|
“Nếu chúng ta muốn làm cho cuộc phát triển khả trợ trở thành một thực tại vững chắc lâu dài thì chúng ta cần phải kiến tạo một nền kinh tế thực sự khả trợ”
ĐTGM Celestino Migliore Đại Diện Tòa Thánh ở Liên Hiệp Quốc Nữu Ước Hoa Kỳ với Hội Nghị ngày 25/10/2006 với đệ nhị tiểu ban của khóa họp thứ 61 của Tổng Hội Đồng LHQ về vấn đề phát triển khả thủ và môi sinh.
Thưa Bà Trưởng Ban,
Nếu chúng ta muốn làm cho cuộc phát triển khả trợ trở thành một thực tại vững chắc lâu dài thì chúng ta cần phải kiến tạo một nền kinh tế thực sự khả trợ.
Ngay cả trong bối cảnh của việc chuyển tiếp và trưởng thành nhanh chóng của mình, nền kinh tế của chúng ta tiếp tục chính yếu dựa vào mối liên hệ của nó với thiên nhiên. Hạ tầng bất khả thiếu của nó là đất, nước và khí hậu, và vấn đề mau chóng trở nên sáng tỏ hơn bao giờ hết là nếu những thứ ấy, những hệ thống trợ sinh của thế giới ấy, mà bị hư hoại hay bị phá hoại bất khả chữa trị thì sẽ chẳng có một thứ kinh tế có thể tồn tại đối với bất kể một ai trong chúng ta. Bởi thế, thay vì đứng ngoài hay loại trừ kinh tế, các nhà lập pháp cần phải hiểu những mối quan tâm về môi trường như là những gì nền tảng chống đỡ tất cả mọi hoạt động về kinh tế – thậm chí về cả con người nữa.
Đó là lý do tại sao việc hoàn thành những quyết tâm cho những trụ cột phát triển về kinh tế, môi trường và xã hội của Thượng Nghị Về Trái Đất năm 1992 là đáp ứng rất tối thiểu cần có hiện nay đối với các quốc gia và tất cả mọi diễn viên liên quan tới môi trường. Các hậu quả về môi trường gây ra bởi hoạt động kinh tế của chúng ta hiện nay là một trong những vấn đề ưu tiên đệ nhất của thế giới.
Vấn đề môi trường chẳng những là một vấn đề quan trọng về đạo đức và khoa học mà còn là một vấn đề về chính trị và kinh tế nữa, và là một cái xương của việc cạnh tranh trong tiến trình toàn cầu hóa nói chung. Nó không những nhắm đến việc hội nhập việc phát triển khả trợ vào các chương trình giảm nghèo và phát triển, mà còn phản ảnh c ác mối bận tâm cùng những vấn đề về môi trường nơi những sách lược an ninh , cũng như nơi những vấn đề về phát triển và nhân đạo ở các cấp quốc gia, miền và quốc tế. Tóm lại, thế giới cần một cuộc hoán cải môi sinh để cẩn thận cứu xét tới những mẫu tư tưởng hiện tại, cũng như những mẫu sản xuất và tiêu thụ.
Bởi thế, đại biểu tôi đây hoan hô sự tiến bộ được đề cập tới về vấn đề áp dụng thực hành Chương Trình Hành Động 21, những Chương Trình Áp Dụng Thực Hành Hơn Nữa Hoạch Trình 21 cùng những thành quả của Thượng Nghị Thế Giới về Vấn Đề Phát Triển Khả Trợ, ở bản tường trình của vị tổng thư ký LHQ giờ đây đang có trong tay của Tiểu Ban này. Việc nhấn mạnh hơn nữa tới năng lượng có thể đổi mới, những thứ kỹ thuật về khí đốt và làm sạch, và việc chính ngạch hóa các sách lược phát triển khả trợ của quốc gia vào việc thiết lập chính sách dường như đã nhúc nhích, mặc dù tất cả mọi diễn viên, bắt đầu là các quốc gia, cần phải thực hiện nhiều hơn nữa để ngăn chặn và lật ngược chiều hướng trong vấn đề tiêu thụ và phóng uế.
Cả hai Thượng Nghị G-8 năm 2005 và 2006 đã chú trọng nhiều tới năng lượng cần thiết cho việc phát triển khả trợ cũng như tới việc thay đổi khí hậu và việc phát triển kỹ nghệ cũng như vấn đề phóng uế bầu khí quyển. Những hiện tượng này có một ảnh hưởng hiển nhiên về môi trường, sâu xa tác dụng tới nền an ninh của quốc gia và quốc tế, cũng như đến khả năng của cộng đồng quốc tế trong việc đạt tới các mục tiêu phát triển ngàn năm MDGs. Cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục sâu xa hiểu biết những mối liên hệ giữa hòa bình và vấn đề phát triển nhân bản, nhất là ở các nơi nghèo nhất với khả năng kém thích ứng.
Đối với việc áp dụng thực hành những công ước khác nhau về môi trường của LHQ, đại biểu tôi cũng hoan nghênh cái động lực có được từ Những Hiệp Ước Marrakesh, nhờ đó làm cho Nghị Định Kyoto được trọn vẹn hoạt động. Tòa Thánh hy vọng rằng những cơ hội như thế là những gì thuận lợi cho việc áp dụng một sách lược về năng lượng có tính cách vừa toàn cầu vừa chung nhau lâu dài, có khả năng đáp ứng những nhu cầu năng lượng toàn cầu ngắn hạn và dài hạn, bảo về sức khỏe của con người và môi trường, và thiết lập những việc dấn thân thực sự có thể hiệu nghiệm đương đầu với vấn đề thay đổi khí hậu.
Trong khi đó, nếu những thứ khí đốt dưới lòng đất đang thuộc về chúng ta cho một ‘tương lai khả đoán’, và nếu các quốc gia đang lệ thuộc vào ‘giải pháp lai ghép hỗn hợp năng lực’, như vị tổng thư ký đề nghị, thì việc đầu tư chung thật sự vào kỹ thuật làm sạch là những gì cần phải kèm theo tính cách thực dụng này như là một yếu tố khẩn trương của những sách lược quốc gia và quốc tế, trong việc giảm thiểu nhanh bao nhiêu có thể tầm ảnh hưởng của tình trạng phóng uế gây ra từ việc di chuyển trên không và dưới biển, cũng như việc những lãnh vực này tiếp tục sử dụng thứ kỹ thuật cổ hủ. Sự tiến bộ đang đạt được một cách chầm chậm nơi các thứ kỹ thuật làm sạch ở các lãnh vực khác, bao gồm thậm chí cả lãnh vực di chuyển của xe hơi. Thế nhưng, đã đến lúc thực hiện việc đầu tư chính yếu vào những kỹ thuật làm cho việc di chuyển trên không và dưới biển được sạch hơn trước khi vấn đề cân bằng về môi sinh bị nghiêng ngả vì thái độ coi thường đáng trách.
Về vấn đề nước nôi, Bản Tường Trình Phát Triển Nước Trên Thế Giới thứ hai của LHQ đã cho thấy rằng vấn đề chính yếu làm ngăn trở việc hoàn thành những đòi hỏi về nước không phải là vì tình trạng thiếu lượng nước cho nhu cầu của con người mà là thiếu việc quản trị những nguồn nước, nhất là những vấn đề về điều hành, hạ tầng cơ sở, kỹ thuật và tài trợ. Việc cai quản những nguồn nước cần phải được dựa vào việc áp dụng thi hành nguyên tắc trách nhiệm chung của tầm cấp quốc tế, chú trọng đặc biệt tới nguyên tắc phụ trợ, một nguyên tắc cần đến sự tham dự của các cộng đồng địa phương trong tiến trình quyết định.
Về một đề tài liên hệ, LHQ đã ấn định năm 2006 là Năm Quốc Tế về Các Sa Mạc và Tình Trạng Hoang Vu Hóa, chắc chắn là một trong những tiến trình lo ngại nhất của tình trạng suy thoái môi trường, kèm theo một ảnh hưởng tiêu cực mạnh mẽ chẳng những trên môi trường mà còn ở các lãnh vực về kinh tế và xã hội nữa. Việc hoang vu hóa và hạn hán giờ đây đang ảnh hưởng tới trên một phần sáu dân chúng trên thế giới. Cộng đồng quốc tế cần phải thực hiện những hành động cụ thể để đảo ngược những hiện tượng báo động này bằng những đáp ứng có tính cách hợp tác quốc tế.
Sau hết, thành phần sống ở làng mạc, nơi chi phối ¾ số người đói khổ, đang bị suy thoái hơn bao giờ hết. Những nhận định của Hội Nghị Quốc Tế Về Việc Cải Cách Canh Nông Và Phát Triển Nông Thôn ở Porto Alegre vào đầu năm nay đã có lý nhấn mạnh tới tầm quan trọng của vai trò cải cách nông nghiệp và phát triển nông thôn để chiến đấu với tình trạng đói khổ và nghèo khổ, để cổ võ việc phát triển khả trợ và sự an toàn về lương thực, để bảo toàn việc cổ võ nhân quyền, cũng như để chiếm đạt những mục tiêu phát triển ngàn năm MDGs. Các nhà lập pháp không thể nào tiếp tục coi thế giới nông thôn như là một thứ thường hạng.
Xin cám ơn Bà Trưởng Ban
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 26/10/2006 - Thoidiemmaria.net
|