| |
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI "Vị Giáo Hoàng cho Một Tân Âu
Châu"
Trong
bài viết mang tựa đề “Vị Tân Giáo Hoàng 265 có thể là một hồng
y người Pháp gốc Ba Lan Do Thái hay một hồng y thuộc dòng Phanxicô...”,
được phổ biến trên mạng điện toán toàn cầu thoidiemmaria.net ngày
19/4/2005, và là bài cũng đã được mạng điện toán toàn cầu dongcong.net
lấy phổ biến vào cùng ngày, ngay trước khi có tân giáo hoàng mấy
tiếng đồng hồ. Tuy những chi tiết ở đầu đề cho bài viết hoàn toàn
sai bét. Thế nhưng, nếu ai đã đọc bài này trước khi có tân giáo
hoàng, và đem áp dụng những chi tiết khác trong bài này, sẽ thấy
dường như thích hợp với tân giáo hoàng này, như những điều đã
nói ngài “sẽ là vị giáo hoàng của Bữa Tiệc Ly (có thể đó là lý
do Năm Thánh Thể chưa kết thúc, liên quan đến Hiệp Nhất Kitô giáo)”.
Nguyên văn của bài viết trên đây như sau:
“Hôm
nay, Thứ Hai, 18/4/2005, 115 vị hồng y bắt đầu cuộc bầu tân giáo
hoàng 265 cho Giáo Hội Công giáo. Tại Tòa Thánh Rôma, cả 6 ngàn
phóng viên báo chí đang chực chờ để biết tin tức về diễn tiến
của cuộc mật bầu và kết quả của cuộc mật bầu là vị tân giáo hoàng
này. Kể cả trong thời gian Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhập
bệnh viện vào đầu tháng 2/2005, truyền thông đã bắt đầu nói đến
việc ngài về hưu, từ đó, bàn đến cả vị kế thừa ngài. Cho đến nay,
dư luận vẫn đang hồi hộp chờ đợi con người được Thiên Chúa chọn,
như Ngài đã bất ngờ chọn Đức Gioan Phaolô II.
“Chính
vì vị giáo hoàng 264 vừa quá cố này không phải là người Ý trong
vòng 455 năm đã được chọn như thế mà lần này, dư luận cũng hướng
về những vị hồng y nổi tiếng ở các châu lục khác ngoài Âu Châu,
chẳng hạn như Phi Châu với hồng y Francis Arinze nước Nigeria,
và Châu Mỹ Latinh với hồng y Claudio Hummes người Ba Tây. Tuy
nhiên, báo chí, hầu hết ở Âu Châu, vẫn quanh quẩn với những vị
nổi tiếng ở Âu Châu, cách riêng ở Ý. Chẳng hạn như vị hồng y Dionigi
Tettamanzi, ở TGP Milan, nơi đã có mấy đời giáo hoàng. Họ cũng
đề cập đến 1 vị ngoài nước Ý là vị hồng y người Pháp Jean-Marie
Lustiger, và vị hồng y người Đức hết sức nổi tiếng đang giữ vai
trò trưởng hồng y đoàn kiêm tổng trưởng tín lý đức tin là Joseph
Ratzinger.
“Riêng
tôi, để có thể suy đoán về vị tân giáo hoàng, cần căn cứ vào diễn
tiến lịch sử của Giáo Hội. Chẳng hạn như trường hợp của Đức Gioan
Phaolô II, vị giáo hoàng đã được Thiên Chúa chọn để đóng vai trò
áp dụng Công Đồng Chung Vaticanô II, và đó là lý do ngài đã lấy
danh hiệu giáo hoàng là Gioan Phaolô II, vì: Đức Gioan XIII là
vị giáo hoàng dẫn dắt Giáo Hội vỏn vẹn có 5 năm trời, vị giáo
hoàng 78 tuổi nhưng vẫn được Thiên Chúa chọn để khai mạc Công
Đồng Chung Vaticanô II với tinh thần cởi mở và đối thoại, và Đức
Phaolô VI là vị giáo hoàng của Giáo Hội (với thông điệp đầu tiên
về “Giáo Hội của Người” ban hành ngày 6/8/1964) tiếp tục và kết
thúc Công Đồng Chung cho một Giáo Hội trong thế giới tân tiến.
“Bởi
vậy, theo chiều hướng này, chúng ta cần phải lưu ý tới những gì
Đức Gioan Phaolô II đã làm, kể cả và nhất là những gì chưa hoàn
tất, để phỏng đoán. Nếu Đức Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng xuất
phát từ một nước Cộng Sản đã hiển nhiên được Chúa dùng để làm
sụp đổ Cộng Sản ở Âu Châu, và đang cố gắng hết sức để giúp cho
Âu Châu thực sự trở thành một Khối Hiệp Nhất Âu Châu theo căn
gốc Kitô giáo của mình.
“Thế
nhưng, cho tới khi ngài qua đời, Khối Hiệp Nhất Âu Châu này, chủ
chốt là Pháp, nơi Giáo Hội vẫn được gọi là trưởng nữ của Giáo
Hội, vẫn muốn phủ nhận căn gốc Kitô giáo làm nên văn hóa Âu Châu
và căn tính Âu Châu của mình, và cũng chính vì không ‘trả về cho
Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa’ (x Mt 22:21), bằng việc nhìn
nhận căn tính Kitô giáo của mình như thế, châu lục này đã sống
như không có Thiên Chúa, và đang bị khủng hoảng đức tin rất ư
là trầm trọng, nơi đã cả hơn ngàn năm làm cho hạt giống Kitô giáo
phát triển và truyền bá đi khắp nơi trên thế giới, nhưng đồng
thời lại là nơi có những phân rẽ trong nội bộ Kitô giáo từ thế
kỷ 16, với hai cuộc ly giáo liền vào tiền bán thế kỷ này là Thệ
Phản (1519) và Anh Giáo (1535).
“Trong
khi đó, theo chiều hướng tự do tôn giáo ở Âu Châu, làn sóng di
dân của những người Hồi giáo Ả Rập, trước tình hình càng ngày
càng khủng hoảng ở Trung Đông là vùng đất của họ, đã tràn vào
Âu Châu và đã phát triển càng ngày càng mạnh, nhất là ở Pháp.
Nếu cứ đà này, Kitô giáo ở Âu Châu càng ngày càng xuống dốc, trong
khi Hồi giáo càng ngày càng thịnh, mà Hồi giáo, theo lịch sử cho
thấy, bao giờ cũng kị Kitô giáo, và đã từng triệt hạ Kitô giáo
trước đây, thậm chí cho tới nay ở các quốc gia Hồi giáo của họ,
thì Giáo Hội Công giáo là tâm điểm của Âu Châu về quyền lực tôn
giáo này cần phải đứng vững hơn bao giờ hết, không phải chỉ vì
sợ Hồi giáo lấn át, cho bằng tái phúc âm hóa Khối Hiệp Nhất Âu
Châu theo tinh thần Kitô giáo (chứ không phải chỉ bằng và nhờ
nguyên kinh tế và chính trị như khối này đang chủ trương).
“Khối
Hiệp Nhất Âu Châu có thực sự trở về với căn gốc Kitô giáo của
mình, cho đến độ tiến đến chỗ Đại Kết Kitô giáo, Kitô giáo mới
có thể là chứng nhân truyền bá phúc âm hóa phần thế giới chưa
nhận biết Chúa Kitô, nhất là ở Á Châu, mới có thể tái phúc âm
hóa cho cả thế giới Kitô giáo ở toàn Mỹ Châu, nhất là Bắc Mỹ,
nơi cũng đang quằn quại trong nền văn hóa sự chết, và mới có thể
làm cho cả Do Thái giáo đang càng ngày càng gần hơn với Kitô giáo
qua Giáo Hội Công giáo từ thời Đức Gioan Phaolô II, qua chứng
từ hiệp nhất Kitô giáo như thế, nhận biết Đấng Thiên Sai của họ
chính là Đức Giêsu Kitô, giáo tổ Kitô giáo.
“Với
vai trò và vị thế quan trọng như thế của Âu Châu đối với vận mệnh
và sứ mệnh của Giáo Hội Công giáo trước mắt như thế, những gì
đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã cố thực hiện mà chưa hoàn
thành, thì vị giáo hoàng 265 cần phải là vị giáo hoàng vẫn thuộc
về Âu Châu. Vị giáo hoàng đó có thể là vị hồng y người Pháp có
gốc vừa Balan vừa Do Thái, vị hồng y 79 tuổi đã làm cho hàng giáo
phẩm Pháp phải bỡ ngỡ trước sự bổ nhiệm của Đức Gioan Phaolô II
để ngài làm TGM Paris ngày 2/2/1981, khi ngài mới làm Giám Mục
giáo phận Orléans ngày 10/11/1979 chưa được bao lâu. Đó là ĐHY
Jean-Marie Lustiger.
“Cho
dù ngài đã 79 tuổi, và cũng chính vì còn 1 tuổi nữa (ngay trước
khi không còn hợp lệ để bầu giáo hoàng), đã cho thấy dấu hiệu
ngài còn kịp làm giáo hoàng, như trường hợp của Đức Gioan XXIII.
Và cho dù thời gian làm giáo hoàng của ngài có ngắn ngủi đi chăng
nữa, (như Đức Gioan XXIII chỉ có 5 năm song đã làm được một việc
chuyển tiếp quan trọng đó là triệu tập Công Đồng Chung Vaticanô
II), chỉ cần ngài hoàn tất sứ vụ của mình, như làm cho nước Pháp,
cái then chốt về cả chính trị lẫn tôn giáo ở Âu Châu, bừng lên
tinh thần Kitô giáo, là sẽ làm cho cả Khối Hiệp Nhất Âu Châu tái
sinh, như đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã làm cho quê hương
Balan của ngài ngay vào lần về nước lần đầu tiên năm 1979, để
rồi 10 năm sau vị giáo hoàng vừa quá cố này thấy được thành quả
rực rỡ của nó ở cả Đông Âu.
“Ngoài
ra, với dòng máu gốc Do Thái, vị hồng y này còn có thể được Thiên
Chúa sử dụng, như Ngài đã sử dụng mối quen biết và thân tình của
Đức Gioan Phaolô II với người Do Thái tại quê hương Balan của
vị giáo hoàng này, để làm cho Giáo Hội Công giáo với Do Thái giáo
càng gắn bó với nhau hơn. Để rồi, sau khi vị giáo hoàng có dòng
máu gốc Do Thái này qua đi, vị giáo hoàng sau ngài, có thể là
một vị hồng y đến từ Đông phương ngoài Âu Châu, từ Á Châu chẳng
hạn, xuất hiện, với danh xưng Phêrô, (vị giáo hoàng cuối cùng
theo sấm truyền của tiên tri Nostradamus), được Thiên Chúa chọn
để hoàn tất sứ vụ làm cho dân Do Thái trở lại, đúng như những
gì đã được Thánh Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô khẳng định: ‘Dân Do
Thái bị mù tối cho đến khi đủ số Dân Ngoại, rồi tất cả mọi người
Do Thái sẽ được cứu độ’ (Rm 11:25-26).
“Ngoài
ra, cũng theo chiều hướng diễn tiến lịch sử, chúng ta cũng có
thể suy đoán như thế này. Nếu chiều hướng của vị giáo hoàng quá
cố là ‘thả lưới ở chỗ nước sâu - duc in altum’, một chiều hướng
ngài phác họa cho cả Giáo Hội vào thời điểm trước ngưỡng cửa của
ngàn năm thứ ba Kitô giáo, như Tông Thư Vào Lúc Mở Màn Cho Một
Tân Thiên Niên Kỷ ban hành vào Ngày Lễ Hiển Linh 6/1/2001 để bế
mạc Đại Năm Thánh 2000, thì vị giáo hoàng thay ngài phải là vị
giáo hoàng nội tâm hơn hoạt động, đau khổ nhiều hơn thành đạt.
“Có
thể nói, nếu giáo triều Gioan Phaolô II là giáo triều huy hoàng
nhất lịch sử Giáo Hội Công giáo, chẳng khác nào như Chúa Kitô
tiến vào thành thánh Giêrusalem, thì vị giáo hoàng sau ngài sẽ
là vị giáo hoàng của Bữa Tiệc Ly (có thể đó là lý do Năm Thánh
Thể chưa kết thúc, liên quan đến Hiệp Nhất Kitô giáo, theo lời
nguyện kết thúc Bữa Tiệc Ly của Chúa Kitô), vị giáo hoàng của
Vườn Nhiệt (với những nhức nhối nội bộ) và của Khổ Nạn (gây ra
bởi cả dân Chúa lẫn thế giới). Vị tân giáo hoàng có thể là vị
hồng y trong mật nghị hồng y ngày 21/10/2003, một mật nghị chọn
tuyển các tân hồng y sau khi ngài trả lời một vị giám mục Á Căn
Đình ngày 12/2/2002 rằng người kế vị ngài chưa làm hồng y.
“Chính
vì vị tân giáo hoàng có thể là vị giáo hoàng nội tâm, vị giáo
hoàng hiệp nhất, vị giáo hoàng khổ đau, mà Sứ Điệp Lễ Chúa Tình
Thương ngày 3/4/2005, sứ điệp cuối cùng của giáo triều dài 9664
ngay này chính là di chúc hay ước nguyện cuối cùng ĐTC GPII thực
sự muốn để lại cho cả Giáo Hội lẫn toàn thể nhân loại, ‘một nhân
loại’, như ngài nói trong sứ điệp, ‘có những lúc dường như bị
lạc mất và bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, cái tôi và sợ hãi’,
đó là, như ngài cũng cảm nhận trong sứ điệp, ‘thế giới này cần
phải hiểu biết và chấp nhận Lòng Thương Xót Chúa biết bao!’ Thế
nhưng, để được như vậy, để nhân loại có thể ‘chấp nhận Lòng Thương
Xót Chúa’, Giáo Hội nói chung và vị tân giáo hoàng nói riêng,
phải trở thành Tông Đồ của Lòng Thương Xót Chúa, nhờ ‘việc’ được
ngài khẳng định là ‘chiêm ngưỡng mầu nhiệm vĩ đại của tình yêu
nhân hậu xuất phát từ thánh tâm Chúa Giêsu này bằng ánh mắt của
Mẹ Maria’.
“Nếu
thực sự vị tân giáo hoàng là vị giáo hoàng của nội tâm, của hiệp
nhất và khổ đau, thì vị ấy có thể là một vị hồng y thuộc một dòng
tu, như dòng Phanxicô, con cái của Thánh Phanxicô khó khăn, vị
thánh nội tâm sâu xa, vị thánh của hòa bình và hiệp nhất, vị thánh
đã được đức cố Gioan Phaolô II hết sức ngưỡng mộ, đến nỗi vừa
lên đăng quang giáo hoàng (22/10/1978) ngài đã đến thăm Assisi
(5/11/1978) và tổ chức những Cuộc Liên Tôn Cầu Nguyện Cho Hòa
Bình Thế Giời ở đây vào những ngày 27/10/1986, 9-10/1/1993, và
24/1/2004.
“Chúng
ta hãy cầu nguyện cho cuộc mật nghị hồng y bầu tân giáo hoàng
và cầu nguyện cho vị được Thiên Chúa tuyển chọn từ muôn thuở để
thay Người dẫn dắt đàn chiên của Người cho đến khi Người lại đến”.
Ở đây, nếu phân tích kỹ, chúng ta thấy có 3 điểm chính yếu được
nhấn mạnh là, thứ nhất, vị tân giáo hoàng vẫn còn ở Âu Châu, thứ
hai, Âu Châu cần phải thực sự trở thành một Khối Hiệp Nhất Âu
Châu về tôn giáo, và vị tân giáo hoàng sẽ là vị đi sâu vào chiều
hướng ‘duc in altum’ nội tâm của một dòng khổ tu.
(còn
tiếp)
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL - Thoidiemmaria.net
|
|