| |
Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Vị Giáo Hoàng của Một Tân Âu Châu
(Tiếp
bài "Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Vị Giáo Hoàng của Đại Kết Kitô
Giáo" Thứ Sáu 22/4)
Trong
một bài được viết vào chính ngày Thứ hai 18/4, ngày mật nghị hồng
y bầu tân giáo hoàng bắt đầu, cũng là bài được phổ biến trên mạng
điện toán toàn cầu thoidiemmaria.net ngày 19/4/2005, và được cả
mạng điện toán toàn cầu dongcong.net lấy phổ biến cùng ngày, tức
trước khi có tân giáo hoàng mấy tiếng đồng hồ, tôi đã đặt tựa
đề cho bài viết là “Vị Tân Giáo Hoàng 265 có thể là một hồng y
người Pháp gốc Ba Lan Do Thái hay một hồng y thuộc dòng Phanxicô...”.
Tuy
những chi tiết ở đầu đề cho bài viết hoàn toàn sai bét. Thế nhưng,
nếu ai đã đọc bài này trước khi có tân giáo hoàng, sẽ thấy có
những chi tiết rất thích hợp với vị tân giáo hoàng Biển Đức XVI
hiện nay. Trong bài viết này, tôi đã lập luận để đưa đến 3 kết
luận sau đây: Thứ nhất, vị tân giáo hoàng vẫn còn là người Âu
Châu; thứ hai, bởi vì Âu Châu, sau khi Cộng Sản Đông Âu sụp đổ,
cần phải tiến đến chỗ hiệp nhất về tôn giáo mới có thể đứng vững
trước nạn Hồi giáo và truyền giáo; và thứ ba, muốn thế, vị tân
giáo hoàng chẳng những là người Âu châu mà còn cần phải có chiều
hướng nội tâm.
Trước
hết, về vị tân giáo hoàng vẫn còn là người Âu Châu, và bởi vì
Âu Châu, sau khi Cộng Sản Đông Âu sụp đổ, cần phải tiến đến chỗ
hiệp nhất về tôn giáo mới có thể đứng vững trước nạn Hồi giáo
và truyền giáo, tôi đã viết như sau:
“Đức
Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng xuất phát từ một nước Cộng Sản
đã hiển nhiên được Chúa dùng để làm sụp đổ Cộng Sản ở Âu Châu,
và đang cố gắng hết sức để giúp cho Âu Châu thực sự trở thành
một Khối Hiệp Nhất Âu Châu theo căn gốc Kitô giáo của mình. Thế
nhưng, cho tới khi ngài qua đời, Khối Hiệp Nhất Âu Châu này… vẫn
muốn phủ nhận căn gốc Kitô giáo làm nên văn hóa Âu Châu và căn
tính Âu Châu của mình, và cũng chính vì không ‘trả về cho Thiên
Chúa những gì của Thiên Chúa’ (x Mt 22:21), bằng việc nhìn nhận
căn tính Kitô giáo của mình như thế, châu lục này đã sống như
không có Thiên Chúa, và đang bị khủng hoảng đức tin rất ư là trầm
trọng, nơi đã cả hơn ngàn năm làm cho hạt giống Kitô giáo phát
triển và truyền bá đi khắp nơi trên thế giới, nhưng đồng thời
lại là nơi có những phân rẽ trong nội bộ Kitô giáo từ thế kỷ 16,
với hai cuộc ly giáo liền vào tiền bán thế kỷ này là Thệ Phản
(1519) và Anh Giáo (1535)....
“Nếu
cứ đà này, Kitô giáo ở Âu Châu càng ngày càng xuống dốc, trong
khi Hồi giáo càng ngày càng thịnh, mà Hồi giáo, theo lịch sử cho
thấy, bao giờ cũng kị Kitô giáo, và đã từng triệt hạ Kitô giáo
trước đây, thậm chí cho tới nay vẫn còn xẩy ra ở các quốc gia
Hồi giáo của họ, thì Giáo Hội Công giáo là tâm điểm của Âu Châu
về quyền lực tôn giáo này cần phải đứng vững hơn bao giờ hết,
không phải chỉ vì sợ Hồi giáo lấn át, cho bằng tái phúc âm hóa
Khối Hiệp Nhất Âu Châu theo tinh thần Kitô giáo.
“Khối
Hiệp Nhất Âu Châu có thực sự trở về với căn gốc Kitô giáo của
mình, cho đến độ tiến đến chỗ Đại Kết Kitô giáo, Kitô giáo mới
có thể là chứng nhân truyền bá phúc âm hóa phần thế giới chưa
nhận biết Chúa Kitô, nhất là ở Á Châu, và mới có thể tái phúc
âm hóa cho cả thế giới Kitô giáo ở toàn Mỹ Châu, nhất là Bắc Mỹ,
nơi cũng đang quằn quại trong nền văn hóa sự chết... Với vai trò
và vị thế quan trọng như thế của Âu Châu đối với vận mệnh và sứ
mệnh của Giáo Hội Công giáo trước mắt như thế, những gì đức cố
Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã cố thực hiện mà chưa hoàn thành,
thì vị giáo hoàng 265 cần phải là vị giáo hoàng vẫn thuộc về Âu
Châu…”
Thật
vậy, về điểm thứ nhất, vị giáo hoàng vẫn ở Âu Châu, đó là vị tân
giáo hoàng người Đức, nguyên hồng y Joseph Ratzinger, tổng trưởng
Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin. Về điểm thứ hai, sở dĩ vị tân giáo hoàng
vẫn còn là người Âu Châu vì vị tân giáo hoàng có liên hệ tới vận
mệnh Âu Châu, điểm này đã được tỏ hiện ngay nơi danh hiệu giáo
hoàng của ngài, một danh hiệu đã làm cho mọi người ngỡ ngàng,
một danh hiệu quả thực có liên hệ đến Âu Châu, như được chính
ngài minh định trong buổi triều kiến chung hằng tuần Thứ Tư 27/4/2005
cách đây hai hôm như sau. Ngài nói:
“Danh
hiệu Biển Đức ngoài ra còn gợi lên cho thấy một hình ảnh nổi bật
về vị đại ‘tổ phụ đan viện tu tây phương’, đó là Thánh Biển Đức
ở Nursia, vị đồng quan thày Âu Châu với thánh Cyrilô và Methôđiô.
Việc mau chóng phát triển Dòng Biển Đức được ngài sáng lập đã
gây tác dụng lớn lao cho việc truyền bá Kitô giáo khắp lục địa
Âu Châu. Đó là lý do Thánh Biển Đức đã được tôn kính rất nhiều
ở Đức quốc, nhất là ở Bavaria, miền đất nguyên quán của tôi; ngài
thiết lập một cứ điểm nồng cốt cho việc hiệp nhất Âu Châu và mãnh
liệt kêu gọi trở về với những cội nguồn Kitô giáo của văn hóa
và văn minh Âu Châu”.
Về
điểm thứ ba trong bài viết được đề cập đến trên đây, tôi còn nói
vị tân giáo hoàng thiên về đời sống nội tâm và nhấn mạnh đến việc
sống nội tâm, nguyên văn những lời tôi viết như sau:
“Ngoài
ra, cũng theo chiều hướng diễn tiến lịch sử, chúng ta cũng có
thể suy đoán như thế này. Nếu chiều hướng của vị giáo hoàng quá
cố là ‘thả lưới ở chỗ nước sâu - duc in altum’, một chiều hướng
ngài phác họa cho cả Giáo Hội vào thời điểm trước ngưỡng cửa của
ngàn năm thứ ba Kitô giáo, như Tông Thư Vào Lúc Mở Màn Cho Một
Tân Thiên Niên Kỷ ban hành vào Ngày Lễ Hiển Linh 6/1/2001 để bế
mạc Đại Năm Thánh 2000, thì vị giáo hoàng thay ngài phải là vị
giáo hoàng nội tâm hơn hoạt động, đau khổ nhiều hơn thành đạt”.
Đúng
thế, danh hiệu Giáo Hoàng Biển Đức XVI của vị tân giáo hoàng 265
của Giáo Hội đã cho thấy ngài hướng về vị thánh tổ phụ của đan
viện khổ tu, và kêu gọi sống nội tâm, như chính ngài đã kêu gọi
cũng trong bài huấn dụ cho buổi triều kiến chung hôm Thứ Tư trên
đây. Ngài nói:
“Chúng
ta biết lời huấn dụ được Vị Tổ Phụ của đan viện tu Tây Phương
này để lại cho thành phần đan sĩ của mình đó là ‘Tuyêt đối không
coi gì hơn Chúa Kitô’ (Luật Dòng 72:11; 4:21). Vào lúc mở đầu
cho việc tôi phục vụ như vị Thừa Kế Thánh Phêrô, tôi xin Thánh
Biển Đức hãy giúp chúng ta biết cương quyết lấy Chúa Kitô làm
tâm điểm của đời sống chúng ta. Chớ gì Người bao giờ cũng là những
gì trên hết trong tâm tưởng cũng như trong tất cả mọi hoạt động
của chúng ta!”
Ngoài
ra, cũng theo chiều hướng nội tâm này, vị tân giáo hoàng đã minh
định là ngài sẽ tiếp tục đường lối 'duc in altum' (thả lưới ở
chỗ nước sâu) của vị tiền nhiệm Gioan Phaolô II của mình, như
ngài đã nói trong cùng bài huấn từ cho buổi triều kiến chung trên
đây thế này:
"Tôi
cảm mến nghĩ lại vị tiền nhiệm Gioan Phaolô II của mình, vị chúng
ta đã mắc nợ một di sản thiêng liêng đặc biệt. Ngài đã viết trong
tông thứ 'Vào Lúc Mở Màn Cho Một Thiên Niên Kỷ' rằng 'Các cộng
đồng Kitô hữu chúng ta cần phải trở thành một học đường cầu nguyện,
nơi cuộc gặp gỡ Chúa Kitô được thể hiện chẳng những ở chỗ nài
xin ơn giúp đỡ mà còn ở chỗ tạ ơn, chúc tụng, tôn thờ, chiêm ngưỡng,
lắng nghe và sùng mộ, cho đến khi tâm hồn thực sự say yêu’ (số
33).
"Chính
ngài đã tìm cách thực hiện những ý định đó này bằng cách cống
hiến các buổi giáo lý Thứ Tư vào thời gian cuối cùng để dẫn giải
về các bài Thánh Vịnh cho giờ kinh phụng vụ ban mai và chiều tối.
Như ngài đã làm khi mở màn cho giáo triều của ngài, lúc ngài muốn
tiếp tục những bài chia sẻ được khởi xướng bởi vị Tiền Nhiệm của
ngài về các nhân đức Kitô giáo (x 'Insegnamenti di Giovanni Paolo
II', I [1978], tr. 60-63), tôi cũng có ý thực hiện vào các buổi
triều kiến hằng tuần tới đây việc dẫn giải đã được Đức Gioan Phaolô
II dọn cho phần thứ hai của các Bài Thánh Vịnh và Ca Vịnh thuộc
Giờ Kinh Phụng Vụ Chiều Tối. Từ Thứ Tư tuần tới, tôi sẽ bắt đầu
vào chính bài giáo lý của ngài đã bị gián đoạn sau buổi triều
kiến chung 26/1/2005".
Đối
với tôi, sau khi thấy được 3 ba điểm suy đoán này đã xẩy ra đúng
với vị tân giáo hoàng, tôi thấy ngài quả thực là một “dấu chỉ
thời đại”, với những sự kiện sau đây liên quan đến nước Đức của
ngài nói riêng và đến biến cố sắp đến của Giáo Hội diễn ra tại
quê hương của ngài nói chung.
Trước
hết, về phương diện tôn giáo, nước Đức của ngài, theo lịch sử,
là một nước phát xuất ra phong trào Thệ Phản Tin Lành từ tiền
bán thế kỷ 16, với linh mục dòng Âu Quốc Tinh tên là Martin Luthêrô
năm 1519. Bởi thế, phải chăng vị giáo hoàng 265 người Đức của
Giáo Hội Công Giáo này là một “dấu chỉ thời đại”, vì ngài quả
thực đã minh nhiên chủ trương đặt ưu tiên hàng đầu cho giáo triều
của ngài là Hiệp Nhất Kitô giáo?
Sau
nữa, về phương diện chính trị, nước Đức của ngài, cũng theo lịch
sử, là một nước gây ra hai Thế Chiến I và II trong tiền bán thế
kỷ 20, và Bức Tường Bá Linh sau Thế Chiến Thứ Hai ở nước của ngài
là biểu tượng cho tinh thần chia rẽ Âu Châu. Như thế, phải chăng
vị tân giáo hoàng thay thế Đức Gioan Phaolô II là “một dấu chỉ
thời đại”, vì ngài quả thực lấy danh hiệu giáo hoàng hết sức lạ
lùng là Biển Đức, vị thánh quan thày của Âu Châu và là vị thánh
liên quan đến văn hóa chung của Âu Châu?
Sau
hết, về biến cố của Giáo Hội liên quan đến chính quốc gia của
vị tân giáo hoàng người Đức này là Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần
thứ XX tại Cologne vào trung tuần tháng 8/2005. Phải chăng Ngày
Giới Trẻ Thế Giới XX tại Đức quốc này cũng là một “dấu chỉ thời
đại”? Bởi vì, tại sao Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần XX này không
ở một nước nào khác, như ở Á Căn Đình năm 1987, ở Tây Ban Nha
năm 1989, ở Balan năm 1991, ở Mỹ năm 1993, ở Phi Luật Tân năm
1995, ở Pháp năm 1997, ở Rôma năm 2000, ở Gia Nã Đại năm 2003,
mà cho tới năm 2005 là năm có vị tân giáo hoàng người Đức mới
diễn ra, mà diễn ra với chính sự hiện diện của vị giáo hoàng bản
quốc này, vì ngài đã hứa sẽ đến với ngày này.
Theo
tôi, nếu chuyến về Balan đầu tiên của Đức Gioan Phaolô II vào
tháng 6/1979, như lịch sử chứng thực, là một biến cố quyết liệt
đã đưa đến Biến Cố Đông Âu sụp đổ đúng 10 năm sau đó, thì biết
đâu chuyến về quê hương lần đầu tiên vào tháng 8/2005 này của
vị giáo hoàng người Đức cũng có một tác dụng làm cho Âu Châu thực
sự trở thành một Khối Hiệp Nhất như vậy. Nếu Công Đoàn Liên Đới
ở Balan là một lực lượng bất bạo động đã làm sụp đổ cả Khối Đông
Âu thế nào, thì chỉ cần Khối Liên Hiệp Thế Giới Lutherô ở Đức
Quốc, một tổ chức đã chính thức ký kết với Giáo Hội Công Giáo
Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa ngày 31/10/1999,
công khai trở về với Giáo Hội Công Giáo, các cộng đoàn giáo hội
Kitô giáo Tây phương khác cũng theo nhau trở về với Giáo Hội Công
Giáo.
“Gió
muốn thổi đâu thì thổi” (Jn 3:8). Chúng ta hãy cầu nguyện cho
Giáo Hội và cho riêng vị tân giáo hoàng của chúng ta, để chờ đợi
thấy được những gì Vị Chủ Tể Lịch Sử làm việc qua người tôi tớ
được Ngài tuyển chọn với danh hiệu Biển Đức XVI. Amen.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL - Thoidiemmaria.net
|
|