đă làm một bài thơ gởi cho cha Thực gói ghém tâm tư của ngài khi chờ đợi án lệnh v́ Chúa Kitô: Lạc rầy đă rơ chốn quân quan. Bút chép thơ này gửi thở than. Ḷng nhớ bạn non c̣n vất vả. Dạ thương khách chạy chưa yên hàn. Đông qua tiết lại thời xuân tới. Khổ tạm mai sau hưởng phúc an. Làm kẻ anh hùng chi quản khó. Nguyện xin cùng gặp chốn thanh nhàn. (Trích "Uống Nước Nhớ Nguồn", trang 422) Cuối năm 1839, khi quân lính đến công bố lệnh xử án, cha Lạc đă vui vẻ đón nhận bản án như một phần thưởng trọng hậu. Trên đường đến pháp trường, cha yên lặng cầu nguyện. Lúc ra khỏi cổng thành, cha Lạc chắp tay lại, hát lớn tiếng mấy câu latinh chúc tụng Chúa. Trước lúc hành quyết, người lư h́nh đến nói với cha: "Chúng tôi không biết các thày tội ǵ, chúng tối chỉ làm theo lệnh trên, xin các thày đừng chấp". Cha Lạc tươi cười trả lời: "Quan đă truyền anh cứ thi hành". Cha cầu nguyện, ngước mắt lên trời và nghiêng cổ cho lư h́nh chém. Cha đă lănh phúc tử đạo ngày 21 tháng12, năm 1839 tại băi ngoài cửa Ô Cầu Giấy, Hà Nội, giáp đường lên tỉnh Sơn Tây. Thi hài cha Lạc được đưa về an táng tại nhà bà Lư Quư gần đó. Nhiều người làm chứng là đă nh́n thấy một con chim trắng to lớn hơn chim bồ câu, bay lượn trên đầu cha lúc lư h́nh hành quyết.
THÁNH ANÊ
LÊ THỊ THÀNH Nh́n lại lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, số chị em phụ nữ góp phần xương máu làm chứng đức tin không phải là ít. Nhưng khi nh́n vào danh sách 117 vị thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta chỉ thấy tên có một người phụ nữ. Có lẽ v́ bản chất âm thầm, kín đáo khiêm nhường không phô trương, được nhào nặn với Công, Dung Ngôn, Hạnh, đa số các phụ nữ Công Giáo Việt Nam chỉ âm thầm hoạt động và đứng ở đàng sau. Họ chết v́ Chúa nhưng không mấy người biết họ là ai. Họ không có màng để tạo những lư lịch thành tích công trạng ngoài xă hội hay trong xứ đạo. Họ không giữ những chức vụ quan trọng trong Giáo Hội. Họ không có cơ hội được học hành nhiều như nam giới. Khi nh́n vào cuộc sống của giới phụ nữ Việt Nam, chúng ta nh́n nhận phụ nữ Việt Nam đẹp nhưng không kiêu sa. Đa số là họ không màng đến danh giá địa vị xă hội cho riêng ḿnh. Họ coi địa vị của cha, của chồng, của con quan trọng hơn là của chính họ. Một trăm tiếng xấu em mang, Tiếng dơ em chịu để chồng thơm danh. Người phụ nữ Việt Nam là thế. Thể lư họ tuy yếu mềm nhưng tinh thần họ kiên cường giẻo giai và bất khuất. Ḷng người phụ nữ Việt Nam đầy t́nh yêu thương vô vị lợi. Nhưng cái khiêm nhường âm thầm và t́nh yêu thương vô vị lợi của giới phụ nữ Việt Nam không giấu kín măi được. Đức tin vững mạnh và t́nh yêu thương Kitô giáo của giới phụ nữ Công Giáo Việt Nam đă được tỏ bày nơi Thánh nữ Anê Lê Thị Thành. Tiểu Sử: Anê Lê Thị Thành sinh khoảng năm 1781 tại làng Bái Điền, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Từ nhỏ, cô đă theo mẹ về quê ngoại ở giáo xứ Phúc Nhạc thuộc địa phận Phát Diệm, tỉnh Ninh B́nh. Khi đến tuổi thành hôn, bà đă kết hôn với anh Nguyễn Văn Nhất. Hai người sinh được sáu người con. Hai người con trai tên là Đê và Trân. Bốn người con gái tên là: Thu, Năm, Thiên, Nụ. Tục lệ địa phương thường lấy tên người con trai đầu để gọi cha mẹ. Chính v́ thế mới có tên là ông bà Đê. Ông bà Đê sống hiền lành đạo đức, họ quan tâm đến việc giáo dục con cái. Đức Cha Retord đă viết về bà trong thơ đề ngày 10 tháng 2, 1843 như sau: "Bà Agnes Đê sinh ra do cha mẹ Công Giáo thuộc làng Gia Miếu (Bái Điền) tỉnh Thanh Hóa. Từ nhỏ bà đă tỏ ra là một người gương mẫu đạo đức, giúp mẹ tiêm trầu bán kiếm cơm ăn, sốt sắng đọc kinh sáng tối; thường hay đi lễ; năng xưng tội rước lễ. Năm 19 tuổi bà lập gia đ́nh với một thanh niên tên là Văn Nhân (Nguyễn Văn Nhật) mà sau này người ta gọi là ông Đê. Hai vợ chồng sống chung ḥa thuận, chu toàn các bổn phận. Gia đ́nh sống bằng nghề cầy cấy và nuôi tằm. Hai ông bà có sáu người con, và lúc bà chết, bà có tất cả 17 cháu trai và gái." Làm Vợ và Làm Mẹ: Cô Lucia Nụ, người con gái út đă khai với giáo quyền khi được thẩm vấn trong việc điều tra phong thánh như sau: "Thân mẫu chúng tôi rất chăm lo việc giáo dục các con. Chính người dạy chúng tôi đọc chữ và học giáo lư, sau lại dạy cách tham dự Thánh Lễ và xưng tội rước lễ. Người không để chúng tôi biếng nhác việc xưng tội. Khi chúng tôi lơ là, người thúc giục chúng tôi bằng được mà thôi. Người cho chúng tôi nhập hội Con Đức Mẹ, vào ban thiếu nữ thưa kinh ở nhà thờ". Cô Anna Năm, người con gái khác khai thêm: "Song thân chúng tôi chỉ gả con cái cho những thanh niên đạo hạnh. Sau khi đă kết hôn, thân mẫu thường đến thăm chúng tôi và khuyên bảo những lời tốt lành. Có lần người dạy tôi: 'Tuân theo ư Chúa con lập gia đ́nh là gánh nặng. Con phải ăn ở khôn ngoan, đừng căi lời cha mẹ chồng. Hăy vui ḷng nhận Thánh giá Chúa gửi cho.' Nguời cũng thừơng khuyên vợ chồng tôi: 'Hai con hăy sống ḥa hợp, an vui, đừng để ai nghe chúng con căi nhau bao giờ". Ḷng Bác Ái: "Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc". Đây là những lời kinh mà mọi giáo hữu Công Giáo Việt Nam đă thuộc nằm ḷng bởi v́ sáng Chúa Nhật nào cũng được đọc vang lên trong các nhà thờ. Đức tin của bà Đê cũng đă được uốn nặn theo tinh thần của những lời kinh đọc chung trong thánh đường. Đức tin ấy đă được thể hiện qua ḷng bác ái hay thương giúp người. Bà Năm, người con gái trong gia đ́nh cho biết là gia đ́nh bà Đê không giầu không nghèo, nhưng không bao giờ họ từ chối một ai đến xin ăn mà không cho. Đặc biệt là bà có ḷng quư trọng và sốt sắng giúp đỡ các linh mục, nhất là khi các ngài gặp khó khăn trong thời cấm đạo. Gia đ́nh bà đă dành một khu nhà riêng để các linh mục thừa sai trú ẩn. Chính ḷng yêu quư đó đă đưa bà Đê đến cái chết v́ đạo và v́ đức tin. Tháng 3 năm 1841 đời vua Thiệu Trị ra lệnh cấm đạo. Trong số bốn linh mục trốn ở làng Phúc Nhạc, có cha Thành trốn ở nhà bà Đê. Một người tên Đễ theo giúp cha Thành muốn lập công và tham tiền nên đă mật báo tin các linh mục trú ẩn cho quan Tống đốc Trịnh Quang Khanh. Đúng ngày Lễ Phục Sinh, 14.4.1841, quan Tống đốc đích thân chỉ huy 500 lính đột xuất bao vây làng Phúc Nhạc. Quan ra lệnh tập trung giáo dân lại một chỗ để quân lính lục soát từng nhà. Lúc đó, cha Lư được ông trùm Cơ đưa sang vườn nhà bà Đê ẩn núp. Bà Đê chỉ cho cha đường mương khô ở sau vườn cạnh một bụi tre. "Xin cha ẩn dưới rănh này, Đức Chúa Trơi ǵn giữ th́ cha thoát, bằng không cha và con đều bị bắt". Nói xong bà cùng cô con gái Lucia Nụ lấy rơm và cành khô che phủ lên. Nhưng không may quân lính đă trông thấy cha Lư chạy qua vườn nhà bà. Họ đến bắt được cha Lư. Bà Đê v́ là chủ nhà cũng bị bắt v́ tội chứa chấp. Nhà Bà Đê bị lục soát, thóc lúa, đồ dùng, tiền bạc đều bị lính lấy hết. Khi bị bắt, bà Đê rất sợ hăi, nhưng khi điệu Bà ra đ́nh làng th́ bà lấy lại được b́nh tĩnh, tỏ ra vui tươi không c̣n vẻ sợ sệt ǵ nữa. Ḷng Can Đảm: Quân lính áp giải bà về Nam Định cùng với những người khác. Họ phải đi suốt đêm rất cực nhọc. Bà Đê sức yếu, không chịu nổi gông nặng. Bà té ngă và người khác phải nâng đỡ bà đứng dạy nhiền lần. Khi bị giam và tra tấn trước công đường, quan toà truyền bắt bà chối bỏ đạo. Thấu hiểu nằm ḷng lời của Chúa Giêsu, "Ai kiên tâm đến cùng sẽ được cứu rỗi" (Mt 10:22). "Hễ ai xưng thầy trước mặt thiên hạ Thầy cũng khen họ trước mặt Cha thầy ở trên trời; ai từ chối Thầy trước mặt người ta, Thầy cũng chối họ trước mặt Cha thầy trên trời" (Mt 10:32). Bà Đê đă cương quyết thẳng thắn trả lời với quan: "Tôi chỉ tôn thờ Thiên Chúa, không bao giờ tôi bỏ đạo Chúa muôn đời..." Quan truyền đánh đ̣n Bà. Lúc đầu lính đánh bà bằng roi, sau họ đánh bà bằng cây củi lớn. Đau đớn nhưng bà không sợ cũng chẳng nản ḷng. Khi ông Đê đến thăm, bà đă kể, "Họ đánh đập tôi vô cùng hung dữ, đến đàn ông c̣n không chịu nổi, nhưng tôi đă được Đức Mẹ giúp sức, nên tôi không cảm thấy đau đớn." Những lần thẩm vấn thứ hai, thứ ba, bà Đê vẫn một ḷng trung kiên. Thấy vậy, quan ra lệnh cho quân lính vừa đánh đ̣n, vừa kéo lôi bà bước qua Thánh Giá. Bà Đê gan ĺ nằm sấp ḿnh xuống đất kêu lớn tiếng: "Lạy Chúa, xin thương chúng con, con không bao giờ muốn bỏ ḷng tin Chúa, nhưng v́ con là đàn bà yếu đuối, nên họ dùng sức mạnh để cưỡng bách con đạp lên Thập Giá". Thấy bà gan lỳ, quan truyền cho túm tay áo của bà lại rồi thả rắn độc vào trong người bà. Bà Đê cũng chẳng vừa, bà b́nh tĩnh đứng yên cách lạ lùng. Rắn không cắn, nhưng t́m đường ḅ ra. Quan truyền đánh bà dữ hơn nữa rồi cho tống giam trong ngục. Bà bị kiệt sức, đi không nổi phải có người d́u. Ông Đan, một nhân chứng kể lại: "Bà Anê Đê đă bị đánh đập tàn bạo đến nỗi thân ḿnh Bà đầy máu mủ. Tuy vậy Bà vẫn vui vẻ, và c̣n muốn chịu khổ hơn nữa." Người Mẹ Thánh Thiện: Người con gái út là cô Lucia Nụ kể lại: "Lính không cho tôi vào thăm, nhưng họ đem mẹ tôi ra ngoài sân nói chuyện với tôi. Thấy mẹ mang gông bọc sắt khổ sở tôi ̣a lên khóc. Mẹ tôi an ủi, 'Con đừng khóc, Mẹ mặc áo hoa hồng đấy, Mẹ vui ḷng chịu khổ v́ Chúa Giêsu, sao con lại khóc?' Với đức tin của một người mẹ bà khuyên, 'Con hăy về chuyển lời Mẹ bảo với anh chị em con coi sóc việc nhà, giữ Đạo sốt sắng, sáng tối đọc Kinh xem Lễ, cầu nguyện cho Mẹ vác Thánh Giá Chúa đến cùng. Chẳng bao lâu Mẹ Con ta sẽ đoàn tụ trên nước thiên đàng'." Sơ An được bề trên sai ra Nam Định săn sóc các tù nhân Công Giáo chứng nhận là bà Đê rất sốt sắng. Sơ An đă t́m cách đưa linh mục vào thăm bà Đê để cho bà xưng tội và rước lễ. Ở trong tù, bà Đê không những chỉ đọc kinh sáng tối, mà ban ngày bà cũng hay lần chuỗi và ngắm đàng Thánh Giá. Ngoài những cực h́nh tra tấn nặng nề và ăn uống kham khổ, bà c̣n phải chịu thêm nỗi đau đớn của bệnh kiết lỵ. Trong giờ hấp hối người ta thường nghe Bà cầu nguyện: "Lạy Chúa! Chúa đă chịu chết v́ con, con hết ḷng theo thánh ư Chúa. Xin Chúa tha mọi tội lỗi cho con." Cuối cùng Bà dâng lời cầu nguyện sau hết: "Giêsu-Maria-Giuse! Con xin phó linh hồn và thân xác con trong tay Chúa, xin ban ơn cho con được vâng theo ư Chúa trong mọi sự". Sau ba tháng bị giam cầm tra tấn v́ đức Tin, Ngày 12 tháng 7 năm 1841 bà Đê đă về nhà Cha trên trời trong tinh thần thánh thiện. Bà hưởng thọ 60 tuổi. Thi hài bà được tẩm liệm và đem về an táng tại pháp trường Năm Mẫu. Sáu tháng sau, người ta cải táng đem xác bà về Phúc Nhạc. Gương chứng nhân của bà qủa là một mẫu gương cho phụ nữ Công Giáo Việt Nam. "Tin yêu Chúa tể muôn trùng Tan vàng nát ngọc chữ trung một ḷng". KẾT LUẬN
Thánh
giáo phụ Ignatiô thành Antiochia đă viết nhiều về giáo thuyết tử đạo. Ngài
nói với giáo dân của ngài:
"Hăy chấp nhận để cầu
nguyện cho tôi có sức mạnh, bên ngoài và bên trong, không phải chỉ để nói
nhưng để muốn, nhờ đó tôi không những chỉ có thể được gọi là Kitô hữu nhưng
được thấy là Kitô hữu. V́ nếu tôi được thấy như vậy, tôi cũng sẽ được gọi
như thế, và rồi tôi sẽ trung thành khi tôi không c̣n ở thế gian này nữa"
(Thư Thánh
Ignatiô Gửi Tín Hữu Roma, III, 2). "Đừng để sự ǵ hữu h́nh hay vô h́nh
ngăn cản tôi khỏi việc đạt tới với Đức Kitô. Hăy để cho những khổ h́nh của
qủy dữ đè trên tôi nếu nó giúp tôi đạt tới Đức Kitô" (Thư Thánh Ignatiô
gửi Tín Hữu Roma, IV, 2 và 3). Tuy các Thánh Tử Đạo Việt Nam như
thánh Anrê Trần An Dũng-Lạc và Anê Lê Thị Thành không phải là những học giả
có thể giải nghĩa được giáo thuyết thần học cao siêu của tinh thần tử đạo
như thánh Ignatiô, nhưng các ngài đă chứng minh giáo thuyết tử đạo bằng việc
chết v́ đạo. Người ta không những chỉ gọi các ngài là Kitô hữu, nhưng họ
cũng đă thấy các ngài là Kitô Hữu qua cái chết anh dũng v́ Chúa Kitô.
Lm. Gioan Trần Khả
|