3 Đại Anh Hùng Truyền Giáo
Của Giáo Hội

 

 

 
    C
húa nhật đầu tháng 10 năm 2003, "tháng Truyền Giáo", ĐTC đă tôn phong lên bậc Hiển Thánh 3 vị đại anh hùng thừa sai của Giáo Hội: đứng đầu là chân phước GM Daniele Comboni và 2 chân phước khác là cha Arnold Janssen, vị Sáng lập ḍng Ngôi Lời, và vị LM cùng ḍng là cha Joseph Freinademetz, thừa sai tại Trung Hoa. Ngài cũng là vị Hiển Thánh đầu tiên của Giáo Hội tại Trung Hoa không phải là vị tử đạo.

Với lễ phong thánh này, tổng cộng Đức Gioan Phaolô II đă phong thánh cho 474 vị, và phong chân phước cho 1320 vị, trong 25 năm làm Giáo Hoàng. 

THÁNH GIÁM MỤC DANIELE  COMBONI
(1831-1881)

Đức Cha Daniele Comboni sinh ngày 15 tháng 3 năm 1831 tại Brescia, bắc Italia, là con thứ tư trong một gia đ́nh 8 anh em, nhưng tất cả đều sớm về chầu Chúa. Thế nhưng, khi khám phá ra ơn gọi đi truyền giáo, dù chỉ là con duy nhất sống sót, Daniele đă lên đường đi Phi châu, sau khi thụ phong linh mục. Trước bao nhiêu khó khăn do thủy thổ, do hoàn cảnh chính trị, cha không nản ḷng. Ngược lại, cha đă thảo ra một kế hoạch truyền giáo cho lục địa này đệ lên Ṭa Thánh, trong đó, một trong những điểm then chốt là chấp nhận để cho chính người Phi châu đảm nhận trách vụ truyền giáo cho đồng hương của ḿnh. Nói cách khác, các thừa sai ngoại quốc cần biết kính trọng người bản xứ, nh́n nhận họ như là cộng sự viên chứ không phải như thuộc hạ.

Cha Comboni được bổ nhiệm làm GM Đại diện tông ṭa Trung phi, trụ sở tại Khartum, Sudan, với lănh thổ bao trùm gần một nửa diện tích lục địa này. Đức Cha lập ra một ḍng nam thừa sai, một ḍng nữ thừa sai. Đức cha qua đời khi mới được 50 tuổi đời, nhưng công tŕnh của Đức cha được tiếp tục bởi gia đ́nh thiêng liêng, hiện nay gồm 1831 nam tu sĩ (trong số này có 17 giám mục, 1290 linh mục), và ḍng nữ với 1700 thành viên. Một nét đặc biệt trong hồ sơ phong thánh của Đức cha Comboni là phép lạ chữa bệnh cho một phụ nữ thuộc Hồi giáo.

Cách đây 7 năm, ngày 17-3 năm 1996, Đức Cha Daniel Comboni được ĐTC Gioan Phaolô 2 tôn phong lên bậc chân phước. Trong thời gian qua, Bộ phong thánh đă cứu xét một vụ khỏi bệnh lạ lùng nhờ lời chuyển cầu của chân phước Comboni, và đă xác nhận đó là phép lạ, và qua đó, chân phước đă được phong hiển thánh. Người được Đức Cha Comboni chữa lành lạ lùng là một phụ nữ Hồi giáo tên là Lubna Abdel Aziz, 38 tuổi, có 5 người con và sinh sống tại Khartum, thủ đô Sudan.

Bà Lubna Abdel Aziz được đưa vào điều trị từ ngày 11-11-1997 tại Nhà thương Saint Mary ở Khartum do các nữ tu của chân phước Comboni đảm trách. Tại đây bà chịu giải phẫu để sinh đứa con trai thứ năm. Cuộc giải phẫu diễn ra vào lúc 7 giờ 30 sáng. Hài nhi được chào đời, nhưng cùng ngày ấy bà Aziz lâm vào t́nh trạng thập tử nhất sinh. Hồ sơ y khoa của bác sĩ c̣n ghi lại là bà bị xuất huyết rất nhiều trong cuộc giải phẫu để sinh con. V́ thế, bà phải chịu hai cuộc giải phẫu khác với hy vọng chấm dứt t́nh trạng băng huyết trầm trọng ấy. Nhưng ngay sau khi giải phẫu lần thứ hai, các bác sĩ nhận thấy rằng máu của bệnh nhân không đông lại, và mặc dù đă nhiều lần tiếp máu, nhưng bà Aziz vẫn tiếp tục bị xuất huyết, khiến tim bị liệt và phổi bị phù. Nói tóm lại là không c̣n phương thế nào để cứu chữa nữa. Các bác sĩ điều trị tuyên bố nữ bệnh nhân sẽ chết trong thời gian ngắn.

Trong t́nh cảnh tuyệt vọng ấy, Nữ tu Maria Bianca Benatelli, phụ trách khu sản khoa tại bệnh viện St Mary ở Khartum đă cầu xin chân phước Comboni cứu giúp nữ bệnh nhân. Chị lấy h́nh Đức cha Comboni, đặt dưới gối của bệnh nhân, với mặt ảnh hướng về đầu của bà để ngài nh́n bà. Và trong khi chị đặt ảnh dưới gối, chị nh́n ảnh Đức cha và nói: "Xin cha đừng để họ thất vọng nhé".

Bấy giờ tất cả các nữ tu thừa sai bắt đầu làm tuần tam nhật để cầu xin ơn lành bệnh cho nữ bệnh nhân, nhờ lời chuyển cầu của Đức cha Comboni. Cả viên bác sĩ Công Giáo đă giải phẫu cho bà Lubna và 3 bác sĩ sản khoa thuộc Giáo Hội Chính Thống Copte cùng đi với các nữ tu vào nhà nguyện của bệnh viện.

Sáng hôm sau, các bác sĩ rất ngạc nhiên v́ thấy bà c̣n sống, và mặc dù bị giải phẫu lần thứ ba trong t́nh trạng tuyệt vọng, không thể hồi lại như thế, bà ấy vẫn không tắt thở. Trái lại, dưới mắt kinh ngạc của các bác sĩ, nữ bệnh nhân tỉnh lại và b́nh phục trong thời gian rất ngắn sau đó, đến độ chỉ vài ngày sau bà được xuất viện, hoàn toàn b́nh phục. Hai bác sĩ Hồi giáo sau đó khám bệnh cho phụ nữ ấy, và chứng nhận của họ được kèm vào hồ sơ phong thánh.

Sau khi Hội đồng giám định y khoa của Bộ phong thánh xác nhận cuộc khỏi bệnh của bà Lubna là "một cuộc khỏi bệnh mau lẹ, hoàn toàn và lâu dài, không có hệ lụy nào, và không giải thích được về phương diện khoa học", Hội đồng các thần học gia của Bộ phong thánh đồng thanh nh́n nhận đó là một cuộc khỏi bệnh lạ lùng nhờ lời chuyển cầu của chân phước Daniele Comboni. Đây là trường hợp lạ lùng duy nhất xảy ra cho một tín hữu Hồi giáo được gửi tới Bộ phong thánh. Sau đó, hội đồng Hồng Y cũng nh́n nhận và ĐTC truyền công bố sắc lệnh về vấn đề này. 

THÁNH LINH MỤC ARNOLD  JANSSEN
(1837-1909)

Cha Arnold Janssen sinh ngày 5-11-1837 tại thị trấn Goch, thuộc giáo phận Muenster, bắc Đức, trong một gia đ́nh nông dân. Trong số 11 người con của ông bà Gerard và Catarina, có hai người làm linh mục và một người là tu huynh ḍng Capuchino. Arnold là con thứ hai. Sau những năm ở chủng viện, thầy Arnold Janssen thụ phong linh mục năm 1861 lúc 24 tuổi và được Đức GM bản quyền bổ nhiệm làm phó giám đốc trường trung học Bocholt, và giảng dạy các môn Pháp ngữ, toán và khoa học thiên nhiên. Cha Arnold chu toàn phận sự hết sức ân cần chăm chỉ. Vào những ngày lễ, cha nhiệt thành giúp việc mục vụ tại các xứ đạo nghèo nhất, đặc biệt tại vùng giáp giới với Ḥa Lan. Cha cũng dành những thời giờ rảnh rỗi để thuyết tŕnh và học thêm về Kinh Thánh và Bộ Tổng luận Thần học của Thánh Tomaso Aquino mà cha không có dịp đào sâu trước đó v́ các chuyên ngành khác.

Năm 1865, Cha Arnold Janssen hay biết có phong trào Tông đồ cầu nguyện đang lan rộng từ 3 năm trước đó trong các giáo phận ở Đức, nên Cha cũng gia nhập phong trào này và phổ biến tại trường Bocholt (1866) bằng cách viết một cuốn cẩm nang nhỏ để giải thích về mục đích của phong trào. Cuốn này được in thành 90 ngàn bản và phổ biến trong các giáo phận Đức.

Sau 12 năm dạy học, cha Janssen xin Đức GM cho đổi công việc vào năm 1873 và làm tuyên úy cho các nữ tu tại Kempen, kèm theo nghĩa vụ phải dâng thánh lễ hằng ngày và dạy giáo lư trong các trường do các nữ tu đảm trách. Tuy nhiên, công việc chính của cha là thành lập và biên soạn nguyệt san với tên là "Tiểu Sứ Giả Thánh Tâm" để phổ biến nơi các tín hữu ư thức về truyền giáo. Cha dùng chính số tiền đă tiết kiệm được để tài trợ việc ấn hành và gửi báo đi. Sáng kiến này thật là hữu ích cho các công việc của cha, nhất là trong việc cổ vơ ơn gọi và xin trợ giúp tài chánh cho các thừa sai. Trong tạp chí ấy cha thường kèm theo một truyền đơn cổ vơ Hội Mân Côi sống do cô Pauline Jaricot (1826) khởi xướng tại thành phố Lyon bên Pháp. Thực vậy, cha Janssen viết: "Sự hỗ trợ chúng ta có thể dành cho các xứ truyền giáo là khuyến khích dân chúng sốt sắng cầu nguyện cho các miền truyền giáo".

Năm 1874, cha Janssen lên tiếng kêu gọi thành lập một chủng viện thừa sai Đức. Sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm đó, cha đến thăm Đức Cha Timoleone Raimondi (+1894), người Italia, thuộc Hội thừa sai Milano (Pime) và bấy giờ là Phủ doăn Tông Ṭa Hong Kong, đang là khách của LM Ludwig von Essen (+1886), chánh sở giáo xứ Neuwerk. Trong cuộc viếng thăm ấy, cha Janssen được biết cha Ludwig đă xin và được sự chúc lành của Đức Piô IX về việc thành lập một chủng viện thừa sai tương tự như vậy với lời khấn công, nhưng v́ chiến dịch bài trừ Công Giáo gọi là "Kultur-kampf" ở Đức hồi đó, nên cha chưa bắt đầu được. Về phần cha Janssen, Cha nghĩ đến việc thành lập một chủng viện thừa sai không có lời khấn, dành cho các LM triều, và cần thực hiện ngay tại Ḥa Lan để các LM, tuy bị cản trở v́ chiến dịch bài trừ Công Giáo, nhưng vẫn có thể thi hành việc tông đồ. Cha sở giáo xứ Neuwerk khuyên cha Janssen cộng tác vào công tŕnh của cha nhưng cha Janssen không nhận v́ cho rằng dự án ấy không thể thực hiện được. Đức Cha Raimondi, trong các cuộc viếng thăm tại Kempen, đă thuyết phục được cha Janssen đảm nhận việc điều khiển một chủng viện thừa sai tại quê hương và tháp nhập vào đó một đệ tử viện, dù rằng cha Janssen xác tín ḿnh không có ơn gọi sống đời truyền giáo.

Cha Arnold Janssen người nhỏ thó, giọng nói yếu và khàn, không có tài hùng biện và không có nhiều quan hệ xă hội. Cha chấp nhận ư tưởng của Đức cha Raimondi, nhưng thấy sáng kiến ấy cũng có những rủi ro. Cha nói: "Chúa có thể làm với chúng ta điều ngài muốn. Nếu từ chủng viện này nảy sinh điều ǵ tốt, chúng ta sẽ cảm tạ Chúa; nếu không có ǵ tốt cả, th́ chúng ta sẽ khiêm tốn đấm ngực và xưng thú: chúng ta không đáng ơn huệ ấy".

Thế là, ngày 8-9 năm 1875, cha Janssen, lúc đó mới 38 tuổi, khởi công thành lập chủng viện ở làng Steyl, trên lănh thổ giáo phận Roermond bên Ḥa Lan, với phép của Đức Cha Agostino Paredis (+1886) và với sự trợ giúp của hai giáo sĩ và một cha sở. Trong số hai giáo sĩ ấy có phó tế Gioan Baotixita Anzer (+1903), sau này là GM Đại diện Tông Ṭa ở tỉnh Sơn Đông bên Trung Hoa. Thầy Anzer chấp nhận quan điểm của vị sáng lập. Hai người khác bị thải hồi v́ cảm thấy không sống được trong bầu không khí tu viện trong căn nhà nhỏ, do luật ḍng Ba Đa Minh mà vị sáng lập đề nghị tuân giữ với những việc thống hối tương đối nhiệm nhặt và sau đó được giảm bớt. Ba phó tế khác gia nhập chủng viện của cha Janssen, trong đó có em ruột của cha tên là Johannes. Cùng với họ, cha thành lập ḍng Ngôi Lời với mục đích truyền bá đức tin nơi dân ngoại và những người lạc giáo. Khẩu hiệu của cha là: "Tôn vinh Thánh Tâm Chúa Giêsu nơi tâm hồn con người".

Đời sống trong nhà các thừa sai tương lai thật là thanh bần và khắc khổ, tuân theo qui luật kiêng thịt 4 ngày mỗi tuần và một ngày ăn chay. V́ việc chầu Ḿnh Thánh Chúa liên tục không thể thực hiện được, nên cha Janssen du nhập ngay từ năm đầu tiên nơi các ứng sinh đời sống truyền giáo kinh nguyện được đọc 15 phút do chính cha biên soạn, nhờ đó, cha muốn cho các tu sĩ Ngôi Lời quen sống liên tục trước sự hiện diện của Thiên Chúa. Chân phước Joseph Freinedemetz, gia nhập chủng viện Steyl năm 1873, đă viết đầy phấn khởi: "Đây thực là nhà của Chúa ... Tôi chưa bao giờ thấy điều tương tự như vậy".

Năm 1876, cha Arnold Janssen thiết lập một nhà in tại làng Steyl để ấn hành báo "Tiểu Sứ Giả Thánh Tâm" và các tạp chí khác với sự cộng tác của các thầy trợ sĩ. Với báo chí truyền giáo được tổ chức qui củ và được sự nâng đỡ của các giáo dân thiện nguyện dành giờ rảnh để phổ biến tạp chí, Cha Janssen có thể hướng dẫn hàng trăm bạn trẻ tiến đến chức linh mục, nâng đỡ các chủng sinh nghèo không thể trả tiền phí tổn tại chủng viện, và giúp các tín hữu Công Giáo Đức nhạy cảm hơn đối với các nhu cầu của các xứ truyền giáo.

Vừa khi các chiến dịch chống các GM và các ḍng tu tại Đức giảm bớt, cha Janssen có thể đưa ḍng Ngôi Lời tiến thêm một bước. Cha được bầu làm Bề trên trọn đời, tuyên xưng 3 lời khấn công vĩnh viễn, với các bạn đồng hành đầu tiên (1885). Dưới sự hướng dẫn của cha ḍng phát triển mau lẹ. Với thời gian, cha mở được 6 nhà lớn để huấn luyện các thừa sai tương lai tại Đức, Áo, Italia, Hoa Kỳ và gửi các thừa sai đi các nơi trên thế giới. Đức Giáo Hoàng Lêo XIII ban sắc lệnh khen ngợi ḍng ngày 25-1-1901.

Tại các nước nói tiếng Đức, thời đó chưa có ḍng nữ thừa sai nào cả. Với sự giúp đỡ của Nữ Chân phước Maria Stollenwerk (+1900), và 6 thiếu nữ giúp việc trong nhà các cha ở Steyl, dưới sự hướng dẫn của các nữ tu ḍng Chúa Quan Pḥng, ngày 8-12 năm 1889, cha Janssen thành lập ḍng Nữ Tỳ Thánh Linh để giáo dục các thiếu nữ tại các miền truyền giáo. Giữa ḷng cộng đoàn này vào năm 1896, nảy sinh một nhóm các nữ tu chiêm niệm với mục đích hiến thân chầu Ḿnh Thánh Chúa liên tục để cầu nguyện cho các xứ truyền giáo. Trong nhiều năm trời, hằng tuần cha Janssen giảng dạy 3 lần cho các nữ tu và mỗi năm 4 lần, ngài tŕnh bày chương tŕnh để huấn luyện các chị về sứ mạng đặc biệt và ḷng trung thành với ĐTC.

Cho đến chết, cha Janssen luôn quan tâm huấn luyện các tu sĩ t́m cách giúp họ chê ghét tội lỗi và đền tội bằng kinh nguyện và các thánh lễ đền tạ. Cha không quan tâm tới số lượng, nhưng tới phẩm chất của các thành viên. V́ thế, cha luôn mời gọi các ứng sinh đời tu tự do chọn lựa trong tinh thần trách nhiệm trước khi bắt đầu nhà tập hoặc lănh nhận chức phụ phó tế.

Với kinh nghiệm dạy học lâu năm, cha Janssen rất chú ư đến việc huấn luyện trí thức cho các tu sĩ ḍng Ngôi Lời. Trong số 500 tu sĩ của ḍng mà ngài cai quản ḍng trong 33 năm, ít nhất là 15% được gửi đi học thêm về triết và thần học ở Roma, các khoa học thiên nhiên và sinh ngữ tại các đại học Vienne, Berlin, Innsbruck, và Bonn. Cả các nữ tu, trong thời thỉnh tu, cũng được học hai ngoại ngữ. Cha thành lập cho các chị một trường sư phạm để chuẩn bị các chị dạy học tại các xứ truyền giáo, và cho phép một số chị trở thành nữ hộ sinh, vượt qua quan niệm thời bấy giờ. Với các thày trợ sĩ, cha cho họ được huấn luyện về kỹ thuật và nghề nghiệp để có thể đưa họ vào những nhiệm vụ quan trọng. Trong hoạt động, cha Janssen luôn biết sử dựng sự cộng tác của các tu sĩ tốt nhất.

Từ khi cha quyết định thành lập một hội ḍng truyền giáo, cha Janssen luôn cảm thấy được Thiên Chúa ủy thác cho một sứ mạng và cha dùng toàn nghị lực để chu toàn. Qua kinh nguyện và sự kết hiệp thân mật với Chúa Ba Ngôi, cha làm cho công việc được phát triển và vào cuối thế kỷ 19, cha trở thành một trong những nhân vật nổi bật nhất tại Đức. Nhưng cha vẫn muốn ẩn dật trước mặt của mọi người, yêu thích sống trong thinh lặng và cô tịch. Khi nghe người ta ca tụng ḍng ḿnh, cha Janssen chỉ nói: ..."Thiên Chúa đă chọn một dụng cụ hèn mọn nhất"..., hoặc cha t́m cách lái câu chuyện sang đề tài khác. Cha kịch liệt chống lại sự dối trá, những sự lèo lái mưu mẹo, và cả khi nói về các tu sĩ của ḿnh, cha rất dè dặt trong những lời khen ngợi. Trong các buổi huấn đức, cha thường khuyên họ tín thác nơi Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Với các bề trên, cha nói: "Anh em hăy làm tất cả những ǵ có thể, và phần c̣n lại để Chúa lo". Về phần cha, khi biết ư Chúa qua những dấu chỉ thời đại, cha theo đuổi mục tiêu cho đến cùng, không chút dè dặt hay lo sợ, dù có bị người ta cho là ngoan cố đi nữa.

Cha Janssen không những là một nhà tổ chức rất khéo léo, làm việc không biết mệt mỏi, nhưng c̣n là người chuyên chăm tuân giữ hiến pháp do cha soạn ra. Cha không bao giờ bỏ cầu nguyện một khắc đồng hồ, cả khi cha bận huấn đức hoặc giảng tĩnh tâm. Vào khoảng 5 giờ sáng cha đă có mặt ở nhà nguyện để viếng đàng Thánh Giá mỗi ngày trước các giờ kinh nguyện chung của cộng đoàn. Cha cử hành thánh lẽ rất sốt sắng v́ Thánh Thể là mặt trời trong cuộc sống của cha. Cha có thói quen cầu nguyện nhiều giờ trong ngày và ban đêm trước Thánh Thể.

 Khi nói, cha Janssen trở nên như ngọn lửa, mặc dù những điều cha nói thường là rất đơn sơ. Khi đi đường cha thường cúi nh́n xuống, cầu nguyện mà không để ư tới những ǵ xảy ra chung quanh. Cha có ḷng sùng kính đặc biệt đối với Chúa Thánh Linh và Mẹ Maria, các thánh thiên thần và thánh Giuse. Cha cũng hăm ḿnh phạt xác, và khi du hành, cha thường đi xe hạng ba, dùng lương thực mang theo: bánh ḿ, với phó mát hoặc xúc xích và một chút bia. Người ta kể rằng khi hoàng đế Franz Joseph của Áo tiếp kiến cha Janssen, ngài thấy đôi giầy của cha tuy sạch sẽ, nhưng có những vết vá lại. Khi có người xin phép cha chi tiêu điều ǵ, cha thường bày tỏ nghi ngờ và nói: "Điều này có nghịch với đức khó nghèo không? Chúng ta sống bằng của bố thí. Tôi phải suy nghĩ thêm về điều này". Cha tránh những chi tiêu thừa thăi và rất rộng răi trong việc cứu giúp người nghèo, viếng thăm, an ủi các anh em bệnh tật sau bữa tối. Cha xác tín rằng Thiên Chúa yêu thương những người cám tạ Ngài trong đau khổ, và nơi nào có những người bệnh, ở đó cũng có phúc lành của Chúa.

Cha Janssen bị dồn máu cơ tim ngày 1-9-1908. Hai tuần sau, cha viết cho vị Đại Diện Tông Ṭa thuộc ḍng Ngôi Lời ở Trung Hoa rằng: "Bàn tay Chúa đă đánh con thật nặng.. giờ đây con chờ đợi cuộc đời chấm dứt. Nhưng con tín thác nơi ḷng từ nhân của Chúa và nơi cái chết cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô. Con không sợ giă từ đời này, trái lại con vui mừng v́ đời sống thật đang bắt đầu".

Ngày 15-1-1909, cha Arnold Janssen qua đời sau khi cầu nguyện rất nhiều. Lúc ấy cha được 72 tuổi. Thi hài cha c̣n được giữ tại Nhà Mẹ của ḍng Ngôi Lời ở Steyl.

Ngày nay, các thừa sai ḍng Ngôi Lời có gần 6 ngàn tu sĩ hoạt động tại trên 50 nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tại Hoa Kỳ, cũng có một số đông người Việt Nam gia nhập ḍng này. Nhiều vị đă thụ phong linh mục và đang hoạt động truyền giáo tại một số nơi trên thế giới. 

THÁNH LINH MỤC JOSEPH  FREINADEMETZ
(1852-1908)

Cha Joseph Freinademetz sinh ngày 15 tháng 4 năm 1852, con thứ tư trong một gia đ́nh nông dân có 13 người con tại làng Oies, miền nam Tyrol, hồi đó thuộc lănh thổ Áo, nhưng nay thuộc lănh thổ Italia. 4 trong số 13 người con ấy chết ít lâu sau khi chào đời. Song thân và những người láng giềng của bé Joseph là những người Công Giáo tốt, dạy cho bé rằng Thiên Chúa, người Cha đầy t́nh thương, đă tạo dựng nên những rừng núi hùng vĩ bao quanh.

Năm lên 10 tuổi, Joseph Freina-demetz rời làng quê, bắt đầu cuộc hành tŕnh tiến đến chức linh mục theo lời khuyên của cha sở. Bắt đầu tại trường trung học ở thành phố Bressanone, rồi nhập đại chủng viện.

Mùa hè năm 1875, lúc mới 23 tuổi, thầy Joseph Freinademetz được thụ phong linh mục và bắt đầu hoạt động mục vụ tại miền nam Tyrol, vừa làm cha phó vừa làm giáo viên. Giữa những công tác mục vụ ấy, một ngày kia, cha Joseph đọc thấy trong tờ thông tin của giáo phận về một ḍng truyền giáo, ḍng Ngôi Lời, mới được thành lập ở làng Steyl, bên Ḥa Lan. Ư tưởng ra đi truyền giáo vốn đă được gieo văi trong tâm hồn cha Joseph Freina-demetz từ nhỏ, nay càng lớn mạnh, khiến cho cha miên man suy nghĩ, và sau cùng, cha xin gia nhập ḍng Ngôi Lời ngày 28-8-1878. Tại đây, cha được Bề trên là cha Janssen giao phó nhiệm vụ dạy học cho các thỉnh sinh, nhưng một năm sau, 1879, cha Freinademetz, giă từ gia đ́nh và quê hương, đến Trung Hoa cùng với một LM cùng ḍng là cha Gioan Baotixita Anzer. Cả hai được Đức Cha Timoleone Raimondi (+1894), thuộc hội truyền giáo Milano, Đại diện Tông Ṭa tại Hong Kong tiếp đón và cho trú ngụ.

Sau khi học thông thạo tiếng Hoa, hai LM thừa sai đầu tiên của ḍng Ngôi Lời hoạt động tại miền nam Sơn Đông. Đức Cha Eligio Cosi (+1885), được Ṭa Thánh giao phó nhiệm vụ truyền giáo tại vùng Sơn Đông, nhưng v́ vùng này quá rộng lớn, mà các thừa sai Phanxicô lại không đủ để đáp ứng nhu cầu thiêng liêng của dân chúng, nên vào năm 1881, các thừa sai đồng ư nhường miền nam tỉnh Sơn Đông cho các thừa sai ḍng Ngôi Lời, ban đầu có tính cách tạm thời, và tiếp theo đó như một hạt đại diện tông ṭa riêng. Đức Cha Cosi đặc biệt để ư đến ḷng nhiệt thành của cha Freinademetz và đề nghị cha làm GM, nhưng cha từ chối và muốn tiếp tục là một linh mục thường, khiêm hạ cho đến trọn đời. Cha qú gối trước mặt Đức Cha Cosi, và khóc xin Đức Cha chọn Cha Anzer thay v́ chọn ḿnh. Trước sự nài nỉ đó, Đức Cha đành chấp thuận và ngày 13-12 năm 1885, Đức Giáo Hoàng Lêô 13 quyết định thành lập hạt đại diện Tông Ṭa nam Sơn Đông và bổ nhiệm cha Anzer làm GM tiên khởi tại đây.

3 năm trước đó, tức là hồi năm 1882, khi hai cha Anzer và Freinademetz đặt chân đến cứ điểm truyền giáo Pouti, là chiếc nôi của giáo đoàn tại đây, trong số 1 ngàn dân chỉ có 158 tín hữu Công Giáo. Để đẩy mạnh việc rao giảng Tin Mừng, hai vị thừa sai đă cố gắng kiện toàn khả năng tiếng Hoa và thích ứng với phong tục và tập quán của dân chúng. Cha Freinademetz kể lại: "Giờ đây tôi cũng để râu, cạo đầu, để một đuôi tóc phía sau và bện lại như người địa phương". V́ hai vị thừa sai không có nhà, nên các tín hữu tặng cho hai vị một căn nhà rất thô sơ và một nhà nguyện vách bằng bùn trộn với rơm. Căn nhà nhỏ bé nhưng cũng đủ để khởi sự công việc truyền giáo.

Ban đầu, cha Freinademetz gặp một số khó khăn trong việc thích ứng với môi trường mới và có vẻ coi nhẹ dân địa phương. Nhưng rồi với thời gian, thái độ đó dần dần thay đổi đến độ cha không chấp nhận cho ai nói xấu người Hoa trước mặt ḿnh. Chính các giá trị luân lư của người Hoa, nhất là ḷng thảo hiếu đối với cha mẹ, sự chăm chỉ làm việc và khéo léo của họ đă làm cho cha hết sức kính phục và quí mến. Năm 1886, cha Freinademetz đă viết về cho cha mẹ: "Con yêu mến Trung Hoa và dân tộc Hoa, và vui mừng nếu có thể chết cho họ. Nay việc nói tiếng Hoa không c̣n là một vấn đề đối với con nữa, v́ con quen biết dân chúng và lối sống của họ, Trung Hoa đă trở thành quê hương của con!"

Để củng cố việc trở lại đạo của nhiều tín hữu, cha Freinademetz thiết lập thời kỳ dự ṭng khá lâu dài, và những ai muốn chịu phép rửa tội đều phải tham dự. Cha cũng đ̣i các dự ṭng phải biết giáo lư, tham dự thánh lễ và các buổi cầu nguyện chung đều đặn, chu toàn nghĩa vụ của người đang chuẩn bị chịu phép rửa tội.

Về phương diện chính trị, hậu bán thế kỷ 19 là thời kỳ rất khó khăn đối với Trung Hoa. Những bất công và tai ương do các quân đội và các nhà ngoại giao nước ngoài: Nga, Anh, Pháp và Đức, gây ra cho dân tộc Trung Hoa làm cho người bản xứ cảm thấy oán ghét người ngoại quốc. Các thừa sai và các Kitô hữu người Hoa cũng bị ghét lây v́ bị coi là cộng tác với thế lực nước ngoài. Một số các tín hữu Kitô ấy đă chịu tử đạo. T́nh trạng rất căng thẳng khi hai thừa sai ḍng Ngôi Lời là Cha Nies và Henle bị Hội Đại Đao ám sát. Quân đội Đức phản ứng tức khắc, và Trung Hoa bị buộc ḷng phải trả giá đắt đỏ. Quân Đức, Pháp, Nga chiếm những vùng đất rộng lớn của Trung Hoa.

 Về thời nổi loạn của nhóm Quyền Phỉ, cha Freinademetz viết cho song thân ở quê nhà như sau: "Trong năm qua, nhiều lần con suưt chết. Có đêm con phải chạy vào một khu đất không có đường đi, v́ nhóm Quyền Phỉ ŕnh ṃ để giết con. Một lần khác, một số người lính sắp sửa bắn con, nhưng một vị quan động ḷng thương yêu cầu nhóm lính tha cho con, và sau cùng, ông đă thuyết phục được nhóm lính thả cho con đi". Quả thực, thánh giá trở thành lương thực hằng ngày của cha, nhưng cha tuyên bố: "Chúng ta hăy chấp nhận thánh giá, và sẵn sàng vác thánh giá trong vui tươi, và v́ t́nh yêu đối với Chúa Kitô để đền tội chúng ta. Chịu đau khổ trong vui tươi là điều đẹp nhất trần đời, và chính các thánh trên trời cũng muốn được đặc ân ấy như chúng ta".

Sau khi loạn Quyền Phỉ bị dẹp tan, các cường quốc Tây Phương càng chiếm đất Trung Hoa. Cha Joseph Freinademetz không bao giờ đồng ư với sự đối xử bất công như thế đối với Trung Hoa, và có lẽ v́ xác tín vững chắc về vấn đề này, nên đôi khi cha cũng bị các thừa sai khác gọi là "tên Freinademetz điên rồ".

Xác tín căn bản của cha Joseph Freinademetz là "T́nh thương là ngoại ngữ duy nhất mà mọi người đều hiểu được". Có lẽ v́ thế mà t́nh yêu thương của cha đối với dân tộc Trung Hoa không bao giờ suy giảm, cả khi cha bị hiểu lầm hoặc ngược đăi. Ngày 23-5-1889, theo lời yêu cầu của các tín hữu Công Giáo, cha Freinademetz đến gặp quan huyện ở Triệu Huyện (Tsaohsien) để phản đối vụ bắt giam bất công một tín hữu người Hoa mới trở lại đạo. Quan huyện phẫn nộ, sai một đám thanh niên vơ trang gậy gộc đánh đập cha tàn nhẫn tại quán trọ. Bọn chúng vật cha xuống đất và lấy phân người quét vào mặt cha, trói cha lại như một tên bất lương, và giải cha đi qua các đường phố suốt 2 cây số để làm nhục cha. Về sau, chính cha đă kể lại cực h́nh đó và cho biết trong lúc ấy cha nghĩ tới Chúa Giêsu vác thánh giá nặng qua các đường phố ở Jerusalem, và cha cảm thấy ḿnh được hạnh phúc v́ được tham phần vào cực h́nh của Chúa.

Cha Joseph Freinademetz ít để ư tới sức khỏe của ḿnh. Năm 1898, cha bị sưng thanh quản và phổi. Bệnh trạng ngày càng nặng thêm, khiến cha phải sang Nagasaki bên Nhật để chữa trị. Và vừa khi những cuộc xáo trộn chính trị tại Sơn Đông chấm dứt, cha đă vội trở lại nhiệm sở tại Tể Ninh (Tsining), trụ sở của hạt Đại diện Tông ṭa, và hoạt động trở lại, mặc dù chưa hoàn toàn b́nh phục.

Năm 1900, cha Freinademetz được bổ nhiệm làm Giám tỉnh ḍng Ngôi Lời tại Trung Hoa. Cha tăng cường việc xây cất cơ sở của ḍng tại địa phương, và thường tổ chức cũng như điều khiển các khóa thuyết tŕnh về các vấn đề có liên hệ tới công việc mục vụ và truyền giáo, tăng cường thư viện, và làm tất cả những ǵ có thể để các tu sĩ của ḍng được cơ hội trau dồi về kiến thức và đời sống thiêng liêng. Ngày 10-11-1906, cha viết cho một người bạn rằng: "Miền nam Sơn Đông là một vùng truyền giáo tốt đẹp, việc truyền giáo tại đây c̣n có thể được cải tiến nhiều nếu các thừa sai chúng tôi là các vị thánh, và nếu chúng tôi có phương tiện dồi dào. Anh hăy cầu nguyện thật nhiều cho ư nguyện này của tôi, nhất là cầu cho sự hoán cải của tôi".

Để đạt được ư nguyện đó, chính Cha Freinademetz cũng tăng cường đời sống cầu nguyện. Mỗi sáng lúc 4 giờ, người ta thấy cha đă có mặt ở nhà nguyện, qú gối đọc sách nguyện và lần hạt Mân Cội, mắt chăm chú nh́n vào Nhà Tạm Ḿnh Thánh Chúa. Cha không bỏ dâng thánh lễ hằng ngày, cả sau khi những cuộc hành tŕnh vất vả, và nhiều khi phải giữ chay Thánh Thể cho đến trưa. Cha du nhập thói quen chầu Ḿnh Thánh hằng tuần và chính cha luôn trung thành với việc đạo đức này. Cha nói với các anh em cùng ḍng: "Làm thừa sai mà không nồng nhiệt quan tâm làm vinh danh Thiên Chúa th́ c̣n tệ hơn là một tên phản bội bỏ vua của ḿnh, tệ hơn một người con không quan tâm ǵ đến cha mẹ ḿnh".

Sau khi Đức Cha Anzer qua đời đột ngột tại Roma vào năm 1903, mọi người đều tưởng rằng cha Freinademetz sẽ lên kế vị trong việc cai quản hạt Đại diện Tông Ṭa, nhưng v́ Cha là người miền Altoadige, lúc đó c̣n thuộc về Áo, nên nhà cầm quyền người Đức ở vùng Sơn Đông không muốn, và thay vào đó cha Agostino Henning-haus được chọn làm Giám Mục. Cha Freinademetz tiếp tục làm Giám tỉnh trong miền truyền giáo ấy. Lúc đó đă có 45 ngàn tín hữu Công Giáo đă chịu phép rửa, và 45 ngàn dự ṭng, với 70 thừa sai, 40 nữ tu và 972 giáo lư viên.

Năm 1907, Đức tân GM Henninghaus trở về Âu Châu để quyên tiền trợ giúp giáo phận ở Sơn Đông. Cha Freinademetz lại được bổ nhiệm làm giám quản giáo phận lần thứ 6, và lần này ngài phải chịu những thử thách đau thương, nhất là v́ thấy nhiều thừa sai chết v́ bệnh tật và nhiều nữ tu lâm bệnh nặng, v́ dịch thương hàn lan tràn trong vùng đó. Cha Freinademetz hết sức trợ giúp tại tất cả những nơi nào có thể, và trong mùa hè, cha đi thăm tất cả các địa điểm truyền giáo, mặc dù cuộc hành tŕnh rất vất vả và sức khỏe của cha suy yếu, đặc biệt là sau khi xe của cha bị lăn xuống sông gần thành phố Ích Châu Phủ.

Tại Yến Châu Phủ, khi trợ giúp các nữ tu và các trẻ mồ côi bị thương hàn, chính cha cũng bị lây bệnh, nhưng cha không muốn nghỉ ngơi. Vào khoảng giữa tháng Giêng năm 1908, khi cha từ Tể Ninh trở lại Thái Gia, sau khi thăm viếng các giáo lư viên, cha Freinademetz cảm thấy sức khỏe suy tàn, cha bị liệt giường. Cha xin đưa ảnh Đức Mẹ, thánh Giuse và thánh Thiên Thần bản mệnh vào pḥng cha. Và để chuẩn bị chết lành mỗi ngày, cha xưng tội và rước lễ. Các anh em cùng ḍng cảm thấy cần phải cám ơn cha v́ những gương lành cha để lại, và hứa sẽ tiếp tục hoạt động theo tinh thần của cha, nhưng cha khiêm tốn đáp: "Anh em muốn noi theo những ǵ tôi đă làm, nhưng tôi đă không làm mọi sự tốt đẹp".

Ngày 28-1 năm 1908, sau khi lớn tiếng kêu cầu Mẹ Maria và Thánh Giuse, cha Freinademetz qua đời, lúc mới được 56 tuổi trước sự thương tiếc của mọi người. Cha được an táng tại nghĩa trang thừa sai ở địa phương, dưới chân chặng đàng thánh giá thứ 12. Vậy là ứng nghiệm điều cha đă viết hồi năm 1901 trước đó: "Tôi yêu mến Trung Hoa và dân tộc Trung Hoa. Tôi muốn chết và được an táng giữa họ". Một thừa sai, khi hay tin cha Freinademetz qua đời, đă thốt lên trong nhà cơm ở Yến Châu Phủ: "Không bao giờ chúng ta sẽ có một vị bề trên như thế nữa"

THÁNH LỄ

Thánh lễ phản ánh những sắc thái của các quốc gia nơi các vị hiển thánh và các bạn cùng ḍng đă và đang truyền giảng Tin Mừng. Các tín hữu Công Giáo Indonesia đă che dù màu vàng trên sách Phúc Âm, trong lúc các tín hữu nam nữ người Mozambique, Peru, Trung Hoa và Ấn độ đứng hai bên, tay cầm hoa hoặc những b́nh hương.

Trong bài giảng trước sự hiện diện của 30 ngàn tín hữu, ĐTC đă nêu bật vài nét đặc sắc của ba nhà truyền giáo và nhấn mạnh: Cuộc đời của ba vị nêu bật rằng việc truyền giảng Tin Mừng là công tác phục vụ tiên khởi mà Giáo hội có thể cống hiến cho nhân lọai và cho mỗi người. Việc rao giảng Tin mừng, ngoài những việc nhằm thăng tiến con người, tiên vàn là loan báo Chúa Kitô. Điều này phải chiếm chỗ ưu tiên trong ơn gọi của các nhà truyền giáo.

Nhắc đến cuộc đời của Đức cha Daniele Comboni, ĐTC ca ngợi ḷng nhiệt thành say mê với việc mang Chúa Kitô đến với các dân tộc Phi châu. Tấm gương của đức cha Comboni vẫn c̣n thích thời ngày nay, khi chúng ta nghĩ đến đại lục này, với những kho tàng văn hóa phong phú nhưng c̣n phải đương đầu với biết bao nhiêu khó khăn. Cần có những qủa tim và những đầu óc nhiều sáng kiến để mang lại cho Phi châu một tương lai nhiều hy vọng.

Đặc trưng của hoạt động truyền giáo của cha Arnold Jansens là sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, cách riêng là báo chí, để truyền bá Lời Chúa. Cha không hề chùn bước trước những khó khăn, và cha thường lặp lại rằng: "Việc loan báo Tin mừng là cách diễn tả t́nh yêu tha nhân cách tuyệt vời nhất".

Một cách tương tự như vậy, cha Josef Freinademetz viết rằng: "Tôi không coi đời sống truyền giáo như là hy sinh và gian khổ dâng cho Chúa, nhưng đón nhận như là hồng ân cao qúy mà Thiên Chúa đă ban cho tôi". Với tâm t́nh như vậy, cha không ngại ngùng đương đầu bất cứ trở ngại nào, nhưng chỉ cốt làm chứng cho t́nh yêu của Chúa. Cha chấp nhận sống như người bản xứ, theo gương Chúa Giêsu đă chia sẻ cuộc sống con người với chúng ta. Cha cũng nhiều lần nói với anh em đồng ḍng với ḿnh: "Hoạt động truyền giáo sẽ trở thành vô giá trị nếu ta không biết yêu và không được yêu".

Trong phần kết luận bài giảng, ĐTC nói rằng ba vị tân hiển thánh nhắc nhở chúng ta về ơn gọi truyền giáo của mỗi người Kitô hữu. Mỗi người tín hữu được mời gọi làm chứng cho Chúa Kitô; nhưng để chu ṭan sứ mạng đó, chúng ta cần phải muốn nên thánh. Ơn gọi nên thánh và ơn gọi truyền giáo liên hệ với nhau.

ĐTC đă đọc 2 phần 3 bài giảng bằng tiếng Ư, và phần bằng tiếng Đức được ĐHY Walter Kasper, người Đức, Chủ tịch Hội đồng Ṭa Thánh Hiệp nhất các tín hữu Kitô đọc thay. Tuy nhiên, ngài vẫn dâng trọn thánh lễ.

Trong phần dâng lễ vật, một đoàn 16 vũ công người Sudan, Phi châu, đă kèm theo những người mang bánh rượu, hài cốt của các thánh lên bàn thờ. Một lễ vật hiếm có nữa là sự hiện diện của vài linh mục đến từ Trung quốc.

Phúc Nhạc