Thứ Hai, 20/8/2007

 
 

 

Tông Huấn Evangelii Nuntiandi của Đức Thánh Cha Phaolô VI: VI - CÁC NHÂN VIÊN CỦA VIỆC TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM HÓA (59-66)

59.  Toàn Thể Giáo Hội là Truyền Giáo

Nếu con người loan báo trên thế giới này Phúc Âm cứu độ, thì họ làm như thế theo lệnh của, nhân danh của và với ơn của Chúa Kitô Cứu Thế. “Không thể nào có người rao giảng nếu họ không được sai đi” (Rm.10:15), vị được cho là nhà truyền bá phúc âm hóa vĩ đại nhất đã viết như thế. Không ai có thể làm điều ấy nếu họ không được sai đi.

Thế nhưng, vậy ai là người có sứ mạng thực hiện việc truyền bá phúc âm hóa?

Công Đồng Chung Vaticanô II đã trả lời vấn nạn này một cách rõ ràng: đó là, Giáo Hội “theo lệnh truyền thần linh, có nhiệm vụ ra đi khắp thế gian rao giảng phúc âm cho mọi tạo vật” (Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo Dignitaties Humanae, đoạn 13: AAS 58 – 1966 – p.939; xem Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen Gentium, đoạn 5: AAS 57 – 1965 – pp.7-8; Sắc Lệnh về Hoạt Động Truyền Giáo của Giáo Hội Ad Gentes, đoạn 1: AAS 58 – 1966 – 947). Ở một đoạn văn khác, “... toàn thể Giáo Hội là truyền giáo, và công việc truyền bá phúc âm hóa là nhiệm vụ căn bản của Dân Chúa” (Sắc Lệnh về Hoạt Động Truyền Giáo của Giáo Hội Ad Gentes, đoạn 35: AAS 58 – 1966 – 983).

Chúng ta đã đề cập đến mối liên kết sâu xa này giữa Giáo Hội và việc truyền bá phúc âm hóa. Trong khi loan báo vương quốc của Thiên Chúa và xây dựng vương quốc này, Giáo Hội hình thành chính mình giữa lòng thế giới như một dấu hiệu và là một dụng cụ của vương quốc đang trị đến và sẽ trị đến này. Công Đồng Chung Vaticanô II lập lại lời diễn tả sau đây của Thánh Âu-Quốc-Tinh về hoạt động truyền giáo của 12 Vị: “Họ đã rao giảng lời chân lý và đã làm nẩy sinh ra các Giáo Hội” (Thánh Âu-Quốc-Tinh, Enarratio in Ps 44:23: CCL XXXVIII, p. 510; xem Sắc Lệnh về Hoạt Động Truyền Giáo của Giáo Hội Ad Gentes, đoạn 1: AAS 58 – 1966 – 947).

60.  Tác Động của Giáo Hội

Nhận thấy rằng Giáo Hội đã được sai đi và được lệnh phúc âm hóa thế giới phải làm cho chúng ta ý thức lại hai xác tín. 

Xác tín thứ nhất, đó là: việc truyền bá phúc âm hóa không phải là một tác động cá nhân và là một tác động lẻ loi đối với một ai cả; nó là một tác động có tính cách ăn sâu vào giáo hội. Khi một giảng viên, giáo lý viên hay chủ chiên âm thầm nhất, ở một miền đất xa xăm nhất, rao truyền Phúc Âm, quây quần cộng đoàn nhỏ bé của mình lại hay ban phát các bí tích, cho dù đơn độc một mình, là vị ấy đang thực hiện một tác động có tính cách giáo hội, và tác động của họ nhất định gắn liền với hoạt động truyền bá phúc âm hóa của toàn thể Giáo Hội, bởi những liên hệ về cơ cấu, cũng như bởi những liên hệ vô hình sâu xa trong trật tự của ân sủng nữa. Điều này nói lên rằng, vị ấy tác động không vì sứ vụ qui về cho mình, hay theo cảm hứng cá nhân, mà là hiệp nhất với sứ vụ của Giáo Hội và nhân danh Giáo Hội.

Từ đó mới có niềm xác tín thứ hai: đó là, khi mỗi một người truyền bá phúc âm hóa nhân danh Giáo Hội, một Giáo Hội thực hiện việc này theo lệnh Chúa truyền, thì không có một nhà truyền bá phúc âm hóa nào được nắm chủ quyền tuyệt đối nơi hoạt động truyền bá phúc âm hóa của mình, bằng khả năng phán quyết trong việc làm ấy, theo tiêu chuẩn và những quan điểm cá nhân; họ hành động trong việc hiệp thông với Giáo Hội và với các vị chủ chiên của Giáo Hội.

Chúng ta đã ghi nhận rằng Giáo Hội đang truyền bá phúc âm hóa một cách toàn diện và toàn vẹn. Điều này có nghĩa là, trong toàn thế giới, cũng như ở từng phần thế giới, có sự hiện diện của Giáo Hội, Giáo Hội cảm thấy có trách nhiệm đối với công việc truyền đạt Phúc Âm.

61.  Quan Điểm về Giáo Hội Hoàn Vũ

Đến phần suy niệm này, Chúng Tôi muốn ngưng lại với Qúi huynh và con cái nam nữ ở một vấn đề quan trọng đặc biệt vào lúc này đây. Trong việc cử hành phụng vụ, trong việc làm chứng trước quan quyền và kẻ hành xử, cũng như trong các bản văn hộ giáo của mình, các Kitô hữu tiên khởi lúc nào cũng sẵn sàng cho thấy đức tin sâu xa của mình nơi Giáo Hội, bằng việc diễn tả Giáo Hội như đang lan tràn khắp thế giới. Họ hết sức ý thức được việc họ thuộc về một cộng đồng lớn không bị giới hạn trong không gian và thời gian này: Từ Abel công chính cho tới con người được tuyển chọn cuối cùng (xem Thánh Grêgôry Cả, Homil. in Evangelica 19, 1: PL 76, 1154), “thật sự cho đến tận cùng trái đất” (Acts 1:8; xem Didache 9, 1: Funk, Patres Apostolici 1, 22), “cho đến tận cùng thời gian” (Mt.28:20).

Đó là cách Chúa muốn Giáo Hội của Người phải trở nên: phải trở nên phổ quát, trở nên một cây vĩ đại với cành lá làm tổ trú cho chim trời (x.Mt.13:32), trở thành một màng lưới bắt đủ mọi thứ cá (x.Mt.13:47), hay một mẻ lưới đầy Phêrô kéo lên bắt được 153 con cá lớn (x.Jn.21:11), trở thành một đàn chiên dưới quyền chăn dắt của vị chủ chiên duy nhất (x.Jn.10:1-16). Một Giáo Hội hoàn vũ không giới tuyến hay biên cương bờ cõi, ngoại trừ, tiếc thay, những ai có lòng trí của một con người tội lỗi.

62.  Quan Điểm về Từng Giáo Hội riêng

Tuy nhiên, trong thực hành, Giáo Hội hoàn vũ này lại nhập thể nơi các Giáo Hội riêng, là nơi được làm nên bởi một phần thực sự nhân loại ở đâu đó, nói cùng một ngôn ngữ này nọ, hưởng cùng một văn hóa cha ông để lại, có cùng một vũ trụ quan, cùng một quá trình lịch sử, cùng một hạ tầng lớp nhân loại riêng. Tính cách biết đón nhận sự phong phú nơi từng Giáo Hội riêng biệt tương hợp với tính cách nhậy cảm đặc biệt của con người tân tiến ngày nay.

Chúng ta phải cẩn thận đừng quan niệm Giáo Hội hoàn vũ như là một tổng hợp, hay nói rõ hơn, tương tự như là một liên bang ngoại thường, được làm nên bởi các Giáo Hội riêng biệt khác nhau thực sự. Theo ý Chúa, Giáo Hội phổ quát theo ơn gọi và sứ mệnh của mình, nhưng một khi đâm rễ vào một nền văn hóa nào đó, vào lãnh thổ của một xã hội và nhân loại nào đó, bấy giờ Giáo Hội mặc lấy những thể hiện và hình dáng ngoại tại khác nhau nơi mỗi một miền trên thế giới.

Như thế, nếu mỗi một Giáo Hội riêng tự ý muốn tách mình ra khỏi Giáo Hội hoàn vũ, thì sẽ bị mất đi mối liên hệ với dự án của Thiên Chúa, và sẽ trở thành nghèo nàn về mặt giáo hội của mình. Tuy nhiên, ngược lại, một Giáo Hội toto orbe diffusa (các chữ Latinh đứng sau chữ một Giáo Hội này có thể được tạm dịch thành nguyên câu là một Giáo Hội tràn lan khắp hoàn vũ) sẽ trở thành trừu tượng, nếu Giáo Hội không có một thân thể và sự sống thực sự qua các Giáo Hội riêng. Chỉ khi nào liên tục để ý đến hai cột trụ về Giáo Hội này, chúng ta mới nhận thấy tính cách phong phú của mối liên hệ giữa Giáo Hội hoàn vũ và các Giáo Hội riêng tư.

63.  Tính Cách Thích Ứng và Trung Thực trong Việc Thể Hiện

Các Giáo Hội riêng, được xây dựng nên không phải bởi nhân sự mà còn bởi các khát vọng, bởi cả những gì phong phú lẫn giới hạn, bởi đường lối nguyện cầu, đường lối yêu thương, đường lối nhìn đời và thế giới, là tất cả những gì phân biệt nhóm người này với nhóm người kia, có nhiệm vụ phải đồng hóa và chuyển đạt sứ điệp Phúc Âm, không sai xẩy một chút nào nơi sự thật chính yếu của sứ điệp Phúc Âm ấy, vào ngôn ngữ để dân chúng riêng của mình hiểu được, rồi đem sứ điệp Phúc Âm này loan báo bằng thứ ngôn ngữ ấy.

Việc chuyển đạt phải được thực hiện một cách ý thức, nghiêm cẩn, tôn trọng và đầy đủ, một việc chuyển đạt cần thiết cho lãnh vực cử hành phụng vụ (xem Công Đồng Chung Vaticanô II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, đoạn 37-38: AAS 56 (1964), p.110; cũng xin xem các sách về phụng vụ và các văn kiện hậu công đồng do Tòa Thánh ban bố để áp dụng thực hành việc canh tân phụng vụ theo ý của Công Đồng), cũng cần thiết cho cả lãnh vực giáo lý, cho việc diễn đạt về thần học, cho các cơ cấu hạ tầng giáo hội, và cho các thừa tác vụ. Chữ “ngôn ngữ” ở đây phải hiểu theo nghĩa được người ta gọi là nhân chủng học và văn hóa hơn là theo chữ nghĩa.

Chắc chắn đây là một vấn đề tinh tế. Viêïc truyền bá phúc âm hóa sẽ mất đi công sức và hiệu lực của mình, nếu việc này không để ý đến thành phần dân chúng thực tế được nhắm tới, nếu việc này không sử dụng đến ngôn ngữ của họ, dấu hiệu và biểu hiệu của họ, nếu việc này không giải đáp nổi những vấn đề họ nêu lên, và nếu việc này không tác dụng nơi đời sống thực tiễn. Thế nhưng, ngược lại, việc truyền bá phúc âm hóa cũng sẽ gặp cơ nguy mất đi năng lực của mình và hoàn toàn bị biến mất, nếu người ta làm trống rỗng hay nghèo nàn nội dung của việc này, bằng việc chuyển dịch nó; nghĩa là, nếu người ta hy sinh thực tại này và hủy hoại tính cách hiệp nhất không thể thiếu để làm nên mối hiệp nhất, chỉ vì muốn thích ứng thực tại phổ quát này với hoàn cảnh địa phương. Thế nên, chỉ có Giáo Hội, một Giáo Hội bảo trì nhận thức về tính cách phổ quát của mình và tỏ ra mình thực sự phổ quát, mới có thể làm cho mọi người, bất kể biên cương bờ cõi, nghe thấy được sứ điệp của mình.

Việc chú ý hợp tình hợp lý đến các Giáo Hội riêng không thể không làm cho Giáo Hội thăng tiến. Việc chú ý như vậy là một việc không thể thiếu và là một việc khẩn thiết. Nó đáp ứng những khát vọng rất sâu xa của các dân cũng như của các cộng đồng nhân loại, trong việc tìm kiếm căn tính của mình cho càng ngày càng sáng tỏ hơn.

64.  Cởi Mở với Giáo Hội Hoàn Vũ

Thế nhưng, việc làm cho mình nên phong phú này đòi hỏi các Giáo Hội riêng phải hết sức cởi mở đối với Giáo Hội hoàn vũ. Ngoài ra, cũng rất đáng chú ý là những Kitô hữu đơn thành nhất, những người trung thành với Phúc Âm nhất và cởi mở nhất trước ý nghĩa đích thực của Giáo Hội, có một cảm nhận hoàn toàn tự nhiên đối với chiều kích hoàn vũ. Họ cảm thấy một cách tự nhiên và hết sức mạnh mẽ cần đến chiều kích này. Họ cảm được theo chiều kích này, và họ cảm thấy hết sức đau khổ khi họ bị bắt buộc, bởi một mớ lý thuyết họ không hiểu nổi, phải chấp nhận việc một Giáo Hội bị tước đoạt mất tính cách hoàn vũ này, phải chấp nhận một Giáo Hội theo khu vực, không còn thấy đâu là chân trời.

Như lịch sử đã thật sự cho thấy, khi một Giáo Hội riêng tự tách mình khỏi Giáo Hội hoàn vũ, cũng là tách khỏi trung tâm sống động hữu hình của mình – đôi khi với những chủ ý rất tốt, với những lý luận về thần học, xã hội học, chính trị hay mục vụ, thậm chí với ý muốn được tự do thoải mái sinh hoạt hay hoạt động – thì Giáo Hội này cũng rất khó lòng tránh được (nếu thật sự đã tránh được) hai nguy hiểm trầm trọng ngang nhau. Nguy hiểm thứ nhất, đó là Giáo Hội ấy sống trong tình trạng cô lập suy tàn, để rồi, chẳng bao lâu, sẽ bị phân tán mỏng thành từng phần nhỏ, như chính Giáo Hội ấy tách rời khỏi tâm điểm của mình vậy. Nguy hiểm thứ hai đó là Giáo Hội ấy bị mất đi tự do của mình, bởi vì, khi bị tách lìa khỏi tâm điểm cũng như khỏi các Giáo Hội khác là nơi vốn hiến cho Giáo Hội ấy sức mạnh và nghị lực, Giáo Hội ấy sẽ thấy mình hoàn toàn bị lẻ loi, để rồi trở thành miếng mồi ngon cho rất nhiều áp lực nô lệ và khai thác.

Một Giáo Hội riêng càng gắn bó với Giáo Hội hoàn vũ bằng mối giây hiệp thông, bằng tấm lòng yêu thương và trung thành, bằng việc tiếp nhận Huấn Quyền Phêrô, bằng mối hiệp nhất theo lex orandi (qui luật cầu nguyện) cũng là lex credendi (qui luật tin tưởng), bằng lòng mong ước hiệp nhất với tất cả mọi Giáo Hội khác làm nên toàn khối – thì Giáo Hội ấy càng có khả năng truyền đạt kho tàng đức tin tới những thể hiện hợp pháp khác nhau của việc tuyên xưng đức tin, của việc nguyện cầu và phụng tự, của đời sống và tác hành Kitô hữu, cũng như của các ảnh hưởng thiêng liêng tác động nơi những người chung quanh mình. Giáo Hội ấy cũng càng thực sự thực hiện việc truyền bá phúc âm hóa, tức là, càng có khả năng rút lấy gia sản chung để làm lợi cho người của mình, và càng có khả năng thông đạt cho Giáo Hội hoàn vũ kinh nghiệm và đời sống, từ các người của mình cho lợi ích của mọi người.

65.  Kho Tàng Đức Tin Bất Khả Dịch

Theo đúng chiều hướng này, khi kết thúc cuộc Thượng Hội Giám Mục, với đầy tình cảm mến cha con, Chúng Tôi đã nói rõ ràng khi nhấn mạnh đến vai trò của Vị Thừa Kế Thánh Phêrô như là một yếu tố hữu hình, sống động và kết cấu của mối hiệp nhất giữa các Giáo Hội, và do đó cũng là yếu tố cho tính cách đại đồng của một Giáo Hội duy nhất (ĐTC Phaolô VI, Diễn Từ kết thúc Thượng Hội Giám Mục Thế Giới Lần 3, 26/10/1974: AAS 66 – 1974 – p. 636). Chúng Tôi cũng nhấn mạnh đến trách nhiệm nặng nề Chúng Tôi phải nắm giữ, nhưng cũng là trách nhiệm Chúng Tôi chia sẻ với Quí Huynh trong Hàng Giáo Phẩm, về việc bảo trì vững vàng nội dung của đức tin Công Giáo đã được Chúa ký thác cho các vị tông đồ. Nội dung này, trong khi được biểu lộ ra dưới mọi hình thức, cũng không bị hư hại hay hủy hoại. Trong khi được thể hiện bằng những hình thức bề ngoài, là những gì liên quan đến môi trường văn hóa, xã hội và ngay cả chủng tộc khác nhau, nó vẫn phải là nội dung của đức tin Công Giáo đúng như huấn quyền hội thánh đã lãnh nhận và truyền đạt.

66.  Những Công Việc Khác Nhau

Thế nên, cả Giáo Hội được kêu gọi để truyền bá phúc âm hóa, song trong nội bộ, chúng ta có những việc truyền bá phúc âm hóa cần phải hoàn thành. Tính cách đa diện của những việc làm trong mối hiệp nhất của cùng một sứ mệnh đã làm nên tình trạng phong phú và vẻ đẹp của việc truyền bá phúc âm hóa. Chúng tôi sẽ tóm tắt nhắc lại đây những việc làm này.

Trước hết, Chúng Tôi muốn chỉ cho thấy trong các trang Phúc Âm, Chúa liên tục trao phó cho các vị tông đồ công việc loan báo Lời Chúa. Người đã chọn các vị (x. Jn.15:16; Mk.3:13-19; Lk.6:13-16), đã huấn luyện các vị trong mấy năm của nhóm người tình nghĩa này (x. Acts 1:21-22), đã thiết lập các vị (x.Mk.3:14) và đã sai các vị đi (x. Mk.3:14-15; Lk.9:2), như những chứng nhân có uy thế và là những thày dạy sứ điệp cứu độ. Thế rồi, đến phiên mình, các tông đồ cũng sai các người thừa kế của các vị theo truyền thống tông đồ ra đi để tiếp tục rao giảng Tin Mừng.

(còn tiếp)

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch  - Thoidiemmaria.net

 

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)